Xã hội Trung Quốc ngày nay: Toàn dân nói dối và tập thể im lặng

Giúp NTDVN sửa lỗi

Nếu nói dối của ĐCSTQ là bản chất cố hữu và không thể thay đổi, thì việc nói dối phổ biến trong dân chúng là do nền văn hóa nói dối và chuyên chế của ĐCSTQ tạo thành, có liên quan mật thiết đến môi trường xã hội đặc biệt của Trung Quốc.

Từ xưa tới nay, ở trong và ngoài nước, việc không nói dối được xem như giới hạn cơ bản và là ý thức chung trong tiêu chuẩn làm người. Trong quan niệm truyền thống, Đạo gia giảng làm chân nhân, Phật gia giảng người xuất gia không nói dối, Nho gia giảng về chữ Tín. Tất cả đều cho rằng nói dối là sai, là xấu. Khổng Tử coi "nhân - nghĩa - lễ - trí - tín” là ngũ thường. Trong đó, sự thành tín giữa người với người là một trong những mỹ đức quan trọng nhất của con người.

Đạo lý đối với việc trị quốc cũng như vậy. Tử Cống, một học trò của Khổng Tử, đã từng thỉnh giáo thầy về cách trị quốc. Khổng Tử nói: "Thứ nhất là cho dân có cơm no, áo ấm; thứ hai là quốc gia có quân đội hùng mạnh; thứ ba là có được lòng tin của người dân". 

Tử Cống hỏi: "Nếu buộc phải bỏ một điều thì nên bỏ cái nào trước?". 

Khổng Tử nói: "Bỏ quân đội". 

Tử Cống lại hỏi: “Nếu bỏ một điều nữa thì sao?". 

Khổng Tử trả lời: “Bỏ cơm ăn áo mặc, thà không đủ ăn, nhưng cần phải giữ được chữ tín. Nếu không được người dân tín nhiệm thì nước nhà sớm muộn cũng diệt vong".

Tất nhiên, ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng có người nói dối, nhưng ở hầu hết các quốc gia, cơ chế của toàn xã hội dựa trên cơ sở thành tín,  coi trọng chữ tín là vốn liếng mà một người có thể đứng vững lâu dài trong xã hội.


Tuy nhiên, dưới sự thống trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), ở Trung Quốc lời nói dối lại trở thành “cái gốc lập quốc", toàn xã hội dựa vào nói dối để chèo chống, nói dối trở thành kỹ năng cơ bản để mọi người sinh tồn trong xã hội. Không chỉ người đương quyền nói dối liên tục, mà ngay cả dân thường cũng theo phong trào nói dối. Nói cách khác, “văn hóa nói dối” không chỉ làm ĐCSTQ thực sự trở thành “đảng nói dối”, mà còn làm người dân Trung Quốc biến thành nhóm “quốc dân nói dối” đích thực. Từ đó hình thành một cảnh hiếm thấy là toàn dân nói dối.

Nếu nói dối của ĐCSTQ là bản chất cố hữu và không thể thay đổi, thì việc nói dối phổ biến trong dân chúng là do nền văn hóa nói dối và chuyên chế của ĐCSTQ tạo thành, có liên quan mật thiết đến môi trường xã hội đặc biệt của Trung Quốc.

Thói quen nói dối của người Trung Quốc trước hết phải được “quy” cho tấm gương đi đầu của ĐCSTQ. Như có câu nói, "Thượng bất chính, hạ tắc loạn". Người cai trị như thế nào sẽ có người dân như thế. Trong mắt người dân, người thống trị không chỉ là người nắm quyền lực quốc gia, mà còn là hình mẫu đạo đức cho quốc gia. Ngày nay, ĐCSTQ, lãnh đạo đất nước, đi đầu trong việc lừa đảo,  khi nói dối không thấy xấu hổ, mà còn tự hào, thì tại sao người dân phải xem nói dối là việc gì ghê gớm! Kết quả là, giới hạn đạo đức giúp người Trung Quốc ước thúc không nói dối đã bị sụp đổ. Đối với việc nói dối, người dân không còn kiêng nể gì.

Việc nói dối trở thành phổ biến của người dân đại lục cũng bắt nguồn từ sự đe dọa và dụ dỗ của ĐCSTQ.

Lãnh đạo cấp cao ĐCSTQ không chỉ dẫn đầu thao thao bất tuyệt những lời nói dối mà còn một tay cầm dao sắc lạnh, một tay cầm chiếc bánh hấp dẫn, liên tục hướng dẫn những người bên dưới nói như thế nào. Được một lúc, lại cầm con dao lớn trong tay nói với người dân: “Ai trong các người dám nói thật, ta sẽ chặt đầu!”. Một lúc sau, họ lại giơ chiếc bánh ra dụ dỗ người dân: “Chỉ cần nói theo lời ta. Ta nói gì cứ nói theo, ta sẽ thưởng chiếc bánh trên tay". 

Ban đầu, một số người táo bạo nói ra suy nghĩ của mình, thậm chí tranh cãi với các quan chức. Kết quả, người nào nhẹ thì bị chỉ trích, cắt lương, khai trừ, người nặng thì bị vào tù, mất đầu. Sau khi diễn vở kịch giết gà dọa khỉ vài lần, lập tức sẽ có tác dụng tức thì và hiệu quả rõ rệt. Mặc dù, ban đầu hầu hết mọi người đều muốn nói sự thật, nhưng rốt cuộc khả năng chống cự cũng có hạn. Nhìn thấy cảnh này, đành phải nhao nhao làm trái lương tâm, đi theo ĐCSTQ nói dối. Kết quả là không những không ai bị phạt mà còn được thưởng cho việc "nói hay". Một số rất ít người hợm hĩnh quen ăn nói hùng hồn, cứ có lợi cho mình thì nói, không quan trọng nói thật hay nói dối. Tất nhiên trong trường hợp này, họ vội vàng nói dối và cố gắng thể hiện mình trước những người nắm quyền. Lâu dần, không còn ai dám nói sự thật nữa.

Sau đó, dưới bầu không khí như thế, ngày này qua ngày khác, thói quen đã trở thành tự nhiên, và hầu hết mọi người dần dần không còn muốn nói ra sự thật nữa. Những người nói dối lòng mình vẫn tự trách bản thân và cảm thấy bất an. Nhưng dần dần, mọi người, ngay cả sự tự trách và lo lắng ban đầu đã không còn nữa. Đối với họ, nói dối để tự cứu mình không còn là điều đáng xấu hổ mà là điều dễ hiểu và thông cảm, thậm chí là chính đáng. Nói dối đối với họ đã trở thành một hành vi bản năng mà không có cảm giác tội lỗi và không cần lý do. Chỉ cần nó có lợi cho tôi, tôi không quan tâm đến điều đó. Tôi không sợ mọi thứ. Tôi có thể làm theo bất kỳ lời nói dối nào và nói một cách bình tĩnh... 

Vì vậy, việc dùng lời nói dối để đổi lấy lợi ích của bản thân đã trở thành một hiện tượng phổ biến, không chỉ mở miệng là nói dối, mà khi nói dối còn nghĩ cách làm sao để lấp liếm, che đậy lời nói dối. Những người thà hy sinh lợi ích sống còn của mình vì lương tâm và nhất quyết nói ra sự thật bị họ coi là "kẻ ngu" và "kẻ mất trí". Hơn nữa, một số người cuối cùng còn biến dị tới thật giả điên đảo, coi dối trá là sự thật và sự thật là dối trá, thậm chí còn tích cực tham gia vào đàn áp số ít những người kiên trì nói  sự thật, trở thành những kẻ dối trá một cách tự nguyện. Như nhà triết gia Alexandre Soljenitsyne đã từng nói: “Khi lời nói dối trở thành tiêu chuẩn, chính lời nói dối đã bị lừa”. Bởi vì khi mọi thứ đều là dối trá thì không còn lời nói dối nữa.

Ngày nay, nhiều người không chỉ cùng những người nắm quyền nói dối, không chỉ lặp lại một cách thụ động những lời nói dối của những người nắm quyền, mà họ còn mở "cửa hàng nói dối" của riêng mình. Họ học theo ĐCSTQ và thi nhau xuất bản những lời nói dối của chính mình. Nếu trước đây họ chỉ bị ĐCSTQ lừa dối, thì bây giờ họ đã bắt đầu dám lừa dối “Đảng thân yêu” và đồng bào của họ. Giống như câu ca dao: thôn lừa xã, xã lừa huyện, lừa cho đến chính phủ. Bạn nói dối, và tôi cũng nói dối. Bất cứ khi nào bạn nói dối, nó đều được tính. Khắp các con phố là những quảng cáo giả tạo, những sản phẩm giả và kém chất lượng tràn ngập khắp mọi nơi trên thị trường, muôn hình muôn vẻ các trong các doanh nghiệp và những lời hoa mỹ của những kẻ lừa đảo — đó chẳng phải đúng là một tuyệt tác!

Cứ như vậy, từ nói thật chuyển sang nói dối, từ thụ động nói dối sang chủ động nói dối, từ lương tâm bất an trở nên thanh thản nói dối, từ bị kẻ có quyền lừa gạt đến lần lượt lừa kẻ có quyền và đồng bào của mình. Nói dối dần phát triển thành thói quen và cách sống của người dân, và trở thành chỗ dựa của xã hội chúng ta.

Điều này tất nhiên thật đáng buồn, nhưng hợp logic. Hãy tưởng tượng rằng khi người đứng đầu cai trị một đất nước đi đầu trong việc nói dối, những người thường dân không thể tồn tại nếu không nói dối. Nói dối không những có thể bảo vệ bản thân mà còn thu được nhiều lợi ích khác, và càng nói dối thì lợi ích càng lớn. Làm thế nào để đất nước này không trở thành một "quốc gia nói dối", và làm thế nào để người dân đất nước này không trở thành "quốc dân nói dối"? !

Dưới sự kiểm soát và thâm nhập hoàn toàn của văn hóa nói dối, Trung Quốc ngày nay đã hình thành một bối cảnh xã hội độc đáo: ở nơi công cộng, cả những người nắm quyền và những người bình thường đều nói dối một cách không kiêng dè, mọi người trong lòng đều biết rõ, lại còn hiểu ngầm với nhau. Không ai cho rằng chuyện này là bất thường, và cũng không ai dám nói thẳng. Đối mặt với những giả dối tràn lan khắp nơi, mọi người dường như đã đạt được một “quy tắc ngầm”, cùng nhau im lặng tập thể. Ai dám vi phạm quy tắc này sẽ bị đại đa số người dân lên án, chỉ trích.

Nếu quan sát kỹ, bạn sẽ thấy rằng sự im lặng tập thể này thực sự dựa trên sự trao đổi rõ ràng giữa những người nắm quyền và những người dân thường. Đối với người dân, nói dối phụ họa theo các quan chức để có được khẩu phần ăn, tiền lương, tương lai, v.v. mà họ muốn; đối với những người nắm quyền, là để trao đổi lợi ích của người dân để lấy sự phục tùng, thần phục.

Đối với cuộc trao đổi trên, nhà bất đồng chính kiến ​​người Séc và là nhà viết kịch Havel đã đưa ra một phân tích sâu sắc trong "Sức mạnh của người không quyền lực". Ông kể rằng vào thời Cộng sản Séc, một người quản lý nọ đã dán một khẩu hiệu trên cửa sổ cửa hàng rau của ông: “Những người vô sản trên thế giới đoàn kết lại!” Tại sao ông lại làm điều này? Havel tin rằng hầu hết các quản lý nhà hàng không quan tâm đến ý nghĩa của khẩu hiệu. Khẩu hiệu này được gửi đi từ bên trên xuống và những người quản lý chỉ tuân theo yêu cầu dán chúng lên để thể hiện sự phục tùng. ĐCSTQ cũng không coi trọng hành vi của người quản lý khi hỏi về nội dung của khẩu hiệu. Họ đánh giá cao việc đăng khẩu hiệu vì hình thức này đã chứng minh rằng họ "chỉ biết vâng lời" và bạn tuân theo quyền uy của đảng. Trong cuộc "trao đổi" ngầm này, người quản lý cửa hàng đã sử dụng những lời nói dối miễn cưỡng để chà đạp lên sự tôn nghiêm của chính mình; và sau đó là giúp chế độ củng cố hệ thống dối trá được thể hiện bằng khẩu hiệu.

Minh An

Theo Viên Bân - Epoch Times



BÀI CHỌN LỌC

Xã hội Trung Quốc ngày nay: Toàn dân nói dối và tập thể im lặng