Vua Lê Thánh Tông và những giai thoại tu thân, tề gia, trị quốc (Phần 1)

Bình luận Minh Bảo • 16:00, 01/09/20

May mắn thay những tư tưởng và bài học này vẫn còn lưu lại trong lịch sử để ngày nay chúng ta có thể hình dung được phong thái của một bậc thiên tử chân chính là như thế nào.

Thánh Tông Thuần Hoàng Đế Lê Tư Thành là bậc minh quân số một trong lịch sử Việt Nam. Thời Ngài trị vì đã đưa Đại Việt trở thành bá chủ khu vực Đông Nam Á, khiến cả Trung Hoa cũng phải nể phục, các nước lân bang đều bị chấn nhiếp. Ngoài tài năng trị quốc bẩm sinh thì thành công đó còn đến từ sự áp dụng hoàn hảo hệ tư tưởng trị quốc của Nho giáo vào tình hình nước ta. Đây cũng là một minh chứng tuyệt vời của những lý thuyết Tu Tề Trị Bình trên thực tế, vốn đã từng thành công trước đây vào thời Lý Trần nay lại quật khởi lần nữa sau những năm dài đô hộ đen tối. May mắn thay những tư tưởng và bài học này vẫn còn lưu lại trong lịch sử để ngày nay chúng ta có thể hình dung được phong thái của một bậc thiên tử chân chính là như thế nào.

Đức khiêm cung của một vị hoàng đế

Nho giáo đề xuất tu thân, coi việc tu dưỡng bản thân là điều kiện quan trọng trước cả việc trị quốc. Trong việc tu thân thì đức tính khiêm cung có thể nói là rất khó thực hiện, nhất là với người trên ngôi cửu ngũ chí tôn như hoàng đế.

“Đinh Hợi, [Quang Thuận] năm thứ 8 [1467], (Minh Thành Hóa năm thứ 3) 

Mùa đông tháng 10. Ngày 16, đại thần và các quan dâng biểu xin vua thêm tôn hiệu. Vua phê rằng:

"Trẫm chưa dám nói đến danh hiệu Hoàng đế. Đối với các khanh, trẫm xưng là Hoàng thượng, đối với Thái miếu, trẫm xưng là Tự hoàng, như thế cũng đủ khác với danh hiệu của các thân vương rồi. Những lời ấy, các khanh nên nghĩ lại. Sau này vài năm nữa, nếu thấy trên thì trời thuận, dưới thì dân yên, mưa gió điều hòa, nước lớn thân thiện, nước nhỏ sợ uy, mới có thể bàn đến tôn hiệu. Các khanh nghĩ kỹ lại xem".

Ngày 19, đại thần và các quan văn võ lại dâng, biểu xin thêm tôn hiệu. Tờ biểu viết: Bệ hạ đã lên ngôi chí tôn, nên xưng là Hoàng đế. Vua không nghe.”
(Đại Việt sử ký toàn thư)

Chân dung vua Lê Thánh Tông.
Chân dung vua Lê Thánh Tông. (Ảnh: Wikipedia)

Lời bàn:

Con người ta lắm khi sống ở đời cũng là vì một cái danh hão mà khổ tâm truy cầu mãi. Nhất là khi cái danh đó lại là tôn hiệu Hoàng đế cao quý của thiên hạ. Bao vị vua xưa nay vì thói háo danh mà tự khoác lên mình vô số tôn hiệu hoành tráng, và tạo thành cái cớ cho bề tôi tha hồ tâng bốc nịnh hót. Cái tệ này quả còn xấu hơn tham quan ô lại, Vì họ không quan tâm để biết rằng, tôn hiệu chỉ cao quý khi nó xứng đáng với những thành quả cai trị của một nhà vua có thể làm cho nhân dân no ấm, nước giàu quân mạnh. Nếu không làm được thế thì xưng tôn hiệu có ích gì, chẳng qua lại phí mất bút mực của sử gia, để tiếng cười chê cho hậu thế mà thôi. Những thứ gì như là “Nùng Bình phiên phục” của Lý Thái Tông nhà Lý chẳng đủ nực cười rồi sao. Thế nên với trí tuệ của mình, Lê Thánh Tông dĩ nhiên là sẽ không làm việc vô nghĩa đó vậy. 

Sự bác học đa tài của Lê Thánh Tông

Lê Thánh Tông ngoài tài trị quốc ra còn có rất nhiều tài năng thiên bẩm khác có thể làm kinh ngạc nhiều người vì không nghĩ rằng một vị vua bận rộn chính sự mà lại vẫn có thể học hỏi và có thể lĩnh hội được nhiều kiến thức với độ khó cao như vậy.
“Canh Dần [Hồng Đức] năm thứ 2 [1471], (Minh Thành Hóa năm thứ 6)

Ngày 25 đêm ấy, Đỗ Nhuận hầu trước mặt vua. Nhân nói đến hai chữ "Đạo lý", vua bảo rằng:

"Đạo là việc đương nhiên, rõ ràng dễ hiểu, lý là cớ dĩ nhiên, mầu nhiệm khó thấy. Ta từng làm bài thơ về hai chữ ấy, lâu ngày mới xong".
Nhuận thưa rằng:

"Lý học của đức vua rất sáng tỏ uyên bác; trong chỗ hỗn nhiên mà phân biệt rất rõ ràng, rất tinh vi hàm súc, thể hiện ra ở lời thơ, không phải người học vấn tầm thường có thể mong mà theo kịp được".

Vua lại nói về thiên văn học, chỉ ra rằng sự vận hành của Nhị thập bát tú và Ngũ tinh đều có xâm phạm tới nhau. Nếu sao nọ phạm vào sao nào đó thì ứng với một việc nào đó".

Xem thế, có thể thấy được đôi nét về tầm học rộng hiểu sâu của vua.”

(Đại Việt sử ký toàn thư)

hiểu về thiên văn
Sự vận hành của Nhị thập bát tú và Ngũ tinh đều có xâm phạm tới nhau. Nếu sao nọ phạm vào sao nào đó thì ứng với một việc nào đó. (Ảnh: Pixabay)

Lời bàn:

Đạo và Lý là lẽ huyền diệu trong kinh sách xưa nay. Sự vận hành khế hợp của tinh tượng ứng với việc nhân gian là một pháp lý sâu xa khó cảm nhận. Tất cả những điều này không phải của một trí thức thông thường chỉ nghiên cứu học tập lại có thể ngộ được chỉ trong một đời. Ấy vậy mà Lê Thánh Tông lại có thể chỉ trong vài câu nói mà đưa ra nhận thức thấu triệt như thế, quả thực là trí huệ trời ban, không phải là việc của con người thông thường có thể đạt đến vậy. Nên những thành tựu phi thường của Lê Thánh Tông ắt phải là thiên mệnh, do trời ban cho mới có thể đạt đến, không phải sức người muốn là được đâu.

Lê Thánh Tông mong nghe lời can gián để sửa mình

Trong lịch sử Trung Hoa có Ngụy Trưng là một vị gián quan xuất sắc dưới thời Đường Thái Tông. Cái may mắn lớn nhất đời của Ngụy Trưng là có một vị vua như vua Thái Tông, nhà Đường nổi tiếng vì khả năng nghe lời can gián. Lê Thánh Tông hiểu rõ việc tốt này nên đã cố gắng sửa mình để nghe lời can gián và ông cũng khuyến khích các quan thẳng thắn khuyên can mình.

“Giáp Thân [Quang Thuận] năm thứ 5 [1464], (Minh Thiên Thuận năm thứ 8)
Tháng 8, sắc dụ Hình bộ tả thị lang Nguyễn Mậu rằng:

"Ngươi chăm lo việc nước, điều gì hay thì quy về cho vua, không kém gì Như Hối, Huyền Linh. Đến như Đái Trụ xử việc phức tạp khó khăn, Ngạn Bác tâu bày rõ ràng, tường tận, so với hai người đó cũng có khá hơn một chút. Làm bầy tôi như vậy thực đáng khen ngợi lắm, nên ban cho bạc lạng. Khi nào bạc ban đến nơi, ngươi càng nên mài giũa thêm lòng son vốn có mong cho ta tới cõi trị bình. Ta có lỗi lầm gì hãy thẳng thắn chỉ ra, hãy cứng như Đổng Tuyên, chớ như Tô Uy quen thói giấu giếm"

(Chú thích:
Như Hối: tức Đỗ Như Hối. Huyền Linh: là Phòng Huyền Linh, đều là bề tôi giỏi của Đường Thái Tông.  Đái Trụ: là người minh mẫn, cương trực, rất giỏi xử việc rối rắm phức tạp làm đến Kiểm hiệu Lại bộ thượng thư cho Đường Thái Tông. Ngạn Bác: tức là Ôn Ngạn Bác, giỏi việc tâu bày, làm Thượng thư hữu bộc xạ đời Đường Thái Tông. Đổng Tuyên: là quan lệnh ở Lạc Dương, tính cứng cỏi, thẳng thắn, khi xử vụ án giết người đầu bếp của Hồ Dương công chúa, Hán Vũ Đế bắt Tuyên phải lạy tạ công chúa, Tuyên chống hai tay xuống đất, nhất định không chịu lạy. Tô Uy: là trọng thần của nhà Tùy mất, Uy sống tùy thời, triều nào lên cũng xin thờ phụng và đều được trọng dụng. Đến khi Đường Thái Tông đương nước, Uy xin yết kiến, không được Thái Tông chấp nhận)
(Đại Việt sử ký toàn thư)

Lời bàn:

Cổ nhân có câu “Kẻ thù lớn nhất của mỗi người là chính mình” hay nói đúng ra “kẻ thù” đó chính là cái sĩ diện của bản thân. Vì cái sĩ diện sợ mất mặt ấy mà người ta có thể làm nhiều điều xấu kể cả khi thâm tâm không mong muốn. Nhất là với một bậc Thiên tử chúa cả thiên hạ thì cái sĩ diện ấy còn to chừng nào. Nhưng sai lầm thì không chừa một ai kể cả Thiên tử, mà Thiên tử sai lầm thì hậu quả là cả thiên hạ. Nên bậc minh quân ngày xưa đều hạ mình xuống, bỏ đi sự cao ngạo mà cầu nghe lời phải từ gián quan hay các bậc hiền nhân nghĩa sĩ để có thể cai trị ít sai lầm hơn. Có câu “không cầu lập công, chỉ cầu đừng sai lầm” thật đúng với trường hợp này. Có lẽ ức vạn bá tính ắt cũng chỉ mong điều nhỏ nhoi ấy nơi bậc quân vương mà thôi.

nghe lời can gián của bề tôi
Bậc minh quân ngày xưa đều hạ mình xuống, bỏ đi sự cao ngạo mà cầu nghe lời phải từ gián quan hay các bậc hiền nhân nghĩa sĩ để có thể cai trị ít sai lầm hơn. (Ảnh chụp màn hình phim Tam Tự Kinh)

Lê Thánh Tông làm thơ dạy con

Không chỉ chăm lo cai trị xã tắc, Lê Thánh Tông còn rất chú ý dạy dỗ con mình, đặc biệt là Hoàng thái tử còn nhỏ. Dù công việc quân quốc bận rộn, nhưng ngài cũng không quên làm một bài thơ răn dạy cho thái tử nên người bằng những điển tích ngày xưa.

“Tháng 8, sai Hoàng thái tử vào học. Vua làm thơ đưa cho như sau:
Chí thân hạp bất tận thành ái,
Tiện bế cương trường nhiễu chỉ phu.
Sở quốc Phàn Cơ quang phụ đức,
Trưởng tôn hoàng hậu hữu gia mưu.
Đầu sàng trùng sử Tần vương hận,
Dương túy thời tri Vệ Quán ưu.
Chúng khẩu hưu hưu thông nhĩ quát,
Hà tằng nhất kiến Tiết Cư Châu.
( Thân yêu há chẳng hết lòng này,
Xiểm nịnh làm cho dạ đổi thay.
Nước Sở Phàn Cơ nêu đức tốt.
Trưởng Tôn hoàng hậu có mưu hay.
Tần Vương hận chuyện lăn ra sập.
Vệ quán lo âu khéo giả say,
Trăm miệng ồn ào tai phải điếc,
Cư Châu đâu thấy được người ngay).

Bây giờ Hoàng thái hậu là người nhân huệ có thừa mà không đủ quả quyết, răn dạy con cháu chưa bao giờ đổi sắc mặt, có khi đánh bằng roi vọt, nhưng chỉ một lát lại thương xót. Vua sợ Tranh dần dà trở nên phóng túng kiêu ngạo, nên làm bài thơ này đưa cho.”

Lê thánh tông làm thơ tặng con
Vua sợ Tranh dần dà trở nên phóng túng kiêu ngạo, nên làm bài thơ này đưa cho. (Ảnh chụp màn hình)

(Chú thích: 

Nguyên văn "Cương trường nhiễu chỉ phu" lấy ý từ hai câu thơ: "Hà ý bách luyện kim, hóa tác nhiễu chỉ phu "(ngờ đâu loại kim cứng trăm lần tôi lại hoá thành chất mềm vòng vào ngón tay được) của Lưu Công. Câu này dịch ý.

Phàn Cơ: là bà phi của Sở Trang Vương. Trang Vương hay đi săn, Phàn Cơ can không được, bèn nhất định không ăn thịt những con vật Trang Vương săn được.

Trưởng tôn hoàng hậu: là bà hậu của Đường Thái Tông, tính khiêm nhường kiệm ước, làm gương cho phi tần trong cung, có tài văn học, thường bàn việc với Thái Tông.

Đường Thái Tông muốn lập Tần Vương Trị làm thái tử. Một hôm, sau khi tan chầu, chỉ còn Trưởng Tôn Vô Kỵ và Phòng Huyền Linh ngồi lại. Thái Tông nói với hai người: "Ta có hai con và một em, không biết lập ai, lòng ta buồn lắm", rồi nằm lăn ra sập, lấy con dao tự dí vào cổ. Bọn Vô Kỵ sợ hãi chạy tới ôm lấy Thái Tông, giằng lấy con dao đưa cho Tần Vương và hỏi Thái Tông muốn lập ai. Thái Tông nói: Muốn lập Tần Vương. Bọn Vô Kỵ nói: "Chúng tôi xin vâng mệnh, ai bàn cách khác thì chém. Thái Tông quay sang bảo Tần Vương: "Cậu đã bằng lòng lập con rồi đấy, phải tạ cậu đi".

Vệ Quán: là bề tôi của Tấn Vũ Đế, biết Huệ Đế tư chất kém không làm vua được, nhưng chưa dám nói với Vũ Đế. Sau nhân khi dự yến, giả say, vỗ vào sập của Vũ Đế ngồi mà nói: "Chổ ngồi này thực đáng tiếc".

Tiết Cư Châu: là thiện sĩ người nước Tống thời Chiến Quốc.”

(Đại Việt sử ký toàn thư)

Lời bàn:

Phàm các triều các đại, bậc vương giả lấy được nước đều là từ trong chinh chiến gian khổ, trải bao phong sương mà thành tựu đại nghiệp. Vậy mà cơ nghiệp ấy tất cả đều mất đi trong tay những kẻ kế nghiệp với một cuộc sống xa hoa sung sướng. Lê Thánh Tông một đời anh minh chắc sẽ không mong cơ nghiệp mình dày công tạo dựng lại hủy trong tay của hậu nhân bất tài, nên mới dụng tâm làm bài thơ dùng điển tích để răn dạy con. Thái tử Lê Tranh sau này lớn thành một vị vua tốt, giữ vững giang sơn, nhân dân được nhờ ắt một phần cũng bắt nguồn từ bài thơ này, đáng phục thay.

(Còn tiếp...)

Minh Bảo



Bài cùng chuyên đề