Vợ chồng ân sâu nghĩa nặng, bỏ đi làm sao cho đặng, người ơi...

Bình luận Trung Dung • 06:30, 03/12/19

Người xưa nói: "Một ngày vợ chồng trăm ngày ân, trăm ngày vợ chồng ân sâu như biển"; hay: "Phu thê ân ái"; "Tình nghĩa vợ chồng"... giữa vợ và chồng là có ân và có nghĩa. Vậy thế nào là Ân phu thê và thế nào là Nghĩa vợ chồng?

Một người thân của tôi có lần than thở về nhân tình thế thái rằng: "Cái xã hội ngày nay thật là lạ, ly hôn là bình thường, không ly hôn lại là không bình thường". Tuy có hơi chút cường điệu nhưng quả thật đạo đức xã hội ngày nay đã sa sút nghiêm trọng, đã xuất hiện những trạng thái xã hội biến dị. Nhiều người không tín Thần Phật, không trọng hôn nhân, càng ngày càng xa rời bản tính thiên chân thiện lương vốn có của con người...

Phu thê ân ái: Thế nào là ân giữa vợ chồng

Khi tôi còn nhỏ thì lớp người tầm tuổi ông bà vẫn còn có quan niệm văn hóa truyền thống khá mạnh. Xem những người như ông bà sống với nhau vẫn nhìn ra sự tôn trọng lẫn nhau, như người xưa nói "tương kính như tân". Giữa người với người coi trọng vai vế, tôn ti trật tự, vẫn có thể nhìn thấy mọi người kính già yêu trẻ, thể hiện ra rõ nét một cách tự nhiên trong hành vi ứng xử thường ngày. Thời đó, ly hôn là việc rất mất mặt, đáng xấu hổ, bị mọi người bàn tán dị nghị, lấy làm lạ lẫm lắm. Đàn ông ly hôn còn bị mất chức nữa. Quan niệm phổ biến là, chuyện trong gia đình anh mà không xử lý được tốt, người gần gũi anh nhất mà cũng không cảm hóa được, thế thì anh làm sao có đủ năng lực để gánh vác chuyện đơn vị, chuyện xã hội, làm sao có thể cảm hóa được mọi người. 

Thế nhưng chỉ mấy chục năm ngắn ngủi trở lại đây, tình trạng ly hôn xuất hiện càng ngày càng nhiều, và đã trở thành hiện tượng bình thường trong xã hội. Có những khu phố toàn những gia đình ly hôn, chỉ có lác đác vài nhà không ly hôn xen giữa. Hiện tượng mà chỉ cách đây mấy chục năm, mọi người coi là lạ lẫm, kỳ quặc thì giờ đây đã chẳng thấy có gì là lạ nữa, thậm chí nhiều người còn lớn tiếng nói ly hôn là để "truy cầu hạnh phúc cá nhân", và rất lạ nữa là cũng có khá nhiều người hưởng ứng cổ xúy cho việc này.

Chỉ mấy chục năm ngắn ngủi trở lại đây, tình trạng ly hôn xuất hiện càng ngày càng nhiều, và đã trở thành hiện tượng bình thường trong xã hội
Chỉ mấy chục năm ngắn ngủi trở lại đây, tình trạng ly hôn xuất hiện càng ngày càng nhiều, và đã trở thành hiện tượng bình thường trong xã hội. (Ảnh qua luatvietnam.vn).

Con người hiện nay càng ngày càng coi trọng cái tôi, càng lấy mình làm trung tâm, coi việc thỏa mãn ham muốn cá nhân là trên hết, coi đó là "hạnh phúc cá nhân". Quan hệ vợ chồng được xây dựng trên cơ sở ham muốn và dục vọng cá nhân thì sao có thể lâu dài, bền chặt được? Thực tế, giữa vợ chồng có ân và nghĩa.

Người xưa nói: "Một ngày vợ chồng trăm ngày ân, trăm ngày vợ chồng ân sâu như biển". Giữa vợ chồng thì ân là tiền đề, cần phải cảm ân tác thành của trời đất. Có nhân duyên thì mới có thể nên vợ nên chồng. Đó là duyên phận Thiên định, là ân của Thượng Thiên. Không có sợi dây tơ hồng của ông Tơ bà Nguyệt thì đời này sao có thể kết phu thê. 

Ân giữa vợ chồng còn có một tầng hàm nghĩa nữa. Theo Phật gia giảng, nhiều người do đời trước chịu ân người khác mà chưa thể báo đáp thì đời này nguyện làm vợ chồng để báo ân, bởi vậy giữa vợ và chồng thường tỏ ý cảm kích nhau. 

Người xưa cũng thường nói: "Phu thê ân ái", trong thành ngữ trên thì "Ân" đứng trước "Ái", lòng cảm kích có trước, còn yêu thương, tương kính như tân đứng sau.

Vợ chồng còn phải cảm ân của cha mẹ. Nếu không có sự quan tâm lo lắng của cha mẹ, tìm người mối mai, lo liệu hôn lễ để được mọi người chấp nhận, thế thì vợ chồng sao có thể tạo lập chỗ đứng trong xã hội được?

Theo "Thuyết văn giải tự", chữ Ân (恩) nghĩa là ân huệ gồm chữ Tâm (心 - trái tim) và chữ Nhân (因 - nguyên nhân, nhân quả). Như vậy nghĩa gốc của chữ Ân là ân huệ, là tình cảm, lợi ích mà người khác dành cho mình hay mình dành cho người khác. Chữ Ân của vợ chồng có hàm nghĩa sâu xa hơn, đó là nhân duyên đời trước, là an bài của Thượng Thiên, là lo toan của cha mẹ đời này... Người hiện đại không hiểu điều này, chỉ biết đến lợi ích cá nhân, thỏa mãn tư dục, vì thế mà tranh giành đấu đá, càng xa rời lời dạy của Thần Phật, càng tạo thêm nhiều nghiệp, rồi chìm đắm trong thống khổ. Thế nên, thời hiện đại dường như ai ai cũng thấy khổ, và truy tìm những kích thích, thỏa mãn vật chất để khỏa lấp nỗi thống khổ trong tâm, và thế là nghiệp lại cuộn lấy nghiệp.

Giữa vợ chồng thì ân là tiền đề, cần phải cảm ân tác thành của trời đất. Có nhân duyên thì mới có thể nên vợ nên chồng. Đó là duyên phận Thiên định, là ân của Thượng Thiên.
Giữa vợ chồng thì ân là tiền đề, cần phải cảm ân tác thành của trời đất. Có nhân duyên thì mới có thể nên vợ nên chồng. Đó là duyên phận Thiên định, là ân của Thượng Thiên. (Ảnh: Shutterstock).

Tình nghĩa vợ chồng: Thế nào là nghĩa vợ chồng

Nghĩa vợ chồng thể hiện ở trách nhiệm, không rời xa không bỏ rơi, bạch đầu giai lão. Hai mẩu chuyện văn hóa truyền thống sau diễn giải nội hàm của nghĩa vợ chồng.

Chuyện thứ nhất: Chàng cử nhân giữ gìn hôn ước

Lưu Đình Thức, người đất Tề thời Bắc Tống, là người chính trực, có phong thái quang minh lỗi lạc, thành tín giữ lời hứa. Khi còn tuổi thanh niên, có người giới thiệu cho ông một cô gái cùng làng, và đã ước hẹn cả đời bên nhau, hai gia đình cũng đã nhờ người mai mối tác thành hôn ước, chuẩn bị vài năm nữa đưa sính lễ rước dâu, kết tóc trăm năm.

Sau đó Lưu Đình Thức đi thi, có tên trên bảng vàng, đỗ cử nhân. Nhưng đúng lúc đó, người vợ chưa cưới của anh mắc bệnh rồi mù cả hai mắt. Nhiều thầy thuốc được mời đến chữa trị nhưng đều vô hiệu. Nhà gái là một gia đình nhà nông, rất nghèo, lại không có quyền thế, đâu dám nói đến chuyện hôn lễ của con gái nữa. Cô gái đó cũng thường nhỏ lệ sầu bi than thân trách phận, lo lắng chồng tương lai sẽ thay lòng đổi dạ từ hôn.

Biến cố trên thân người vợ chưa cưới đương nhiên truyền đến tai Lưu Đình Thức. Có người khuyên anh không nên cưới cô gái mù con nhà nông đó, kẻo hỏng chuyện đại sự cuộc đời, hủy hạnh phúc cả đời mình. Lưu Đình Thức cười và nói: "Lòng tôi đã hứa hôn cùng cô ấy rồi. Tuy cô ấy mù hai mắt nhưng sao có thể trái với cái tâm ban đầu của mình được".

Sau đó anh vẫn cưới cô gái về, hai người dựa vào nhau mà sống, yêu thương giúp đỡ nhau, đồng cam cộng khổ, sống đến bạch đầu giai lão, được mọi người truyền tụng thành giai thoại thiên cổ. Lưu Đình Thức cũng được mọi người coi là mẫu mực thành tín giữ lời hứa, tuân thủ hôn ước. Nhà thơ đời Tống Tô Đông Pha cảm động vì ân nghĩa của Lưu Đình Thức nên đã từng viết thi phẩm ngợi ca về họ.

Lưu Đình Thức đỗ bảng vàng cử nhân, khi hay tin vợ sắp cưới bị mù, anh chỉ cười và nói: "Lòng tôi đã hứa hôn cùng cô ấy rồi. Tuy cô ấy mù hai mắt nhưng sao có thể trái với cái tâm ban đầu của mình được".
Lưu Đình Thức đỗ bảng vàng cử nhân, khi hay tin vợ sắp cưới bị mù, anh chỉ cười và nói: "Lòng tôi đã hứa hôn cùng cô ấy rồi. Tuy cô ấy mù hai mắt nhưng sao có thể trái với cái tâm ban đầu của mình được". (Ảnh: Shutterstock).

Chuyện thứ hai: Nàng dâu không sợ dịch bệnh hiểm nguy

Tháng 3 năm Giáp Ngọ đời Thuận Trị triều Thanh, ở phía đông thành huyện Vũ Tấn tỉnh Giang Tô có người con trai của Cố Thành lấy tiểu thư Tiền thị làm vợ. Một lần Tiền thị về nhà mẹ đẻ thăm nhà. Không lâu sau, quê chồng xảy ra dịch bệnh cấp tính, lây nhiễm trên diện rộng, tốc độ truyền nhiễm rất nhanh, người chết vì bệnh rất nhiều. Mọi người đều sợ lây bệnh, ai nấy sợ hãi, kinh khiếp vô cùng. Thậm chí người thân cũng không dám hỏi han, thăm viếng nhau, chỉ sợ trốn tránh không kịp.

Vợ chồng Cố Thành cũng không may mắc bệnh, sau đó đến các con họ, cả nhà 8 người mắc bệnh dịch. Tiền thị ở nhà mẹ đẻ, nghe tin cha mẹ chồng mắc bệnh dịch thì sốt ruột muốn về nhà chồng trông nom.

Cha mẹ Tiền thị thương xót con gái, sợ con về nhà chồng cũng sẽ bị mắc bệnh, do đó khuyên Tiền thị rằng: "Nhất định không được về nhà chồng".

Nhưng Tiền thị hiểu rõ đại nghĩa, cô nói: "Chồng lấy vợ là hy vọng con có thể trợ giúp phụng sự cha mẹ chồng. Hiện nay cha mẹ chồng mắc bệnh nguy cấp, nếu con nhẫn tâm không về thì có khác gì loài cầm thú đâu".

Tiền thị cuối cùng đã không để ý đến sự phản đối của cha mẹ, không sợ bệnh dịch hoành hành, một mình trở về nhà chồng.

Sau khi Tiền thị về nhà chồng, vợ chồng Cố Thành và cả nhà 8 người đều bỗng nhiên khỏi bệnh một cách kỳ lạ. Mọi người trong vùng đều cho rằng, cả nhà Cố Thành thoát khỏi dịch bệnh tử vong này là do Tiền thị chí hiếu, đã cảm động đến Thần linh.

Xem chuyện xưa lại chạnh nghĩ đến thời nay. Ngày nay, nhiều người đã đánh mất quan niệm đạo đức cơ bản, đã không còn tâm kính sợ đối với Thần Phật, cũng đã không còn sự tôn trọng cơ bản nhất đối với sinh mệnh, coi việc thành gia lập thất là trò con trẻ, coi việc kết hôn, ly hôn là trò chơi trong cuộc đời. Con người bị dục vọng và tham lam chi phối đã không biết bản thân mình đang làm gì, thân chịu báo ứng thống khổ mà vẫn cảm thấy ông Trời đối xử bất công.

Chỉ có buông bỏ ham dục cá nhân, kiềm chế dục vọng bản thân, trở về với luân lý và những giá trị gia đình truyền thống, nuôi dưỡng thiện niệm và lương tri, kính già yêu trẻ, vợ chồng tương kính như tân, thì mới lại có được gia đình hạnh phúc thực sự, vợ chồng ân ái, tình nghĩa, sống bên nhau trọn đời.

Trung Dung (biên dịch)

Tác giả: Như Nhất
Theo zhengjian.org