Tư tưởng của Khổng Tử đã bị hậu thế hiểu sai như thế nào? - Kỳ 1

Vật đổi sao dời, 2500 năm tựa như thoáng qua trong chớp mắt... do thời đại đổi thay, ngôn ngữ và hoàn cảnh giao tiếp cách biệt, cộng thêm người đời sau hiếu sự, giải thích bừa bãi khiến cho đến thời hiện đại, tư tưởng của Khổng Tử mà mọi người lý giải so với ý nghĩa nguyên gốc đã khác hẳn rồi...

2500 năm trước, có một lão niên cùng các đệ tử của mình với dáng vẻ hơi mệt mỏi đi vân du khắp nơi trên mảnh đất Trung Nguyên rộng lớn. Đương thời, người may mắn nhìn thấy cảnh tượng này có lẽ sẽ không thể nghĩ rằng, một ông lão cũng không hiển danh gì thời đó lại được người đời sau ca tụng mấy nghìn năm. Ông lão đó chính là Khổng Tử, người được hậu thế tôn xưng là "Vạn thế sư biểu", "Chí Thánh tiên sư".

Khổng Tử họ Khổng tên Khâu, tên chữ là Trọng Ni, người nước Lỗ, mất năm 479 TCN, thọ 73 tuổi. Nhìn lại cả cuộc đời, Khổng Tử nói: "Ta 15 tuổi lập chí học Đạo, 30 tuổi xác lập được rõ mục đích mục tiêu cuộc đời, 40 tuổi không còn nghi hoặc, 50 tuổi biết mệnh Trời, 60 tuổi nghe gì cũng thuận tai, 70 tuổi có thể làm tùy theo tâm mong muốn mà không vượt ra ngoài phép tắc" (nguyên văn: "Ngô thập hữu ngũ nhi chí ư học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri Thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ").

Khổng Tử vĩ đại không phải bởi xa lánh quan trường, cũng không phải bởi ông học rộng lại khiêm tốn, mà bởi ông tự mình làm mẫu và dùng lời nói trí tuệ để giảng thuật triết lý làm người. Nho gia hình thành từ tư tưởng Khổng Tử đã có ảnh hưởng cực kỳ sâu rộng trong văn hóa các nước Á Đông, cho dù đối với người hiện đại thì tư tưởng Khổng Tử vẫn còn ý nghĩa tích cực.

Tương truyền bên dòng sông Tứ, Khổng Tử nhìn dòng nước cuồn cuộn chảy không ngừng nghỉ mà cảm thán về sinh mệnh và thời không rằng: "Thời gian trôi đi như nước chảy thế này đây, đêm ngày không ngừng nghỉ".

Thời gian trôi đi như nước chảy thế này đây, đêm ngày không ngừng nghỉ
Thời gian trôi đi như nước chảy thế này đây, đêm ngày không ngừng nghỉ. (Ảnh: Pexels).

Vật đổi sao dời, thời gian như bóng câu qua cửa sổ, 2500 năm tựa như trôi qua trong chớp mắt. Nền văn minh rực rỡ Á Đông giống như dòng sông từng cuồn cuộn sóng kia giờ đã yếu dòng. Lịch sử quả thực giống như dòng sông, có trong có đục. Trong quá trình truyền thừa tư tưởng của Khổng Tử, do thời đại đổi thay, ngôn ngữ thay đổi và sự mất đi của hoàn cảnh ngôn ngữ, cộng thêm người đời sau hiếu sự giải thích, chú giải bừa bãi khiến những kiến giải sai lầm cũng theo đó mà được lưu truyền. Cho đến thời hiện đại, tư tưởng Khổng Tử mà mọi người lý giải so với ý nghĩa gốc ban đầu của ông đã khác nhau một trời một vực rồi.

Bài viết này chỉ là làm rõ một số chỗ hiểu sai lầm khá phổ biến về tư tưởng Khổng Tử mà thôi.

Khổng Tử có kỳ thị phụ nữ không?

Trong "Luận ngữ - Dương Hóa" có một câu: "Khổng Tử nói: Duy phụ nữ và tiểu nhân là khó dạy bảo, gần thì vô lễ, xa thì oán hận" (Nguyên văn: Duy nữ tử dữ tiểu nhân vi nan dưỡng dã, cận chi tắc bất tốn, viễn chi tắc oán).

Thế là Khổng Tử bị coi là kỳ thị phụ nữ, thậm chí có người còn cho rằng Khổng Tử là người tiên phong trọng nam khinh nữ. Tuy đại đa số đều cho rằng như thế, nhất là người hiện đại lại càng cho rằng như vậy, nhưng vẫn có những người không tin vị đại Thánh nhân này lại kỳ thị phụ nữ. Do đó, dù là thời hiện đại thì vẫn có người minh oan cho Khổng Tử. Nhưng sau năm 1949, Trung Quốc Đại Lục đã chụp cái mũ "hình thái ý thức" cho Khổng Tử, do đó những tiếng nói biện hộ này cũng khó được người đời biết đến.

Trong "Luận ngữ" tổng cộng có 19 chữ "Nữ" (phụ nữ), trong đó 18 chữ đọc là "Nhữ" (anh, bạn, trò - ngôi thứ 2). Do đó có người cho rằng chữ Nữ này cũng nên đọc là Nhữ, thế nên "Nữ tử" đọc là "Nhữ tử" nghĩa là các ngươi. Cách dùng từ này quá thô, thông tục, không phải là phong thái ở một Thánh nhân cần có. Vậy chữ "Nữ" này nghĩa là "phụ nữ" như cách hiểu hiện nay chăng? Đương nhiên cũng không phải.

Cổ văn có ngữ pháp riêng của nó. Xem toàn bộ "Luận ngữ" thì kiểu câu đa phần dùng đối ngẫu. Ví như: "Quân tử chu nhi bất tị, tiểu nhân tị nhi bất chu" (Người quân tử hòa hợp, hài hòa mà không câu kết, kẻ tiểu nhân câu kết mà không hòa hợp, hài hòa); "Học nhi bất tư tắc võng, tư nhi bất học tắc đãi" (Học mà không suy nghĩ thì mê muội, suy nghĩ mà không học thì nguy hại). 

Cho đến thời hiện đại, quan niệm của Khổng Tử đối với phụ nữ mà mọi người lý giải so với ý nghĩa gốc ban đầu của ông đã khác nhau một trời một vực rồi.
Cho đến thời hiện đại, quan niệm của Khổng Tử về phụ nữ mà mọi người lý giải so với hàm ý nguyên gốc của Ngài đã khác nhau một trời một vực rồi. (Ảnh: Shutterstock).

Câu: "Duy nữ tử dữ tiểu nhân vi nan dưỡng dã, cận chi tắc bất tốn, viễn chi tắc oán" cũng là một câu văn có cấu trúc ngữ pháp đối ngẫu kiểu như thế. Từ "nữ tử" và "tiểu nhân" ở đây là từ vựng có nghĩa tương tự, gần nhau hoặc tương phản. Trong "Luận ngữ" từ "nữ tử" chỉ có ở câu này, nhưng từ "tiểu nhân" thì dùng rất nhiều, như: "Quân tử hoài đức, tiểu nhân hoài thổ; Quân tử hoài hình, tiểu nhân hoài huệ" (Người quân tử chỉ nghĩ đến đức hạnh, kẻ tiểu nhân chỉ nghĩ đến đất đai. Người quân tử chỉ nghĩ đến hình pháp, pháp luật, kẻ tiểu nhân chỉ nghĩ đến lợi ích, ơn huệ); "Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi" (Người quân tử hiểu rõ về đạo nghĩa, kẻ tiểu nhân hiểu rõ về lợi ích); "Quân tử thản đãng đãng, tiểu nhân trường thích thích" (Người quân tử ngay thẳng, quang minh lỗi lạc, kẻ tiểu nhân luôn lo lắng, suy tính được mất)... Từ những câu này, chúng ta có thể thấy trong "Luận ngữ" từ "tiểu nhân" và quân tử là có nghĩa tương phản, vậy từ "nữ tử" có nghĩa gần với "tiểu nhân" thì rốt cuộc là có ý nghĩa gì?

"Người dương tính gọi là nam, người âm tính gọi là nữ", chữ "nữ" ở đây thực ra là một tính từ, nghĩa là "âm tính", tổ hợp thành từ "nữ tử" có nghĩa mở rộng là "người nội tâm âm hiểm xảo trá".

Như vậy "Duy nữ tử dữ tiểu nhân vi nan dưỡng dã, cận chi tắc bất tốn, viễn chi tắc oán" có nghĩa là, những người nội tâm âm hiểm xảo trá, nhân cách bỉ ổi là người khó chung sống nhất, gần gũi họ thì họ sẽ vô lễ, xa cách họ thì họ sẽ oán hận. Thế nên ý nghĩa gốc của câu này không có liên quan đến phụ nữ.

Khổng Tử không tin quỷ Thần chăng?

Bởi vì trong "Luận ngữ - Thuật nhi" có câu: "Tử bất ngữ quái lực loạn Thần" nên rất nhiều người cho rằng Khổng Tử không tin quỷ Thần, thậm chí có người còn nói Khổng Tử có tư tưởng bài xích tôn giáo.

Thế nhưng, không nói đến những điển tịch cổ đại liên quan trực tiếp đến Khổng Tử, cho dù là trong "Luận ngữ" do các đệ tử nhớ lại rồi ghi chép ra thì cũng có rất nhiều chỗ chứng minh Khổng Tử tin trong trời đất có tồn tại quỷ Thần, ví dụ: "Phi kỳ quỷ nhi tế chi, siểm dã" (Không phải quỷ (ma) nhà mình mà tế lễ thì đó là siểm nịnh); "Vụ dân chi nghĩa, kính quỷ Thần nhi viễn chi, khả vị trí hĩ" (Dốc sức khiến người dân thực hiện đạo nghĩa, tôn kính quỷ Thần và không được quá thân cận, như thế có thể gọi là có trí tuệ rồi); "Quý Lộ vấn sự quỷ Thần. Tử viết: Vị năng sự nhân, yên năng sự quỷ?" (Quý Lộ hỏi về việc thờ quỷ Thần. Khổng Tử nói: Chưa thờ nổi người (người sống), sao có thể thờ được quỷ (người chết)?). Như thế thì tại sao "Tử bất ngữ quái lực loạn Thần"?

Rất nhiều người cho rằng Khổng Tử không tin Thần, thậm chí có người còn nói Khổng Tử có tư tưởng bài xích tôn giáo.
Rất nhiều người cho rằng Khổng Tử không tin Thần, thậm chí có người còn nói Khổng Tử có tư tưởng bài xích tôn giáo. (Ảnh: Pexels).

Khổng Tử là Thánh nhân nên lẽ tự nhiên sẽ biết trong vũ trụ có vô số bí mật là những điều nhân loại không thể nào hiểu và nắm bắt được, đã như vậy thì con người nên đối đãi với những sự vật mà bản thân không hiểu rõ như thế nào? Khổng Tử nói: "Biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, thì đó là trí tuệ" (Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị trí dã). Nhưng đối với những sự vật siêu nhiên hoặc có tính tôn giáo như "quái lực loạn Thần" thì Khổng Tử đặc biệt đề ra "Kính quỷ Thần nhi viễn chi", và "Tử bất ngữ". Vậy vì sao Khổng Tử muốn "viễn chi" và không đàm luận về những sự tình này?

Thế nhân thường nói, làm người phải giữ "khẩu đức". Trong Phật giáo giảng, không được khinh mạn Tam Bảo: "Phật, Pháp, tăng", trong đó cũng bao gồm không được dùng lời nói bất kính, phỉ báng, đàm tiếu Tam Bảo. Trong Phật giáo cho rằng, nếu con người dùng lời bất hảo đối với Phật, Phật Pháp và tăng lữ thì sẽ chịu quả báo cực lớn. Mà người tu luyện thì hiểu được trong tu luyện phải "tu khẩu", không nói lời bất hảo như mắng chửi người, nói lời ngông cuồng, nói lời giả dối... Nếu nói những lời đó thì sẽ nhận nghiệp lực. "Tu khẩu" đương nhiên cũng không thể dùng lời bất hảo đàm luận Thần Phật và Phật Pháp…

Đến đây, chúng ta có thể đã minh bạch rồi. Đối với Thần Phật, Phật Pháp hoặc những sự vật siêu nhiên khác mà nhân loại biết cực kỳ ít ỏi, nếu mọi người đàm luận thì làm thế nào mới biết mình nói đúng hay không? Khổng Tử là Thánh nhân, những điều ông nói không thể không chính xác, nhưng môn sinh của ông, hoặc người bình thường thì không thể làm được như vậy. Người bình thường mà nói không đúng, thậm chí phạm tội khinh mạn, vì thế bị ác báo, do đó Khổng Tử dứt khoát lấy mình làm mẫu "Tử bất ngữ" (Khổng Tử không nói).

Thế nên "Tử bất ngữ quái lực loạn Thần", ý nghĩa gốc không phải là Khổng Tử không tin những điều này, mà là không được tùy ý đàm luận những thứ đó, cũng chính là cần phải "tu khẩu" đối với những sự việc chưa biết.

Xem toàn bộ "Luận ngữ", người viết lý giải rằng, Khổng Tử thông qua "Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín" để nói cho nhân loại biết "thủ đức" như thế nào. Mà trong "Thủ đức" thì "Tử bất ngữ" chiếm tỷ trọng rất lớn. Người tín ngưỡng tôn giáo đều biết, tội khinh mạn, nói xấu, phỉ báng Thần Phật, Phật Pháp, kinh văn và người tu luyện là tội lớn nhất trong tất cả các tội lỗi, là hành vi thất đức lớn nhất.

Đáng tiếc là một câu "Tử bất ngữ quái lực loạn Thần" thì người hiện đại quá ít người hiểu đúng, nên xã hội hiện nay có nhiều người làm những việc đại ác mà không tự biết.

Trung Dung (biên dịch)
Tác giả: Thanh Nguyên - zhengjian.org.