Trăm năm mới đặng chung thuyền; ngàn năm mới đặng nên duyên vợ chồng

Bình luận Thiên Chân • 19:30, 14/05/20

Nhân sinh tại thế, vạn sự đều có nhân duyên, hôn nhân cũng như thế. Một người nam cùng một người nữ có thể kết nên duyên vợ chồng đều là nhờ vào nhân duyên từ tiền kiếp. Cổ ngữ có câu: “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng”. Khi một cuộc hôn nhân bắt đầu, chúng ta mới phát hiện rằng hết thảy đều là do thiên định, tuyệt không phải là do con người cầu mà có được...

Thế sự dù hỗn loạn cũng không thể ngăn cản được duyên phận đã định trước

Vào những năm cuối triều đại nhà Đường, huyện Xạ Hồng có một vị chủ bộ tên là Chu Hiển, định xin cưới con gái của Đỗ Tập - huyện lệnh huyện Bì là Đỗ thị làm vợ. Tuy nhiên sau khi hai người đính hôn lại phát sinh một sự việc không lường trước được; Vương Kiến ở đất Thục tự lập làm hoàng đế, tức là Tiền Thục Cao Tổ sau này, Đỗ thị do vậy mà bị tuyển vào cung.

Sau khi Vương Kiến băng hà, con trai của ông là Vương Diễn lên ngôi. Vương Diễn là một hoàng đế hoang dâm vô độ, cả ngày say mê nữ sắc khiến cho cuối cùng nước Tiền Thục bị quân đội nhà Đường tiêu diệt. Lúc này, Chu Hiển hiện đang làm quan ở Bành Châu; nhờ mọi người khắp nơi tìm giúp một mối hôn sự tốt đẹp. Sau đó, ông được người mai mối giới thiệu cho cháu gái của gia đình họ Vương, nghe nói vị nữ tử này vốn từng làm cung nữ.

Sau khi kết hôn, trong lúc Chu Hiển trò chuyện cùng thê tử có nhắc đến chuyện mình và Đỗ thị đã từng đính ước. Ở trong tờ hôn ước có viết: “Ta trước đây định lấy Đỗ Thị làm vợ nhưng thẹn vì gia cảnh bần hàn, không đảm đương được danh nghĩa và trách nhiệm của người con rể”. Đây quả là những lời lẽ vô cùng khiêm tốn.

Cháu gái gia đình họ Vương nghe xong bèn thở dài nói: “Thiếp chính là Đỗ thị đây, thiếp sau khi xuất cung, không còn nơi nào để đi, là nhờ người nhà họ Vương thu nhận thiếp; vì vậy thiếp đổi họ thành Vương thị”. Chu Hiển sau khi nghe xong, buồn vui đan xen, đây quả thật chính là duyên phận. Tình cảm phu thê từ đó mà càng thêm sâu đậm.

Chu Hiển sau khi nghe xong, buồn vui đan xen, đây quả thật chính là duyên phận.
Chu Hiển sau khi nghe xong, buồn vui đan xen, đây quả thật chính là duyên phận. (Ảnh: Shutterstock)

Đề thơ trên lá đắc duyên lành

Những năm Đường mạt Tiền Thục, có thượng thư Hầu Kế Đồ xuất thân là môn đệ của Thư Hương, cả ngày tay không rời sách, miệng không ngừng ngâm thơ. Khi còn làm quan ở Thành Đô, ông thường xuyên ghé thăm chùa Đại Từ để thưởng ngoạn.

Vào một ngày mùa thu lộng gió, Hầu Kế Đồ từ lan can tự viện đưa mắt ngắm nhìn cảnh sắc phía xa. Bỗng nhiên, một chiếc lá theo gió bay tới nơi ông. Thấy vậy, ông nhặt nó lên thì phát hiện trên lá có đề một bài thơ: 

“Thức thuý liễm song nga,
Vi uất tâm trung sự,
Nặc quản hạ đình trừ,
Thư tựu tương tư tự.

Thử tự bất thư thạch,
Thử tự bất thư chỉ,
Thư hướng thu diệp thượng,
Nguyện tùy phong thu khởi.

Thiên hạ hữu tâm nhân,
Tận giải tương tư tử”
(“Tương tư” - trích Tình sử)

Dịch nghĩa:
Vuốt tóc chau đôi mày ngài
Vì niềm u uất tâm sự
Giấu bút ra thềm sân trước
Viết nên chữ tương tư.

Chữ này không viết trên đá
Chữ này không viết trên giấy
Viết về hướng lá thu ở trên cao
Mong gió thu cuốn bay đi.
Thiên hạ nếu có lòng.
Sẽ hiểu tương tư khắc khoải đến chết.
(Hoàng Nguyên Chương dịch).

Bài thơ này hẳn phải là của một vị tiểu thư khuê nữ viết. Hầu Kế Đồ sau đó mang chiếc lá ấy về nhà và cất giữ trong rương.

Năm, sáu năm sau đó, Hầu Kế Đồ kết duyên cùng tiểu thư nhà họ Nhậm. Vào một ngày nọ, ông ngẫu hứng ngâm lại những câu thơ được đề trên lá khi xưa. Nhậm thị sau khi nghe xong liền nói: “Đây là bài thơ trên lá ngày trước thiếp đã viết ở Tả Miên (nay là Miên Dương, Tứ Xuyên), chàng sao lại biết được bài thơ này?”. Hầu Kế Đồ sau khi nghe xong cũng rất kinh ngạc, liền bảo vợ mình viết lại toàn bộ bài thơ, rồi đem đối chiếu với bài thơ ở trên lá thì thấy giống hệt nhau. Đây không phải là “nhân duyên do chiếc lá đưa tới (nhân duyên thụ diệp khiên)” hay sao? 

Hầu Kế Đồ sau khi nghe xong cũng rất kinh ngạc, liền bảo vợ mình viết lại toàn bộ bài thơ,
Hầu Kế Đồ sau khi nghe xong cũng rất kinh ngạc, liền bảo vợ mình viết lại toàn bộ bài thơ. (Ảnh: Shutterstock)

Mối nhân duyên không thể cắt đứt

Vào thời Đường có một vị tú tài hai mươi tuổi sốt ruột mong có được một mối lương duyên. Tuy vậy, dẫu bà mối giới thiệu cho chàng rất nhiều nữ tử nhưng việc mai mối đều không thành công dù chỉ với một người. Bất đắc dĩ, vị tú tài liền tìm đến một thầy toán mệnh để dò hỏi nguyên nhân.

Thầy toán mệnh nói: “Muốn tìm đối tượng kết hôn thì trong số mệnh cả hai cần phải có duyên phận, thê tử của ngươi hiện chỉ mới có hai tuổi”. Nghe vậy, tú tài quá đỗi ngạc nhiên, liền hỏi: “Nàng đang ở nơi nào? Tên họ là gì?”. Thầy toán mệnh nói với chàng: “Ở phía Nam của Hoạt Châu, tên đó họ đó, cha mẹ làm nghề trồng rau, chỉ có một nữ nhi là nàng, nàng chính là thê tử của ngươi".

Tú tài nghe xong quả thực cảm thấy rất thất vọng, bởi vì dựa vào xuất thân dòng dõi thư hương và tài học vấn của bản thân, làm sao có thể kết hôn với con gái của nhà trồng rau. Chàng không quá tin tưởng lời thầy tướng số nên liền tự mình đi đến phía nam Hoạt Châu tìm kiếm. Quả nhiên tìm được một gia đình làm nghề trồng rau giống nhau như đúc với những lời của thầy tướng số; hơn nữa người nhà họ cũng có một nữ nhi mới hai tuổi.

Tú tài do vậy mà càng thêm buồn bực. Một ngày nọ, nhân lúc cha mẹ của đứa trẻ ra ngoài, chàng bèn lén lút đi vào nhà họ, đặt đứa trẻ ở trước mặt; sau đó lấy ra một chiếc kim châm châm vào đầu đứa bé rồi ngay lập tức chạy trốn.

Khi đứa trẻ lớn đến năm, sáu tuổi thì cha mẹ đều qua đời. Các quan viên địa phương đem nàng báo với Liêm Sử. Liêm sử liền thu nhận nàng. Qua vài năm, Liêm Sử thấy nàng thông minh lanh lợi, bèn xem nàng như con ruột mà nuôi nấng, đối xử với nàng mười phần yêu thương. Khi Liêm Sử được điều đến làm quan ở địa phương khác thì nữ nhi cũng đã trưởng thành.

Lúc này, tú tài cũng đỗ đạt, chàng làm chủ bộ quản lý công văn tại nơi mà Liêm Sử mới nhậm chức quan, nhưng vẫn luôn không có liên lạc gì với Liêm Sử. Một lần nọ, bởi vì yêu cầu công vụ, tú tài đến bái kiến Liêm Sử. Liêm Sử thấy chàng khí độ, phong thái bất phàm, lại hiểu lễ nghĩa, cũng hỏi thử xem chàng đã có hôn phối hay chưa. Tú tài thưa rằng mình vẫn chưa thành hôn. Liêm Sử biết chàng xuất thân từ gia đình có học vấn, hơn nữa học thức lại uyên bác, liền có ý muốn đem nữ nhi gả cho chàng. Chàng vui mừng đồng ý.

Chẳng bao lâu sau, tú tài và nữ nhi của Liêm Sử thành thân.
Chẳng bao lâu sau, tú tài và nữ nhi của Liêm Sử thành thân. (Ảnh: Shutterstock)

Chẳng bao lâu sau, tú tài và nữ nhi của Liêm Sử thành thân. Liêm Sử đã cho con gái rất nhiều của hồi môn; hơn nữa nữ nhi này tướng mạo mỹ lệ, vượt qua cả sự kỳ vọng của vị tú tài. Lúc này, chàng bèn nhớ đến lời của thầy tướng số năm xưa thì cảm thấy ông ta chỉ là ăn nói hàm hồ.

Sau khi kết hôn, thê tử của chàng không có tật gì xấu ngoại trừ việc mỗi khi trời nhiều mây liền đau đầu, hơn nữa đã nhiều năm vẫn không khỏi. Vị tú tài vì nàng mà tìm đến một vị danh y. Thầy thuốc nói căn nguyên bệnh của nàng là tại đỉnh đầu nên cần dùng dược liệu đắp lên. Một lúc sau, thầy thuốc liền lấy ra khỏi đầu nàng một chiếc kim châm; bệnh nhờ đó mà lập tức khỏi.

Vị tú tài giật mình hết sức ngạc nhiên. Sau khi âm thầm dò hỏi bằng hữu thân thích của Liêm Sử, chàng mới biết được thê tử của mình đúng là con gái của gia đình trồng rau. Rốt cuộc đến lúc này chàng cũng tin tưởng những lời thầy tướng số nói.

Cổ ngữ có câu: “Thập niên tu đắc đồng thuyền độ, bách niên tu đắc cộng chẩm miên” (Tu mười năm mới ngồi chung thuyền, tu trăm năm mới nên duyên chồng vợ), chính là khuyên chúng ta phải biết quý trọng nhân duyên mà mình có được.

Thiên Chân

Theo Epochtimes