Tôn Thất Hiệp - ông hoàng thiền sư trẻ tuổi đáng kính

Bình luận Minh Bảo • 14:00, 02/08/20

Đạo Phật có ảnh hưởng vô cùng to lớn trong quá trình mở cõi của nhà Nguyễn ở phương Nam. Giới tinh hoa lãnh đạo của Nam Hà từ vua đến quan đa phần đều mộ đạo Phật và có một số còn xuất gia tu Phật thật sự. Điển hình trong đó là hoàng tử Tôn Thất Hiệp, một ông hoàng liễu đạo rất nổi tiếng thời các chúa Nguyễn. Tuy mất sớm nhưng các giai thoại về ông vẫn lưu truyền như một tấm gương về lòng trung nghĩa nhân hậu hiếm có.

Trí dũng song toàn, nguyên soái ba quân

Tôn Thất Hiệp (chữ Hán: 尊室協, 1653-1675), tên thật là Nguyễn Phúc Thuần hay Nguyễn Phúc Chiểu, sau vì kỵ húy nên đổi là Hiệp, nên gọi là Tôn Thất Hiệp. Ông là con của chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần, là Nguyên soái trong trận đánh nhau với quân Trịnh vào năm 1673. Sau khi hòa bình lập lại, ông đi tu và trở thành trụ trì chùa Minh Thiện thuộc dinh Thái Khang, Đàng Trong.

Vào thời Hiền vương Nguyễn Phúc Tần, trong khi Đàng Trong vẫn đang trong quá trình xây dựng đất nước thì ở Đàng Ngoài các chúa Trịnh đã bình định xong lãnh thổ và chuyển hướng chú ý của họ vào phương Nam. Đoàn quân hùng mạnh của chúa Trịnh sau khi diệt nhà Mạc (năm 1667) liền quay sang viễn chinh Đàng Trong.

Năm Canh Tý 1672, chúa Trịnh Tạc cử con là Trịnh Căn làm Nguyên soái cai quản thủy quân và tướng quân Lê Thời Hiến (hay Lê Hiến) làm Thống suất bộ binh, đem 10 vạn đại quân vào đánh chúa Nguyễn. Ngoài ra, chúa Trịnh Tạc còn hộ giá vua Lê Gia Tông khi ấy mới 12 tuổi, theo sau tiếp ứng. Cuộc hành quân này chúa Trịnh đã dốc hầu hết lực lượng cả nước tiến công hai mặt thủy bộ, còn đem theo cả hoàng đế ngự giá thân chinh, quả thật là muốn một phen ra sức thống nhất non sông vậy.

Cuộc hành quân này chúa Trịnh đã dốc hầu hết lực lượng cả nước tiến công hai mặt thủy bộ, còn đem theo cả hoàng đế ngự giá thân chinh, quả thật là muốn một phen ra sức thống nhất non sông vậy.
Cuộc hành quân này chúa Trịnh đã dốc hầu hết lực lượng cả nước tiến công hai mặt thủy bộ, còn đem theo cả hoàng đế ngự giá thân chinh, quả thật là muốn một phen ra sức thống nhất non sông vậy. (Wikipedia)

Khi tin cấp báo từ Nam Bố Chính báo về, triều đình Nam Hà rúng động. Vì phía chúa Nguyễn năm 1666 vừa mất đi viên đại tướng tài giỏi Nguyễn Hữu Tiến, nhất thời còn chưa biết chọn ai vào vị trí thống soái để chống quân Trịnh xâm lăng. Tuy vẫn còn Nguyễn Hữu Dật cũng là một tướng tài cùng thời, nhưng vào năm 1650 sau vụ án bị vu oan “thông đồng với giặc”, bị bắt giam rồi phục chức thì ông không còn được chúa tin dùng nữa. Nên khi chúa Hiền họp triều thần chọn Nguyên soái để chỉ huy quân đội thì các tướng đồng lòng đề nghị Tôn Thất Hiệp. Họ cho rằng tuy ông còn trẻ, chưa đầy 20 tuổi, chưa từng ra trận lần nào, nhưng là người có trí dũng, đáng được giao trọng trách ấy. Ông có lẽ là dũng tướng hiếm hoi còn lại của chúa Nguyễn lúc này. Vì thế chúa Hiền liền chấp thuận, đồng thời cử thêm Vệ úy Mai Phúc Lãnh và Ký lục Võ Phi Thừa theo giúp việc cho con.

Sử chép:

“Thuần làm Chưởng cơ. Thuần vốn có tài năng mưu lược, chư tướng đều sợ và phục. Năm Nhâm Tý (1672, Lê Dương Đức năm đầu) mùa hạ, chúa Trịnh đem quân 180.000 người vào lấn cướp. Bố chính trấn thủ Nguyễn Triều Tín đem việc ấy tâu lên. Chúa bảo chư tướng rằng: "Đánh giặc tất phải tìm Nguyên súy, nay ai làm được ?" Mọi người đều nói: "Hoàng tử thứ 4 hùng lược hơn người có thể làm Nguyên súy được". Chúa lấy làm phải lắm bèn cho làm nguyên súy. Bấy giờ Thuần mới 20 tuổi. Mùa thu tháng 7, Thuần ra quân. Đến phủ Đồng Thăng thuộc Quảng Bình, Thuần sai chia quân cắm trại đóng giữ. Lũ Nguyễn Hữu Dật đều chịu tiết chế. Hiệu lệnh của Thuần thật nghiêm minh. Chư tướng nói với nhau rằng: ‘Thực là tướng tài!" (Đại Nam liệt truyện)

Họ cho rằng tuy Tôn Thất Hiệp còn trẻ, chưa đầy 20 tuổi, chưa từng ra trận lần nào, nhưng là người có trí dũng, đáng được giao trọng trách ấy.
Họ cho rằng tuy Tôn Thất Hiệp còn trẻ, chưa đầy 20 tuổi, chưa từng ra trận lần nào, nhưng là người có trí dũng, đáng được giao trọng trách ấy. (Wikipedia)

Chiến đấu anh dũng, đẩy lùi địch quân

Phen này chúa Trịnh dốc quân cả nước đổ vào đánh với một quyết tâm chưa từng có trong suốt 6 cuộc chiến trước đây giữa hai bên. Vì thế mà chiến cuộc vô cùng khốc liệt và căng thẳng, nhất là với một vị nguyên soái vừa 20 tuổi như Tôn Thất Hiệp. Thế trận thư hùng chửa phân, chiến lũy Bắc Nam chống đối.

“Tháng 8, quân Trịnh xâm lấn sông Gianh, đóng đồn từ Chính Thủy đến đầu núi, đắp lũy dài từ Phú Xá đến Trấn Ninh suốt ra bờ biển. Lại dàn hàng nghìn chiến thuyền ở cửa biển Linh Giang, thế rất dữ dội. Thuần sai đắp pháo đài ở lũy Trấn Ninh, mộ thổ binh chia ra đóng giữ các con đường yếu hại ở đầu nguồn để phòng bị.” (Đại Nam liệt truyện)

Chiến sự nguy cấp, nguyên soái trẻ quyết chiến không lùi:

“Tháng 11, tướng Trịnh là Lê Hiến tiến sát đến lũy Trấn Ninh, Thuần đóng quân ở Cừ Hà. Chư tướng chia đóng ở đồn Sa Trủy, và cửa biển Nhật Lệ để làm thanh thế cứu ứng cho nhau. Quân Trịnh tiến đánh, không được. Chúa Trịnh Tạc triệu tướng tá đến quở trách nghiêm khắc. Lê Hiến lại đốc quân đến sát dưới lũy, lấp hào phá lũy hết sức đánh gấp, trong một ngày lũy Trấn Ninh suýt bị vỡ đến mấy lần. Tướng giữ lũy ấy là Trương Phước Cương muốn bỏ Trấn Ninh lui về đồn Mội Nại. Thuần bảo rằng: "Quân ta lui một chút, giặc tất thừa cơ đuổi đánh chúng tống chế được nữa. Nên gắng sức cố giữ, thế nào ta cũng đến cứu. Bèn sai người ruổi ngựa đến lũy Sa Phụ ra lệnh cho Nguyễn Hữu Dật cứu Trấn Ninh. Còn mình thì dời quân đến giữ Sa Phụ.” (Đại Nam liệt truyện)

Dùng mưu đánh tan giặc, nghi binh giữ vững trận tuyến:

“Trịnh lại sai tướng là Thắng (không nhớ họ) đem 30 chiếc chiến thuyền từ cửa biển vào giữ bến sông để cắt đường cứu viện cho Trấn Ninh. Thuần lập tức sai cai cơ Kiên Lễ (không nhớ họ) đang đêm đến thẳng đồn Sa Trủy, đặt súng lớn lên pháo đài, rình thuyền quân của Thắng đi qua thì bắn. Lại sai tham tướng Tài Lễ (không nhớ họ) đem chiến thuyền ra cửa biển, đánh kẹp lại. Quân Thắng quả bị quân Kiên Lễ đánh bại, quân thế Trấn Ninh do đấy lại được vững mạnh. Quân Trịnh đánh nhiều lần không phá được.

Trịnh lại sai tướng là Thắng (không nhớ họ) đem 30 chiếc chiến thuyền từ cửa biển vào giữ bến sông để cắt đường cứu viện cho Trấn Ninh.
Trịnh lại sai tướng là Thắng (không nhớ họ) đem 30 chiếc chiến thuyền từ cửa biển vào giữ bến sông để cắt đường cứu viện cho Trấn Ninh. (Shutterstock)

Tháng 12, Lê Hiến lại chấn chỉnh quân đòi đánh Trấn Ninh, Thuần sai Cai cơ Thắng Lâm (không nhớ họ) đem hơn 60 thớt voi từ bãi biển Trường Sa, vòng quanh đi ra, vào lũy Sa Phụ. Lại sai thủy quân bơi thuyền như bay ra khơi, chỗ đối ngạn cửa biển Di Luân; nước triều lên thì đi, nước triều xuống thì về để làm nghi binh. Lê Hiến mấy ngày liền đánh lũy không hạ được, lại nghe nói chúa Trịnh Tạc đến sông Gianh, bị cảm gió độc, ốm nặng phải quay về, Lê Hiến càng sợ, bèn rút quân chạy. Thuần đem quân đuổi theo đến núi Lê Đệ, rồi về. Từ đó Nam Bắc thôi việc binh đao không đánh nhau nữa.” (Đại Nam liệt truyện)

Lòng nhân nổi tiếng, chính trực không màng nữ sắc

Tuy là một vị tướng quân nổi tiếng, chiến đấu anh dũng và lập công to nhưng Tôn Thất Hiệp lại được nhân dân và quân đội kính trọng phần lớn là do lòng nhân từ và đạo đức cao thượng của mình. Sau khi chiến thắng, những hành động của vị nguyên soái tuổi đôi mươi đã trở thành giai thoại.

Nhân từ tha không giết, mở đàn tế trận vong:

“Trận này chúa Trịnh dốc quân cả nước vào xâm lược, tình thế rất nguy cấp. Thuần mới 20 tuổi, vâng mệnh cầm quân, điều độ đúng khớp. Chư tướng phục tùng cho nên có thể lấy ít thắng nhiều, khỏi hoạn nạn, yên ngoài biên, công lao rất lớn. Sau khi quân địch rút lui, phàm những quân lính Bắc Hà bị bắt, Thuần đều sai cấp tiền gạo, quần, áo, tha cho về, không giết một người nào. Lại đặt một lễ đàn ở trong thành Trấn Ninh tế tướng sĩ trận vong, cũng đặt một đàn ở ngoài thành tế tướng sĩ quân Bắc chết trận.” (Đại Nam liệt truyện)

Công cao càng khiêm tốn, chẳng màng lợi cho thân:

“Thuần dẫn quân về đến Thạch Xá, đem tin thắng trận báo lên. Chúa mừng quá, nói rằng: "Con ta mấy lần bóp họng giặc Bắc, từ nay về sau họ Trịnh không dám dòm thẳng vào Nam triều ta nữa". Chúa bèn sai quan đem vàng, bạc, tiền, lụa, hậu thưởng tướng sĩ và ban yến yên ủi chư quân. Năm Quý Sửu (1673), mùa xuân, Thuần đem quân khải hoàn, đến phủ Cẩm Phước vào yết kiến. Chúa hài lòng lắm, thưởng cho 100 lạng vàng, 1000 lạng bạc, 50 tấm gấm. Thuần từ chối và tâu rằng: "Đấy là oai của chúa thượng và sức của chư tướng, chứ tôi có tài năng gì". Chúa nói rằng: "Có công lớn nên nhận thưởng to, sao lại từ chối?" Thuần bèn lạy tạ.” (Đại Nam liệt truyện)

Thuần dẫn quân về đến Thạch Xá, đem tin thắng trận báo lên. Chúa mừng quá, nói rằng: "Con ta mấy lần bóp họng giặc Bắc, từ nay về sau họ Trịnh không dám dòm thẳng vào Nam triều ta nữa".
Thuần dẫn quân về đến Thạch Xá, đem tin thắng trận báo lên. Chúa mừng quá, nói rằng: "Con ta mấy lần bóp họng giặc Bắc, từ nay về sau họ Trịnh không dám dòm thẳng vào Nam triều ta nữa". (Hinhanhlichsu.org)

Đạo đức tuyệt vời thay, tâm chẳng màng nữ sắc:

“Trước kia, Thuần vâng mệnh ra quân, dưới trướng thường dùng giáp sĩ hầu ở tả hữu, có
người Quảng Bình là Bật Nghĩa (không nhớ họ) có một con gái tuyệt đẹp đem tiến lên.
Thuần nói: "Sắc đẹp thì đức kém, dùng gì vưu vật ấy". Khước từ không nhận, nhưng lại
thương tình nhà nghèo ban cho 10 quan tiền. Ai nghe chuyện này cũng phục là người có
đức lượng.” (Đại Nam liệt truyện)

Từ bỏ vinh hoa, dốc lòng cầu đạo

Sau khi chiến thắng quân Trịnh, trải qua một cuộc chiến khốc liệt càng cho thấy rõ sự vô thường của sinh mệnh, khiến tâm cầu đạo ngày càng mạnh mẽ nơi ông hoàng trẻ tuổi nhân từ này. Ông quyết chí từ bỏ tất cả, quyết tâm tu Phật để giải thoát khỏi trần gian.

Quận Hiệp Nguyễn Phước Chiểu, từ sau cuộc chiến tranh năm Nhâm Tý (1672) kéo quân về Nam (Phú Xuân), trong lòng mộ đạo Phật, đi du lãm không sót một danh lam thắng cảnh nào. Quận Hiệp dựng một tòa am nhỏ tại xã Khách Quán, ở một mình ăn chay, thường đốt hương, tụng kinh niệm Phật.” (trích Sách Lịch triều tạp kỷ của Ngô Cao Lãng)

Sách Lịch sử Phật giáo Đàng Trong cho biết thêm:

“Theo tài liệu của chùa Minh Thiện ở núi Bút Sơn, làng Thanh Tuyền, phía Tây dinh Thái Khang (sau chùa dời về ở xã Diên Lạc, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa) thì chính Tôn Thất Hiệp, là Tổ khai sơn chùa Minh Thiện và khi ấy ông có pháp danh là Giác Sanh Thiền Hòa Tử.”

Chính Tôn Thất Hiệp là Tổ khai sơn chùa Minh Thiện, khi ấy ông có pháp danh là Giác Sanh Thiền Hòa Tử.
Chính Tôn Thất Hiệp là Tổ khai sơn chùa Minh Thiện, khi ấy ông có pháp danh là Giác Sanh Thiền Hòa Tử. (Internet)

Có lẽ nghiệp lực và nhân duyên nơi trần thế đối với ông cũng không nhiều, nên mới năm 22 tuổi, vị thiền sư đáng kính ấy đã viên tịch.

“Năm Ất Mão (1675 ) mùa hạ, phải bệnh đậu mùa chết, mới 23 tuổi. Chúa rất thương, nói: ‘Con ta vì nước dẹp nạn, có công to với xã tắc, sao trời vội cướp con ta thế!’ Tặng phong là Minh Nghĩa Tuyên Đức Công Thần Khai Phủ Phục Quốc Thượng Tướng Quân Cẩm Y Vệ Đô Đốc Phủ Chưởng Phủ Sự Thiếu úy Hiệp Quận Công, thụy Toàn Tiết. Lập đền thờ ở xã Vân Thê.” (Đại Nam liệt truyện) 

Lời bàn:

Ngài đến cõi trần gian ô trọc này, xong việc rồi vội vã rời đi, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho vua cha, niềm quý mến của dân chúng và sự khâm phục của ba quân. Tuy ngắn ngủi mà hành trạng của Ngài, lòng nhân từ và đạo đức vẫn làm xúc động người đời cho đến nay. Thế mới biết không phải là sống lâu hay mất sớm, mà sống như thế nào mới là quan trọng vậy. 

Minh Bảo



Bài cùng chuyên đề