Thương hoài Mekong. Kỳ 4: Thủy điện – cơn ác mộng tầm cỡ quốc tế. Tương lai nào cho dòng Mekong?

Bình luận Nguyên Vũ • 06:30, 28/05/20

Chặn dòng, chặt dòng ra từng khúc là làm tắc nghẽn mạch máu, phong bế kinh mạch của Mẹ Đất. Và cũng như cơ thể người, khi máu ngừng chảy, mạch ứ tắc, cơ thể Mẹ Đất sẽ sinh bệnh, sẽ chết bán phần, rồi toàn phần. Lúc ấy thì lợi ích nào bù đắp lại được? Những tai họa do phá hoại sông ngòi và môi trường không còn là lời dự báo mà đang hiện hữu và tác oai tác quái.

Xem lại Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3

Ở Kỳ 3, chúng ta đã lần lên tận ngọn nguồn và tìm ra thủ phạm chính hạ sát dòng Mekong là 11 đập thủy điện của Trung Quốc cũng như gốc rễ tư tưởng của việc ĐCSTQ hủy hoại môi trường đó là “văn hóa Đấu”: đấu Trời, đấu Đất, đấu người. Ở Kỳ 4 và cũng là kỳ cuối của loạt bài này, chúng ta cùng tìm hiểu về hiện trạng của các đập thủy điện trên thế giới cũng như cách ứng xử với chúng ở các quốc gia phát triển và đang phát triển, từ đó thử đề xuất một giải pháp để cứu lấy dòng Mekong.

Nile và Amazon vĩ đại – những người bạn gốc Phi, Mỹ la tinh cùng chung cảnh ngộ với Mekong xứ Á

Năm 1971, công trình đập nước ở thành phố Aswan, Ai Cập dài 3,6km, cao 110m được hoàn thành. Người Ai Cập hân hoan đón chào kỳ tích mới, lần đầu tiên họ chinh phục được sông Nile. Từ nay dòng sông hung dữ này không còn có thể dâng lũ lụt cho vùng đồng bằng châu thổ sông Nile được nữa, ngược lại nó được cho rằng sẽ tạo ra đủ điện cho ¼ dân số Ai Cập.

Người Ai Cập hân hoan đón chào kỳ tích mới, lần đầu tiên họ chinh phục được sông Nile.
Người Ai Cập hân hoan đón chào kỳ tích mới, lần đầu tiên họ chinh phục được sông Nile. (Ảnh: Three Lions/Getty Images)

Nhưng kết quả thì sao?

100,000 người dân Ai Cập sống trong khu vực con đập phải di dời cùng với ngôi đền thiêng Abu Simbel. Nhưng điều mà người Ai Cập nhận lại không giống như những gì họ kỳ vọng. Sau khi bị ngăn dòng, sông Nile không còn phù sa để bồi đắp cho vùng đồng bằng châu thổ màu mỡ như hàng nghìn năm qua. Hệ thống tưới tiêu được bổ sung, lần đầu tiên phân bón hóa học được sử dụng. Hệ thống tưới tiêu này làm tăng nồng độ muối và làm thoái hóa lớp đất mặt. Các vũng nước tù đọng hình thành trên vùng châu thổ là nơi sản sinh ra các loại côn trùng có hại cho nông nghiệp và đời sống dân cư. Cây cối bị con đập vùi lấp trở thành nơi sinh sôi hoàn hảo cho vi khuẩn, các vi khuẩn này hấp thụ thủy ngân trong đất trở nên cực kỳ độc hại vì có chứa metyl thủy ngân, rồi đến lượt các loài cá sống trong đập cũng bị nhiễm độc thủy ngân ở mức độ báo động.

Con đập này đã phá hoại hệ sinh thái khổng lồ mà tự nhiên đã mất hàng trăm nghìn năm để hình thành.

Nhưng sông Nile cũng chưa được yên nghỉ. Ethiopia quyết định xây dựng thủy điện Đại Phục Hưng ở thượng nguồn sông Nile kể từ năm 2011. Đây sẽ là đập thủy điện lớn nhất châu Phi với kinh phí lên tới 4,5 tỷ USD, có hồ chứa nước diện tích tương đương với thủ đô London (Anh). Cũng chẳng khác gì người Ai Cập, người dân Ethiopia hân hoan và kỳ vọng với những mối lợi lớn mà công trình này sẽ đem lại cho đất nước họ.

Nhưng sông Nile cũng chưa được yên nghỉ. Ethiopia quyết định xây dựng thủy điện Đại Phục Hưng ở thượng nguồn sông Nile kể từ năm 2011.
Nhưng sông Nile cũng chưa được yên nghỉ. Ethiopia quyết định xây dựng thủy điện Đại Phục Hưng ở thượng nguồn sông Nile kể từ năm 2011. (Ảnh chụp màn hình Haiquanonline.com.vn)

Nhưng Ethiopia mà xây dựng thủy điện Đại Phục Hưng thì Ai Cập ở vùng hạ lưu sông Nile sẽ “Đại Suy Thoái” vì sự sống của cả đất nước Ai Cập trông vào sông Nile. Đập Aswan của Ai Cập cũng phải trông chờ vào Đại Phục Hưng ở bậc thang nằm trên nó thì mới có nước.

Chính là vì vấn đề này mà bao nhiêu căng thẳng đã diễn ra giữa Ai Cập – Ethiopia suốt 9 năm qua, thậm chí khả năng xảy ra chiến tranh giữa hai nước là hoàn toàn có thể.

Ai Cập đã chiếm đoạt nước của sông Nile để làm thủy điện còn Ethiopia cậy mình ở đầu nguồn, “hớt tay trên” nguồn nước của Ai Cập. Thành thử sông Nile như “khúc ruột dài nghìn dặm” nằm trên “bàn ăn” của mấy nước chung dòng mà nước nào cũng lăm le “tay dao tay dĩa” tranh tranh đoạt đoạt phần béo bở và lại xỉa xói mắng mỏ lẫn nhau, cứ như dòng sông và Mẹ thiên nhiên đã là vật sở hữu trong túi của họ.

Thành thử sông Nile như “khúc ruột dài nghìn dặm” nằm trên “bàn ăn” của mấy nước chung dòng mà nước nào cũng lăm le “tay dao tay dĩa”
Thành thử sông Nile như “khúc ruột dài nghìn dặm” nằm trên “bàn ăn” của mấy nước chung dòng mà nước nào cũng lăm le “tay dao tay dĩa”. (Ảnh: Wikipedia)

Chỉ có sông Nile bị băm chặt là đau khổ và chết dần chết mòn.

Vào tháng 8-2003, Furnas - tập đoàn điện lực quốc gia Brazil và công ty cổ phần xây dựng Odebrecht của Hà Lan đã cùng đệ trình một dự án phức hợp thủy điện và thủy lộ trên dòng sông Madeira, một phụ lưu chính của dòng sông Amazon. Quá nhiều kỳ vọng đã được đặt ra cho công trình vĩ đại này. Tuy nhiên, tổ chức Các dòng sông Quốc tế nhận định lịch sử của dòng sông Amazon đã bước qua một trang mới đánh dấu bởi lòng tham và những tính toán sai lầm của những người “cầm cân nảy mực”

Đồng thời, theo nghiên cứu của ông Philip Fearnside, Viện Nghiên cứu Quốc gia về Amazon (Brazil), hai dự án đập Antonio và Jirau sẽ tạo ra những tác động khổng lồ về môi trường, thậm chí còn gây ra lũ lụt tại nước láng giềng Bolivia vì dòng nước của sông Madeira bị chặn lại. Việc thay đổi dòng nước sẽ hủy diệt hệ sinh thái tự nhiên, ngăn cá di chuyển đúng chu kỳ và ảnh hưởng đến cả đa dạng sinh học lẫn đánh bắt thủy sản. Không chỉ thế, những dự án này còn khiến diện tích rừng Amazon bị đe dọa vì nó chắc chắn sẽ buộc các chính phủ tiếp tục tàn phá rừng Amazon để mở đất nông nghiệp.

Vậy là Nile, Amazon - những dòng sông lớn nhất nhì thế giới cũng bị đem ra “ngả món” trong cơn khát năng lượng và sự bất chấp hậu quả của các quốc gia đang phát triển ở châu Phi và Nam Mỹ.

Vùng rừng Amazon bị phá tại Brazil
Vùng rừng Amazon bị phá tại Brazil. (Ảnh: Wikipedia)

Quan điểm hiện tại về thủy điện ở các quốc gia phát triển phương Tây

“Tại Hoa Kỳ, chúng tôi đã xây dựng nhiều đập thủy điện vào đầu thế kỷ 20 đến giữa thế kỷ 20 khi chúng tôi không hiểu rõ về các dòng sông và hệ sinh thái như bây giờ. Chúng tôi cũng không có luật môi trường như vậy, như ‘Đạo luật về Nước sạch’, ‘Đạo luật về các loài có nguy cơ tuyệt chủng’, hoặc ‘Đạo luật Chính sách Môi trường Quốc gia’ vào thời điểm đó để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Vì vậy, bằng cách xây dựng các con đập trong thời kỳ “nguyên thủy”, chúng tôi đã làm tổn hại nghiêm trọng nhiều hệ sinh thái. Chẳng hạn như sự suy giảm sản lượng đánh bắt cá hồi trong lưu vực sông Columbia và sự tuyệt chủng của ốc sên và các loài trai trong lưu vực sông Coosa. Bằng cách xây dựng các con đập, chúng tôi đã bóp nghẹt cuộc sống của các dòng sông, do đó gây ra nhiều thiệt hại cho người dân, nền kinh tế địa phương và các loài cần dòng sông khỏe mạnh để tồn tại. Chúng tôi hiện đang hoàn tác các thiệt hại mà chúng tôi đã gây ra bằng cách bắt đầu loại bỏ các con đập. Tuy nhiên, các nước đang phát triển đang có kế hoạch xây dựng các con đập không nên lặp lại những sai lầm mà chúng tôi đã gây ra.”

Tuyên bố trên của “Hiệp hội sông ngòi Mỹ” cũng chính là quan điểm hiện nay của nước Mỹ về thủy điện.

Theo một nghiên cứu mới được thực hiện bởi được thực hiện bởi Giám đốc Tư vấn khoa học Christiane Zarfl và các đồng nghiệp tại Viện sinh thái nước ngọt và nghề cá nội địa Leibniz (Đức) năm 2014, 3.700 đập mới đang được xây dựng hoặc lên kế hoạch xây dựng chủ yếu tập trung ở các nước đang phát triển (khu vực Nam Mỹ, Đông Nam Á và châu Phi) sẽ không đáp ứng được nhu cầu điện của các nước đang phát triển nơi các đập được lên kế hoạch xây dựng. Thay vào đó, những con đập này sẽ mở đường cho những vấn đề sinh thái mới, giảm 21% số dòng sông chảy tự do trên thế giới và thậm chí có thể gây ra xung đột giữa các quốc gia trên mặt nước.

Như vậy, các con đập thủy điện là những kẻ tạo ra vấn đề, chứ không phải người giải quyết vấn đề.

3.700 đập mới đang được xây dựng hoặc lên kế hoạch xây dựng chủ yếu tập trung ở các nước đang phát triển (khu vực Nam Mỹ, Đông Nam Á và châu Phi) sẽ không đáp ứng được nhu cầu điện của các nước đang phát triển nơi các đập được lên kế hoạch xây dựng.
3.700 đập mới đang được xây dựng hoặc lên kế hoạch xây dựng chủ yếu tập trung ở các nước đang phát triển. Chấm màu đỏ là các đập đang lên kế hoạch xây dựng và chấm xanh là đang được xây dựng. (Ảnh qua Nbcnews.com)

Xu thế dỡ bỏ các con đập thủy điện của những quốc gia văn minh

Phương Tây chính là nơi những con đập thủy điện đầu tiên xuất hiện. Sớm nhất có đập Cragside, Rothbury, Anh quốc hoàn thành năm 1870; Đập Appleton, Wisconsin, Hoa Kỳ hoàn thành năm 1882.

Người Mỹ đã xây dựng rất nhiều đập nước từ đầu những năm giữa thế kỷ 20

Theo Hiệp hội Sông ngòi Mỹ (American Rivers), từ năm 1912 đến năm 2016, nước Mỹ đã phá bỏ 1.384 đập nước. Tính riêng trong năm 2016, có 72 đập bị gỡ bỏ, phục hồi gần 3.400 km dòng chảy. Theo một nghiên cứu của Đại học Porland (Mỹ) vào tháng 5/2018, nếu xu hướng gỡ bỏ các đập nước tiếp tục được thực hiện thì tới năm 2050, nước Mỹ sẽ có khoảng từ 4.000 – 36.000 đập được gỡ bỏ.

nước Mỹ đã phá bỏ 1.384 đập nước. Tính riêng trong năm 2016, có 72 đập bị gỡ bỏ, phục hồi gần 3.400 km dòng chảy.
(Ảnh chụp màn hình qua Trithucvn.net)

Trái với suy nghĩ bi quan của nhiều người, điều đáng ngạc nhiên và thú vị là sau khi các công trình đập thủy điện được gỡ bỏ, các dòng sông phục hồi mau chóng. Phần lớn các dòng sông trở lại trạng thái ổn định chỉ trong một vài tháng hay một vài năm, mà không cần tới hàng thập kỷ, đặc biệt là khi các con đập được phá hủy hoàn toàn một cách nhanh chóng mà không phải phá dỡ theo từng giai đoạn.

Tổ chức Mạng lưới Sông ngòi Quốc tế (International Rivers Network) cho biết, một năm sau khi gỡ bỏ đập thuỷ điện Edwards (năm 1999), loài cá di cư đã phục hồi phong phú như trước trên sông Kennebec của bang Maine. Hàng triệu con cá trích (một loài cá di cư phụ thuộc vào việc bơi ngược dòng lên thượng nguồn để đẻ trứng) đã trở lại và phát triển khắp dòng sông – nơi chúng đã không được nhìn thấy trong 160 năm trước đó.

Hàng triệu con cá trích (một loài cá di cư phụ thuộc vào việc bơi ngược dòng lên thượng nguồn để đẻ trứng) đã trở lại và phát triển khắp dòng sông
(Ảnh chụp màn hình từ baovemoitruong.org.vn)

Châu Âu cũng hưởng ứng mạnh mẽ xu thế gỡ bỏ các đập nước. Nước Pháp có những hành động đầu tiên, sau đó đến Tây Ban Nha, các quốc gia bán đảo Scandinavia và Đức cũng dần dần nghiên cứu và tiến hành gỡ bỏ các đập nước.

Vào năm 1985, khi một số đập lớn mới được đề xuất xây dựng dọc sông Loire (con sông dài nhất nước Pháp) và các chi lưu của nó, lo ngại cho sự sống của dòng sông Loire cũng như loài cá hồi Đại tây Dương, người dân và các tổ chức môi trường nước Pháp đã kịch liệt phản đối dự án này.

“Loire Vivante” là chiến dịch về môi trường được sự ủng hộ và góp sức của các tổ chức môi trường quan trọng ở nước Pháp và Quỹ Động vật hoang dã Thế giới (World Wildlife Fund). Làn sóng phản đối và những hoạt động của cộng đồng cùng các tổ chức sau đó đã dẫn tới việc Chính phủ Pháp chấp nhận “Plan Loire Grandeur Nature” vào năm 1994. Kế hoạch này được coi là nền móng quan trọng cho việc thiết lập các quy định về quản lý nguồn nước nói chung và việc gỡ bỏ các đập nước nói riêng tại Pháp.

Từ năm 1996 đến năm 1998, nước Pháp tiến hành gỡ bỏ 3 đập lớn là: Kernansquillec (cao 15m, trên sông Léguer), đập Maison-Rouges (cao 4 m, dài 300m, trên nhánh sông Vienne) và đập Saint-Etienne-du-Vigan (cao 12m, trên nhánh Allier của sông Loire).

Nước Pháp tiếp tục gỡ bỏ các đập nước trên dòng sông Loire trong các năm tiếp theo từ năm 2003 đến 2007. Sau nước Pháp, nhiều quốc gia châu Âu khác cũng tiến hành gỡ bỏ nhiều con đập. Theo tổ chức Gỡ bỏ đập nước châu Âu, đến nay đã có 3.450 đập tại các quốc gia ở châu lục này (gồm Thuỵ Điển, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Thuỵ Sĩ và Pháp) bị gỡ bỏ. Nước Anh cam kết khôi phục hơn 1.500km sông. Một trong những dòng sông lớn nhất Tây Ban Nha là Duero cũng đang phá bỏ các đập và công trình chặn dòng.

Tháng 4/2018, Tây Ban Nha phá bỏ đập Yecla Yeltes được xây dựng năm 1958 trên sông Huebra (tỉnh Salamanca); từ năm 2013 – 2016, gỡ bỏ đập Inturia (xây dựng năm 1913 trên sông Leitzaran; năm 2014, bỏ đập Robledo de Chavela (ngừng hoạt động từ năm 1990); năm 2013: bỏ đập Retuerta (được xây dựng trong những năm 1970) sau sự việc hệ thống nước xả của đập khiến cá ở khu vực hồ chứa và hạ lưu chết hàng loạt năm 2012…

Bản đồ các đập nước đã được gỡ bỏ ở châu Âu. (Nguồn: Dam Removal Europe. Bản đồ được cập nhật từ Dữ liệu Quốc gia Thuỵ Điển, Bộ Môi trường Tây Ban Nha (MAPAMA), Viện môi trường Phần Lan (SYKE), Uỷ Ban môi trường và Các nguồn nước xứ Wales.)
Bản đồ các đập nước đã được gỡ bỏ ở châu Âu. (Nguồn: Dam Removal Europe. Bản đồ được cập nhật từ Dữ liệu Quốc gia Thuỵ Điển, Bộ Môi trường Tây Ban Nha (MAPAMA), Viện môi trường Phần Lan (SYKE), Uỷ Ban môi trường và Các nguồn nước xứ Wales.)

Tương lai nào cho dòng Mekong – giải pháp cứu nguy

Như chúng ta đã chứng kiến ở các quốc gia văn minh, bằng cách dỡ bỏ các đập nước, đập thủy điện trên các con sông, dòng sông sẽ phục hồi, giải quyết được các vấn nạn về môi trường, sinh kế người dân và đem lại sự cân bằng sinh thái như trước khi con sông bị can thiệp thô bạo vào dòng chảy tự nhiên của nó. Như vậy, cách duy nhất để hồi sinh dòng sông Mekong đó là các quốc gia nằm trên lưu vực của nó phải chung tay xóa bỏ các đập thủy điện nằm trên dòng Mekong thuộc lãnh thổ của mình, trả lại nguyên trạng cho dòng sông. Và sau đó ta sẽ chứng kiến sự sống hồi sinh. Và nước ngọt, và phù sa màu mỡ, và tôm cá nhộn nhịp, và cây trái sum suê… hết thảy sẽ trở lại.

Nhưng như vậy chưa đủ. Người xưa đã từng nói: “tướng tùy tâm sinh, cảnh tùy tâm chuyển”, lòng người có biến chuyển, thì sự vật mới đổi dời, đó mới là giải pháp từ gốc rễ.

Có nghĩa là con người phải dứt khoát triệt bỏ tinh thần “Đấu Trời đấu Đất” ngạo mạn và giấc mộng ngông cuồng chinh phục thiên nhiên, bắt thiên nhiên phải phục vụ cho lòng tham không cùng của bản thân mình, giống như một chủ nhân ông ngạo nghễ của hành tinh xanh Trái Đất, dám thách thức cả cha Trời mẹ Đất, cốt sao cho mình được hưởng thụ vật chất nhiều hơn. 

Thay vào đó, con người phải chung sống hài hòa với thiên nhiên, phải hiểu thiên nhiên và nương theo sự vận hành của thiên nhiên mà sinh sống, phát triển; và hãy hiểu rằng: bảo vệ thiên nhiên và môi trường sống cần phải được đặt lên trên bất cứ những mối lợi nào dù to lớn đến đâu.

Và nước ngọt, và phù sa màu mỡ, và tôm cá nhộn nhịp, và cây trái sum suê… hết thảy sẽ trở lại nếu như chúng ta xoá bỏ các đập thuỷ điệp trên dòng sông Mekong.
Và nước ngọt, và phù sa màu mỡ, và tôm cá nhộn nhịp, và cây trái sum suê… hết thảy sẽ trở lại nếu như chúng ta xoá bỏ các đập thuỷ điện trên dòng sông Mekong. (Ảnh: Pixabay)

Đã có thời người ta say sưa với những giấc mơ xoay Trời chuyển Đất đến mức sẵn sàng phủ nhận những giá trị vĩnh hằng mà tự nhiên vẫn hào phóng ban tặng cho con người, như là trong những tụng ca thời kỳ Liên Bang Xô Viết:

“Con người nói với sông Đơ- Nhi - Ép:
Ta sẽ chắn ngươi bằng tường, thép
Để từ trên cao
Ngươi chảy xuống
Băng băng
Cho tàu chạy
nhanh hơn
Cho máy chạy
không ngừng.
Để từ nay
Nước dòng sông
Không còn trôi
Vô ích
Mà sẽ mang
Bánh mì
Điện
Than
Cho nhân dân
Dùng thoả thích.(1)

Dòng sông chưa bao giờ trôi vô ích, ngược lại con người trong hàng nghìn năm qua cần các dòng sông hơn là các dòng sông cần con người; và điện, than, bánh mì... hay bất kỳ một lợi ích vật chất thực dụng hay có tính tô vẽ phóng đại nào không phải và không bao giờ có thể là những vật trao đổi ngang giá với những dòng sông, với môi trường sống; những giá trị ngắn ngủi tiềm ẩn nhiều tai họa ấy sao có thể đánh đồng với lợi ích vĩnh viễn mà các dòng sông mang lại cho con người?

Văn hóa phương Đông có thuyết “Thiên nhân hợp nhất”, con người chính là một tiểu thế giới, một tiểu vũ trụ. Cơ thể con người có sự tương đồng, đối ứng với môi trường thiên nhiên.

Cơ thể người có những mạch máu mang dưỡng chất đi nuôi khắp các bộ phận của nó, có hệ thống kinh mạch: Hành khí huyết, dinh âm dương, nhu cân cốt, lợi quan tiết (lưu thông khí huyết, dưỡng âm dương tố chất, nuôi dưỡng các cơ quan), liên hệ toàn thân, để duy trì bình thường công năng sinh lý cơ quan tổ chức cơ thể.

Vậy nếu coi Trái Đất là một cơ thể sống có sự tương ứng với thân thể người thì dòng sông ấy cũng là một sinh thể, giống như một mạch máu, một kinh mạch trên cơ thể Mẹ Trái Đất. Nó vận chuyển nước và các chất dinh dưỡng thiết yếu để hỗ trợ hệ sinh thái cho cả hành tinh; nó kết nối đất đá trên núi cao với trầm tích dưới đáy đại dương; nó mang phù sa bồi đắp cho vùng châu thổ, từ đó mà có mùa màng bội thu; nó mang dinh dưỡng đầy ăm ắp trong dòng nước để nuôi dưỡng cá tôm, từ đó mà con người có nguồn thủy sản dồi dào phong phú.

Vậy nếu coi Trái Đất là một cơ thể sống có sự tương ứng với thân thể người thì dòng sông ấy cũng là một sinh thể, giống như một mạch máu, một kinh mạch trên cơ thể Mẹ Trái Đất. (Ảnh: Pixabay)
Vậy nếu coi Trái Đất là một cơ thể sống có sự tương ứng với thân thể người thì dòng sông ấy cũng là một sinh thể, giống như một mạch máu, một kinh mạch trên cơ thể Mẹ Trái Đất. (Ảnh: Pixabay)

Chặn dòng, chặt dòng ra từng khúc là làm tắc nghẽn mạch máu, phong bế kinh mạch của Mẹ Đất. Và cũng như cơ thể người, khi máu ngừng chảy, mạch ứ tắc, cơ thể Mẹ Đất sẽ sinh bệnh, sẽ chết bán phần, rồi toàn phần. Lúc ấy thì lợi ích nào bù đắp lại được? Những tai họa do phá hoại sông ngòi và môi trường không còn là lời dự báo mà đang hiện hữu và tác oai tác quái.

Không biết có phải vì có dự cảm chẳng lành hay không mà cách đây 166 năm, người tù trưởng da đỏ Seattle đã từng viết thư gửi tổng thống Mỹ Franklin Pierce:

“Những dòng sông là người anh em của chúng tôi, làm chúng tôi nguôi đi những cơn khát. Những dòng sông chuyên chở những con thuyền và nuôi lớn con cháu chúng tôi… Nếu có bán cho Ngài mảnh đất này, Ngài phải nhớ dạy bảo con cháu Ngài những dòng sông là người anh, người em của chúng tôi và các Ngài từ nay trở đi phải đối xử tử tế với những dòng sông như Ngài đã đối xử với anh em Ngài.”

Và câu cách ngôn sau đây của người da đỏ Cree mãi mãi là chân lý nhức nhối:

"Chỉ sau khi cái cây cuối cùng bị đốn xuống,
Chỉ sau khi dòng sông cuối cùng bị nhiễm độc,
Chỉ sau khi con cá cuối cùng bị đánh bắt,
Thì chúng ta mới biết được rằng chúng ta không thể ăn được tiền.“

Hết.

Nguyên Vũ

(1): Trích bài thơ “Nói với sông Dnepr” - Thái Bá Tân dịch. Nội dung bài thơ nói về công trình thủy điện Dnepr trên sông Dnepr ở Ukraine - con sông dài thứ 3 ở Châu Âu, được xây dựng trong thời kỳ Xô Viết từ 1927-1932 và được xây dựng lại sau Thế chiến 2 vào năm 1948. Công trình này thường được nhắc đến như một thành tựu của nền công nghiệp thời kỳ Xô Viết.