Thuận Trị - một vị hoàng đế hiếu học, nhiều thành tựu và ngộ Đạo: P1

6 tuổi lên ngôi, 14 tuổi đích thân chấp chính. Chỉ trong vòng 10 năm hoàng đế Thuận Trị đã biến một xã hội loạn lạc thành yên bình, khôi phục văn hóa truyền thống lấy Nho gia làm trung tâm, thực thi đức chính, mở khoa thi tuyển chọn nhân tài. Ông còn đạt nhiều thành tựu cao trong thư pháp và hội họa. Vậy mà ông đã chọn con đường xuất gia. Vì sao vậy?...

Trong sách Bố thủy đài tập, Mộc Trần Đạo Mân tiết lộ rằng trên cửa Phu Trai của Thuận Trị có bốn chữ "Sinh tử sự đại" (Sống chết là việc trọng đại), trên tường có viết: "Chớ nói đến già mới học Đạo, mồ mả toàn là kẻ thiếu niên" (Mạc đạo lão lai phương học Đạo, cô phần tận thị thiếu niên nhân).

Mộc Trần Đạo Mân đọc xong cảm khái vô vàn, bỗng cảm thấy vạn mối duyên trần đoạn diệt, nói với hoàng thượng rằng: "Thần tuổi thiếu thời đọc thơ từ của Lý Trác Ngô có câu "Mới đợi chờ thì ngàn vạn ức kiếp đã hết, hôm sau liền xuất gia".

Hoàng thượng lập tức trả lời: "Cũng mời lão hòa thượng giúp ta viết một câu, dùng để cảnh tỉnh bản thân".

Khi chào đời có dị tượng tốt lành

Vua Thuận Trị là hoàng đế đầu tiên của Mãn Thanh sau khi tiến vào Trung Nguyên. Mẫu thân của ông là Hiếu Trang Văn hoàng hậu khi mang thai thì quanh mình có ánh sáng đỏ bao quanh, như hình rồng cuốn. Trước khi sinh, Hiếu Trang Văn hoàng hậu mộng thấy một vị Thần Tiên bế một bé trai đặt vào lòng bà và nói: "Đây là vị chủ thống nhất thiên hạ đó".

Hiếu Trang tỉnh dậy đem giấc mộng kể với Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực, Hoàng Thái Cực rất vui mừng nói: "Điềm lành kỳ diệu, sinh con ắt dựng đại nghiệp". Sáng hôm sau, vua Thuận Trị chào đời, ánh sáng đỏ như đuốc chiếu sáng trong cung, trên không mùi thơm nhiều ngày không tản hết. Sách Thanh sử cảo có ghi chép về việc khi hoàng đế Thuận Trị ra đời rằng: "Vua sinh ra có thiên bẩm kỳ lạ, tóc đỉnh đầu dựng đứng, dáng rồng vẻ phượng, thần trí Trời trao".

Vua Thuận Trị
Vua sinh ra có thiên bẩm kỳ lạ, tóc đỉnh đầu dựng đứng, dáng rồng vẻ phượng, thần trí Trời trao. (Ảnh: Shutterstock).

Năm Sùng Đức thứ 8 (năm 1643), Hoàng Thái Cực băng hà, Ái Tân Giác La Phúc Lâm khi đó mới 6 tuổi ở Thẩm Dương kế vị. Năm 1644 cải nguyên là Thuận Trị. Lúc này hoàng đế Sùng Trinh tự sát ở núi Cảnh Sơn, Lý Tự Thành tấn công vào Bắc Kinh, Ngô Tam Quế bày binh ở Sơn Hải Quan. Đa Nhĩ Cổn dưới sự khuyên can của người Hán là Phạm Văn Trình đã dẫn quân Thanh tiến xuống phía Nam, liên hợp với hàng binh Ngô Tam Quế đẩy lui Lý Tự Thành.

Thuận Trị dưới sự hộ tống của thân vương Tế Nhĩ Cáp Lãng đã tiến vào thành Bắc Kinh tổ chức đại lễ khai quốc, tuyên cáo vương triều Thanh vào làm chủ Trung Nguyên. Năm Thuận Trị thứ nhất cho đến thứ bảy, đại quyền triều chính do hoàng thúc phụ Đa Nhĩ Cổn nhiếp chính chủ trì. Đa Nhĩ Cổn thích chinh phạt, bách tính phần nhiều chịu nỗi khổ của quân Thanh tàn bạo cướp bóc. Các thế lực phản Thanh tàn dư của nhà Minh nổi lên khắp nơi.

Thiếu niên chấp chính, trị quốc có phép hay

Năm 1650 Đa Nhĩ Cổn qua đời, Thuận Trị 14 tuổi đích thân chấp chính. Đến năm 24 tuổi, trong 10 năm đích thân chấp chính, ông đã nhiều lần hỏi các đại thần "Thiên hạ làm thế nào thì thịnh trị, làm thế nào thì loạn lạc?";  Ông cũng nói: "Quân đội tuy mạnh mà nền chính trị nhân đức không đủ để hợp với lòng Trời, thuận theo mong đợi của người dân thì cũng không được". Điều đó cho thấy Thuận Trị suy nghĩ và có nguyện vọng dùng lòng nhân để trị sửa thiên hạ.

Vua Thuận Trị thay đổi hết sách lược phát triển binh lực, và chủ ý thích chinh phạt của Đa Nhĩ Cổn trước đây, ông lấy việc an định và vỗ về dân làm gốc, đánh quan tham, khai khẩn đất hoang, giảm thuế, dùng đức quản lý thiên hạ. Đồng thời ông cải cách các cơ cấu trung ương, hoàn thiện cơ cấu hành chính quốc gia, cắt giảm làm suy yếu các thế lực gia tộc thân thích, dốc tâm Hán hóa, sử dụng người Hán, chiêu an Trịnh Thành Công. Về đối xử với những dân tộc thiểu số ở phía Tây Nam, ông tôn trọng tập quán dân tộc của họ, dừng thuế và miễn lao dịch.

Vua Thuận Trị dùng nhân đức trị quốc an dân
Quân đội tuy mạnh mà nền chính trị nhân đức không đủ để hợp với lòng Trời, thuận theo mong đợi của người dân thì cũng không được. (Ảnh: Shutterstock).

Năm Thuận Trị thứ 10 (năm 1659), quân Thanh chiếm lĩnh Vân Nam, hoàn thành đại nghiệp thống nhất. 18 năm tại vị, Thuận Trị trừng trị tham quan, trừ khử ác bá, tra xét quan lại, vỗ yên bách tính. Ông tiêu diệt nhà Nam Minh, bình định năm tỉnh. Ông sử dụng một loạt các biện pháp như tôn sùng Nho giáo, sử dụng cả người Hán, thế nên không chỉ đã ổn định được sự thống trị của nhà Thanh mà còn đặt nền móng vững chắc cho thời kỳ Khang Càn thịnh thế.

Chế độ giáo dục của hoàng thất Đại Thanh khi xưa đối với các hoàng tử nhỏ là áp dụng hình thức "nhật giảng", xây dựng riêng "Nhật giảng quán". Thuận Trị từ nhỏ đã được dạy Tứ thư như: Luận Ngữ, Đại Học... và những sách cho các đế vương trưởng thành như: Đế giám đồ thuyết, Trinh quán chính yếu... Nhưng vì lúc đầu do Đa Nhĩ Cổn nhiếp chính nên việc học tập còn nhiều thiếu sót.

Tư tưởng Nho gia trọng đức kính Trời, coi trọng nhân nghĩa trung tín, tự giác kỷ luật và khoan dung nhẫn nại đã ảnh hưởng đến Thuận Trị sâu sắc. Sau khi Thuận Trị đích thân chấp chính, ông càng đọc nhiều kinh (kinh điển), sử (sử sách), tử (Bách gia Chư tử và các trước tác tôn giáo), tập (văn tập, thi tập), để bổ sung cho những thiếu sót thời nhỏ. Hàng ngày ông dậy từ canh năm để đọc sách, ban ngày xem các tấu chương, còn dành thời gian học thuộc kinh điển. Có lúc đêm khuya còn khêu đèn học tập, học đến mức nôn ra máu.

Trong 10 năm chấp chính, Thuận Trị mở 4 khoa thi tuyển chọn nhân tài, tổng cộng được 1500 tiến sỹ. Ông chấn hưng chế độ khoa cử Nho gia lựa chọn nhân tài. Thuận Trị còn nâng cao chức quyền cho các quan người Hán, tăng số Đại học sỹ người Hán, nghe theo các phương sách quản lý quốc gia của các quan người Hán. Thuận Trị thường luận kinh, đàm đạo với các Đại học sĩ ở Thái Hòa Điện, tỏ rõ hoài bão của ông là "Hy vọng mình sẽ như Nghiêu Thuấn, hành động hợp với Đạo xưa".

Thuận Trị chăm đọc kinh sách để bù lại những thiếu sót thuở nhỏ không được học hành đến nơi đến chốn
Sau khi Thuận Trị đích thân chấp chính, ông càng đọc nhiều kinh (kinh điển), sử (sử sách), tử (Bách gia Chư tử và các trước tác tôn giáo), tập (văn tập, thi tập), để bổ sung cho những thiếu sót thời nhỏ. (Ảnh: Shutterstock).

Thuận Trị dốc lòng với văn hóa Nho gia đã đạt đến mức độ say mê. Ngô Chấn Vực thời Vãn Thanh trước tác Dưỡng Cát trai dư lục có đề cập: "Thế Tổ dốc lòng yêu thích Nho thuật, tay không rời sách, xây dựng Phu Trai trong cung, là nơi đọc sách và nghỉ ngơi".

Trong Phu Trai có bày biện những gì? Mấy chục giá sách chất đầy kinh, sử, tử, tập, nghệ thuật truyền kỳ, tiểu thuyết của các quan nhỏ... Ở giữa thư trai có một cái bàn dài, phía trên bày đồ sứ cổ vật, ấn chương, sách hội họa, phía dưới bàn là hơn trăm đĩa hoa nhài, hoa lan tỏa hương thơm dịu.

Cách bài trí này là bố cục thư trai trang nhã điển hình của văn nhân danh sĩ người Hán, Thuận Trị làm gì ở đó? Bành Tôn Di người ở cuối đời Minh đầu thời Thanh có ghi chép trong sách Khách xá ngẫu văn rằng, Thuận Trị ở trong thư trai đó đi giày cỏ, mặc áo cánh mỏng, hoàn toàn là trang phục của danh sĩ miền Nam. Khi tiếp kiến các tiến sĩ thi đỗ khoa cử, hoàng thượng ban ngồi, bảo họ ngồi xuống sàn, quân thần thong dong đàm đạo về các vấn đề thời sự, chính sách thành công hay thất bại, về dân sinh dân tình và những vấn đề thịnh hành đương thời, mọi người như nhóm bằng hữu đàm cổ luận kim, chẳng phải rất vui lắm thay.

Hoàng đế Thuận Trị tôn sùng văn hóa Nho gia không chỉ xuất phát từ tu dưỡng cá nhân, mà liên quan nhiều đến nguyện vọng của ông là dùng văn hóa Nho gia để quản lý thiên hạ. Tháng Giêng năm Thuận Trị thứ 10, ông đàm luận cùng quần thần ở điện Thái Hòa đã nói: "Về những điều lệ, chương trình mà Hồng Vũ (tức Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương) đã đặt định, quy hoạch chu toàn tỉ mỉ, trẫm có thể nói là các vị quân chủ các triều đại đều không bằng Hồng Vũ".

Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đã thu hồi giang sơn từ tay người Mông Cổ về tay người Hán, Mãn tộc Đại Thanh lại đoạt giang sơn triều Minh từ tay người Hán. Vị hoàng đế đầu tiên nhà Mãn Thanh sau khi vào Trung Nguyên lại ca ngợi Hồng Vũ đại đế đánh đuổi ngoại Di, không thể không nói vị hoàng đế thiếu niên này có tình cảm sâu đậm với văn hóa truyền thống Trung Hoa, và cũng có huệ nhãn phong phú, không câu nệ lề thói cũ. Năm Thuận Trị thứ 12, Thế Tổ từng xuống chỉ dụ rằng: "Trẫm sẽ phục hưng dùng văn giáo hóa, sùng Nho thuật, để khai mở thái bình".

Sử dụng Nho học để trị quốc an dân
Năm Thuận Trị thứ 12, Thế Tổ từng xuống chỉ dụ rằng: "Trẫm sẽ phục hưng dùng văn giáo hóa, sùng Nho thuật, để khai mở thái bình". (Ảnh: Shutterstock).

Văn học thư họa đều tinh thông

Thuận Trị còn là một thiên tử kỳ tài, văn học thư họa đều tinh thông. Những đánh giá của ông về "Hồng phất ký" và "Tây sương ký" rất cao và tuyệt diệu. Đối với danh gia đương thời là Kim Thánh Thán ông cũng có cách nhìn riêng: "Ông ta (Kim Thánh Thán) đã từng phê bình "Tây sương", "Thủy Hử truyện", nghị luận có suy nghĩ xa xôi, không tránh khỏi khiên cưỡng, có lẽ là người tài cao mà hẹp hòi".

Để đánh giá văn chương những người dự thi tiến sĩ ở kỳ thi điện, Thuận Trị đã đem 200 bài văn chương kỳ thi hương, thi hội từ thời Hồng Vũ nhà Minh đọc hết, như thế đủ thấy ông chuyên cần triều chính và coi trọng văn hóa Hán như thế nào.

Thư pháp của Thuận Trị cũng rất xuất sắc. Văn hào Vương Sĩ Trinh thời Thanh Sơ đã khen thư pháp Thuận Trị là "Bút thí phi động" (Nét bút thi nhau bay nhảy). Về vẽ tranh, Thuận Trị đặc biệt giỏi vẽ tranh sơn thủy, vẽ dung mạo chi tiết. Vương Sĩ Trinh đánh giá tranh của ông: "Quả thực là thiên phú", "Quả thực có phong vị của người đời Tống và đời Nguyên". Vua Thuận Trị còn giỏi dùng vân tay vẽ tranh trâu qua sông, rất tinh xảo tuyệt diệu, là người khai sáng trường phái tranh vẽ bằng ngón tay đời Thanh.

Thế Tổ vẽ tranh, thư pháp luôn luôn tùy theo cảm hứng dẫn đến sáng tác cảm động. Sử sách ghi chép, một lần ông vẽ bức tranh nhân vật tả thực, là lúc ở trong cung nảy sinh ý tưởng mà hoàn thành.

Thế Tổ giá lâm nội các, đúng lúc Trung thư Đại học sĩ Thịnh Tế Tư đi qua. Thế Tổ vội vàng gọi ông ta lại, để ông ta quỳ trước mặt Thế Tổ, Thế Tổ chăm chú ngắm nghía ông ta một lát, lệnh cho người lấy bút mực đến, lập tức vẽ ngay tại chỗ, một lát vẽ xong, vô cùng giống thật. Đem cho quần thần xem, không ai không khen ngợi kỹ thuật vẽ chi tiết của hoàng đế.

Các bức tranh quý như "Cổ bách đồ", "Chung Quỳ đồ", "Sơn thủy đồ"... đa phần đều được ông ban cho các đại học sĩ người Hán. Dưới sự ảnh hưởng của ông, các hoàng đế Khang Hy, Ung Chính, Càn Long, Gia Khánh, Đạo Quang và vương thất nhà Thanh dấy lên trào lưu sùng chuộng văn hóa và thư họa người Hán.

Hoàng Mai (biên dịch)

Tác giả: Tông Gia Tú
Theo epochtimes.



BÀI CHỌN LỌC