Thôi Bối Đồ giải mã vận mệnh của Tập Cận Bình

Có khá nhiều bài viết về Tổng thống Trump là Người được Chúa lựa chọn. Ở đây tôi xin phép không lặp lại đề tài này, mà sẽ đề cập tới một khía cạnh khác. Đó là lựa chọn số phận của Tập Cận Bình.

Kể từ thời Giang Trạch Dân, số phận của các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã được sắp đặt như một lựa chọn để giải thể thể chế ĐCSTQ. Hồ Cẩm Đào đồng âm nghĩa là "Hồ đồ Khẩn trương Đào thoát”. Ông đã dẫn dắt các đảng viên ĐCSTQ thoát ly ra khỏi tổ chức đảng. Làn sóng thoái ĐCSTQ trên toàn cầu bắt đầu từ năm 2004, và ngay sau khi Hồ Cẩm Đào nắm quyền không lâu thì bệnh dịch bùng phát.

Hồ Cẩm Đào đồng âm nghĩa là "Hồ đồ Khẩn trương Đào thoát”. Ông đã dẫn dắt các đảng viên ĐCSTQ thoát ly ra khỏi tổ chức đảng.
Hồ Cẩm Đào đồng âm nghĩa là "Hồ đồ Khẩn trương Đào thoát”. Ông đã dẫn dắt các đảng viên ĐCSTQ thoát ly ra khỏi tổ chức đảng. (Getty)

Còn số phận của Tập Cận Bình hoàn toàn có thể được thể hiện qua quẻ số 46 của Thôi Bối Đồ.

Sấm viết: 

Ảm ảm âm mai sát bất dụng đao
Vạn nhân bất tử nhất nhân nan đào 

Nghĩa đen:

Bụi mù ảm đạm, giết người không dao
Vạn nhân không chết, một người khó thoát

Tụng viết: 

Hữu nhất quân nhân thân đới cung
Chỉ ngôn ngã thị bạch đầu ông
Đông biên môn lý phục kim kiếm
Dũng sĩ hậu môn nhập đế cung

Nghĩa đen:

Có một quân nhân thân đeo cung
Chỉ nói ta là ông đầu trắng
Bên trong cửa Đông kiếm vàng phục
Dũng sĩ cửa sau vào cung vua

Còn số phận của Tập Cận Bình hoàn toàn có thể được thể hiện qua quẻ số 46 của Thôi Bối Đồ.
Còn số phận của Tập Cận Bình hoàn toàn có thể được thể hiện qua quẻ số 46 của Thôi Bối Đồ. (Getty)

Chữ Hán có rất nhiều ý nghĩa, bởi vì nội hàm đằng sau nó có nhiều tầng lớp. Giống như mắt chúng ta nhìn thấy một vật thể dưới dạng hình ảnh bình phẳng, tuy nhiên thực ra chúng là lập thể. Chúng ta lấy một ví dụ: nhìn từ ​​vệ tinh khu vườn trên cùng của một tòa nhà cao trên trái đất là một mặt phẳng. Nếu chúng ta đi xuống dưới mặt đất, chúng ta có thể nhìn thấy tất cả các tầng của tòa nhà này. Khi chúng ta chụp ảnh khu vườn trên mái vào những thời điểm khác nhau, sẽ thấy những người khác nhau, đây là hình ảnh những người khác nhau ở mỗi tầng vào những thời điểm khác nhau tại khu vườn.

Tương tự như vậy, một lời tiên tri có nhiều cách giải thích khác nhau vì nội hàm đằng sau nó cũng có nhiều lớp, giống như lời dự ngôn nhắc tới ở trên.

Rất nhiều người đều đang giải mã lời tiên tri này. Miễn là họ không đứng từ quan điểm của chủ nghĩa vô Thần và bảo vệ lợi ích bản thân, thì không có gì sai. Bởi vì những người đã giác ngộ nhìn thấy cảnh tượng phong phú đa chiều, còn mỗi chúng ta chỉ nhìn được cục bộ từ các góc nhìn khác nhau. Tôi nói về lý giải của mình theo Đạo hạnh của mình.

“Sấm viết” ý nghĩa là giải mã bí mật:

"Bụi mù ảm đạm, giết người không dao" (Ảm ảm âm mai sát bất dụng đao) dùng để chỉ loại virus gây bệnh dịch này. Điều này rất dễ hiểu, và mở rộng ra nó bao gồm cả khói mù và "tà linh cộng sản Trung Quốc".

"Bụi mù ảm đạm, giết người không dao" dùng để chỉ loại virus gây bệnh dịch này. Điều này rất dễ hiểu, và mở rộng ra nó bao gồm cả khói mù và "tà linh cộng sản Trung Quốc".
"Bụi mù ảm đạm, giết người không dao" dùng để chỉ loại virus gây bệnh dịch này. Điều này rất dễ hiểu, và mở rộng ra nó bao gồm cả khói mù và "tà linh cộng sản Trung Quốc". (Tổng hợp)

"Vạn nhân không chết" (Vạn nhân bất tử) là ám chỉ phù hiệu "卍", thời nhà Đường được gọi là "Vạn", nghĩa là có chân ngôn của Di Lặc bảo hộ không chết.

"Một người khó thoát" (nhất nhân nan đào) căn cứ theo nhân vật khác nhau có nội hàm khác nhau. Phần sau sẽ giải đáp chi tiết.

"Tụng viết" có nghĩa là sự tán tụng sự sắp đặt của Trời.

"Có một quân nhân thân đeo cung" (Hữu nhất quân nhân thân đới cung), một tầng ý nghĩa trong đó mà nhiều người đã phát hiện ra trong nhiều lời dự ngôn, vị Thánh cứu thế luôn liên quan đến cung “弓”. Thực tế thì các chữ cung “弓”,cung nhĩ ”弓耳”,cung nhĩ ”弓尔”là ẩn dụ của chữ Di “弥”. Trong lời dự ngôn này, nó rõ ràng hơn. "Thân đới cung" (thân đem cung) cho thấy cung này không phải là cung giương lên, mà là cung bay, chính là "弥" (Di). Từ "Di" xuất hiện lần đầu tiên trong các bản kim văn của triều đại Tây Chu, ban đầu có nghĩa là để buông lỏng dây cung. "Quân" là lấy “vũ lực cách mạng (giết chóc) để “Lặc” (cưỡng chế). Hai từ hợp lại chính là nhân vật chuyển sinh làm “Di Lặc”, có thể hô ứng với chữ "卍" nói trên.

"Chỉ nói ta là ông đầu trắng" (Chỉ ngôn ngã thị bạch đầu ông). "Bạch đầu ông" ở đây chỉ loại thảo dược “Nại Hà thảo” (còn gọi là hoa Bạch đầu ông, hoa Phục sinh), có tác dụng thanh nhiệt, giải độc. "Chỉ ngôn" có nghĩa là chỉ có chân ngôn của Ngài là liều thuốc giải độc.

Phật Di Lặc
Ảnh minh họa. (Pxfuel)

Lớp nghĩa thứ hai là một người lính là một hán tử có vũ lực, ghép là Vũ Hán; "nhất thân (人) cung (弓)" là "夷" (Di), và Đạo Đức Kinh nói: "Nhìn không thấy là Di". Tổng hợp lại: Vũ Hán có dịch (dịch bệnh) không nhìn thấy (chữ 疫 - dịch  và 夷 - di là đồng âm trong tiếng Quan thoại).

Lớp hàm nghĩa thứ ba đề cập đến thống soái quân đội thời hiện nay là ông Tập Cận Bình. “Di”(夷) có nghĩa là bình thản. Vương An Thạch, nhà cải cách đời Tống, từng nói trong “Du Hoa Sơn ký”: “Phù di dĩ cận, tắc du giả chúng. Hiểm dĩ viễn, tắc chí giả thiểu” (Nơi bình yên mà lại gần thì người du ngọan sẽ nhiều, nơi hiểm trở mà xa thì người đến sẽ ít). Chẳng lẽ đây là ngẫu nhiên sao?

"Chỉ ngôn ngã thị bạch đầu ông". Tách chữ Bạch đầu ông "白頭翁" ra là Công - vũ - bạch “公羽白" tức là thành chữ Tập Công "習公" (ông Tập), chỉ ra thời điểm xảy ra bệnh dịch là khi ông Tập đang nắm quyền. Nếu ông hành động thuận theo thiên ý và tuân theo pháp cứu rỗi của Phật Di Lặc, thì sẽ thoát được đại nạn (一人難逃 - nhất nhân nan đào: chữ 一人 ghép lại thành 大 - đại). Ông ta cũng có thể có được danh tiếng vạn thế và chân chính thực hiện được "Dũng sĩ cửa sau vào cung vua" (dũng sĩ hậu môn nhập đế cung). Vì trong mệnh của ông ấy đã được đặt định điều này.

"Bên trong cửa Đông kiếm vàng phục" (Đông biên môn lý phục kim kiếm), "Đông biên môn lý" đối ứng với "Tây lai u linh", ám chỉ văn hóa truyền thống phương Đông. "Kim kiếm" chỉ thanh kiếm trí tuệ của Phật gia. Ông Tập từng là nhân vật số một huyện Chính Định, tỉnh Hà Bắc, và Văn Thù Bồ Tát đã sử dụng pháp môn Tịnh hành làm trung tâm. Trong pháp môn tịnh hành người đứng đầu cần phải luôn nghĩ tới dân chúng, cần vô tư, đặt lợi ích của người dân làm đầu, giữ cho bản thân thanh tịnh không ô nhiễm mà lợi dân. Và "không quên nguyện vọng ban đầu, luôn có thủy có chung". Đó chính là điều Văn Thù Bồ tát truyền dạy. Nếu ông Tập có thể thuận theo con đường đó mà làm và xóa bỏ ĐCSTQ vốn đối đầu với Thần Phật, ông sẽ có được công danh của bậc đế vương. Nếu ông làm ngược lại, vì tư lợi bản thân mà tiếp tục duy hộ tà đảng, phản bội Thần Phật, thì "一人(大)难逃”(một người (đại) khó thoát) chính là chỉ ông ta sẽ bị đại dịch "nuốt chửng". Và sứ mệnh của ông ta sẽ được được một người khác tới hoàn thành. Đây chính là “Đông biên môn lý” ám chỉ tên của một nhân vật khác được lựa chọn (sẽ được tiết lộ trong một bài viết khác dựa trên diễn biến của tình huống). Nếu người này cũng không hoàn thành sứ mệnh, sẽ có người khác được chọn thay thế. Đây chính “dũng sĩ” được chỉ trong “dũng sĩ hậu môn nhập đế cung”.

Đọc hiểu thiên cơ, cho mình một cơ hội, cho dân tộc một cơ hội, cho quốc gia một cơ hội. Sáng Thế Chủ từ bi, trước những đợt sóng bệnh dịch tới, Ngài đã cho con dân Thần Châu một cơ hội khác.

Minh An
Theo Secretchina



BÀI CHỌN LỌC