Thần tích nước Nam (Kỳ 5): Tản Viên Sơn Thánh - vị Thượng đẳng linh Thần, thủy tổ của nước Nam [Radio]

Bình luận Nguyên Phong • 07:30, 16/04/21

Giúp NTDVN sửa lỗi

Lý giải độc đáo về Tản Viên Sơn Thánh và trận chiến Sơn Tinh - Thủy Tinh dưới góc nhìn tu luyện.

Lời tựa:

Trong Sấm ký, bản quốc ngữ Hương Sơn của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm mở đầu bằng câu thơ: “Nước Nam thường có thánh tài” như một lời khẳng định nước Nam là một vùng đất “địa linh nhân kiệt”. Thành ngữ Trung Hoa có câu “Sơn Tiên Thủy Long” tạm hiểu  là: “núi không cần cao vẫn có tiên ở nên danh nổi, nước không vì sâu vẫn có rồng nằm nên hóa linh”, cũng có thể dùng để nói về nước Nam ta vậy.

Bởi thế, nội dung của loạt bài này sẽ là về những Thần tích nước Nam. Đây là những câu chuyện dẫu có lúc chẳng phải chính sử, mà dựa trên huyền sử, dã sử… vẫn bàng bạc sắc màu của văn hóa thần truyền. Dẫu là tác phẩm phóng tác, đôi lúc hư thực khó phân... vẫn thấm đượm tinh thần và hào khí nước Nam.

Đó vẫn là những tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt và nhân loại nói chung, mà chúng tôi muốn góp phần nhỏ bé để truyền tải và lưu giữ.

Xem lại: Thần tích nước Nam
Kỳ 1: Thánh Nguyễn Minh Không, Hồ Tây và con trâu vàng phương Bắc
Kỳ 2: Trận thư hùng cuối cùng của Hai Bà Trưng
Kỳ 3: Cuộc đấu với Cao Biền hay câu chuyện về vị Thành hoàng Thăng Long
Kỳ 4: Chử Đồng Tử - vị Thánh bất tử và mối tình huyền thoại với công chúa Tiên Dung

Kỳ 5: Tản Viên Sơn Thánh - vị thượng đẳng linh Thần, thủy tổ của nước Nam

Tản Viên - linh sơn đệ nhất trời Nam

Ở phía Tây Bắc của thành Phong Châu có một dãy núi hình như chiếc lọng, dáng núi sừng sững, đỉnh núi xòe ra như tán nên gọi là Tản Viên. Núi có khí tượng đế vương, được xem như vua của các ngọn núi ở nước Nam này. Từ xa xưa đã có câu đối tả khí thế của núi:

“Châu hình đẩu tiễn thiên hoành không
Hạo khí quan mang vạn cổ tồn”.

Tạm dịch là:

“Dáng hình sừng sững ngang trời rộng
Hạo khí mênh mang vạn thuở còn”.

Câu đối ấy được dán trên ngôi đền cổ nằm trên đỉnh núi. Đền này có từ thời vua An Dương Vương, là nơi ngự của tam vị Tản Viên Sơn Thánh.

Tản Viên - linh sơn đệ nhất trời Nam (Nguồn: Wikipedia - CC BY-SA 4.0)

Xét từ thuở cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ chia tay nhau, 50 người con theo cha xuống biển, 50 người theo mẹ lên núi thì đức Thánh Tản Viên thuở ban đầu chính là người con trưởng của cha Lạc mẹ Âu.

Ngài vốn là vị tiên Thái Bạch Kim Tinh chuyển sinh, bẩm sinh đã khác lạ, tư chất phi phàm. Đức Thánh Tản Viên không giữ ngôi vua mà nhường cho người em thứ ba, còn ngài ở trên núi Tản, chỉ chuyên tâm vào việc tu luyện. Núi Tản Viên này lại chính là nơi động thiên phúc địa, là long mạch chủ của nước Nam, dáng núi đẹp đẽ, đỉnh có thể thông với Thiên đàng, chân lại ăn sâu tới địa phủ. Tất cả các núi cao đường xa của nước Nam đều dẫn về chầu quanh nơi này. Ngài ở đó tu luyện ngày càng tinh tấn, sau 16 năm thì đắc Đạo. “Thượng Đế sắc phong ngài làm Nam Nhạc thần, nắm quyền Nam Tào Bắc Đẩu, là chủ của vạn thần nước Nam. Tất cả việc nối ngắt các triều đại, hóa sinh của người vật, không có gì là không thuộc quyền xét của Thánh, là đại diện phân xử chính. Đến nay việc ra vào đi đứng, ăn uống trang phục đều như lúc còn sống. Trong các thần bất tử nước Nam thì Tản Thánh ta là đứng đầu” (1).

Thời Hùng Vương là một thời đại thịnh trị của nước Nam, bởi lẽ các đời vua Hùng đều có đức lớn, nhiều người tu Đạo, nhân dân an cư lạc nghiệp sống đời đạo đức, lại có long mạch cực thịnh và sự bảo hộ của Đức Tản Viên Sơn Thánh. Buổi thái bình thịnh trị cứ thế trôi đi đến gần 2000 năm.

Sự an bài của Thiên Thượng

Một ngày trên Thiên đình, đức Ngọc Đế thiết triều tại Linh Tiêu bảo điện, bỗng có vị Tăng Trường thiên vương vào tâu rằng:

- Vạn tuế! Ngoài cửa Nam Thiên có vị Nam Nhạc Thần dâng biểu, xin Đấng Thiên Tôn truyền phán.

Mười phương trăm nước Pháp Luân rực sáng, khắp trời cùng mừng vui, thời hạn đã hết.
Ngoài cửa Nam Thiên có vị Nam Nhạc Thần dâng biểu (Ảnh: Shenyun.com)

Ngọc đế truyền lệnh:

- Mời vào.

Vị Nam Nhạc Thần tức Tản Viên Sơn Thánh lạy tạ xong, chuyển tiên đồng dâng lên tờ biểu. Đức Ngọc đế xem trong biểu có đoạn:

“Tiểu thần là Nam Nhạc Thần được giao quyền cai quản việc Thần việc người nước Nam, tâu với Đức đại thiên thánh chúa Ngọc Hoàng Thượng Đế rằng: Họ Hùng đã làm vua nước này được gần hai thiên niên kỷ, nay khí số đã gần hết, tiểu thần cũng sắp mãn kỳ làm hộ Thần nước Nam. Nay thần dâng biểu, cúi mong Đức Ngọc đế an bài cho họ khác lên thay và cử người thay thế tiểu thần làm Tản Viên Sơn Thánh. Cẩn tấu!”.

Ngọc đế xem biểu xong phán:

- Ừ, cũng đến lúc Nam Nhạc Thần trở lại tiên giới, làm Thái Bạch Kim Tinh rồi. Có điều, khi triều đại họ Hùng kết thúc cũng là lúc nước Nam cần phải được thanh tẩy bằng một trận Hồng Thủy. Ở phương Bắc trước kia đã có tiên nhân xuống trần làm Hạ Vũ, sau giúp dân trị thủy ở nơi ấy. Còn phương Nam cũng cần có người Trời hạ thế, vừa thế chỗ cho Thái Bạch Kim Tinh làm Tản Viên Sơn Thánh, lại thuận theo an bài của Thiên thượng mà hành sự.

Đức Ngọc đế vừa dứt lời, có hai vị tiên trưởng uy phong lầm lẫm từ trong ban tiến ra tâu:

- Bẩm Đức Ngọc đế, chúng thần cúi mong được lãnh nhận trách nhiệm này.

Hai vị tiên trưởng ấy là ai? Một vị là Thất Sát tinh quân, vị kia là Thiên Tướng tinh quân, họ là bằng hữu thân thiết và đều thuộc chòm Nam Đẩu tinh quân. Ngọc đế phán:

- Vậy Thiên Tướng tinh quân sẽ kế nhiệm Thái Bạch Kim Tinh làm Tản Viên Sơn Thánh, Thất Sát tinh quân đầu thai làm thế tử của Động Đình Quân. Nhưng cần thêm một tiên nữ xuống làm ái nữ của vua Hùng để hai vị diễn một màn tranh dâu long trời long lở đất, mới có cớ để tạo lụt lội nhấn chìm nhân gian, ấy cũng là thuận theo an bài của Thiên thượng. Ta sẽ xuống chiếu sai Hằng Nga cung Quảng Hàn đi làm việc này. Các khanh xuống đó, đừng phụ sứ mệnh trẫm giao phó, cũng đừng quên ngày trở lại thiên giới.

Thế rồi Thất Sát tinh quân xuống trần trước tiên, Thiên Tướng tinh quân chọn thêm hai người phụ tá nên xuống sau một ngày, Hằng Nga chọn người tạm thay nàng chưởng quản Quảng Hàn cung, rồi cũng hạ thế sau đó hai hôm nữa.

Thiên thần giáng thế

Đời Hùng Vương thứ 18, ở tỉnh Sơn Tây, đạo Hưng Hóa, phủ Gia Hưng, huyện Thanh Sơn có động Lăng Sương là nơi đẹp đẽ, khí lành vương vấn. Ở đó có đôi vợ chồng già Nguyễn Cao Hạnh và Đinh Thị Đen tuy đức độ phú quý nhưng tuổi cao mà vẫn hiếm muộn. Ông Nguyễn Cao Hạnh có người em trai là Nguyễn Cao Khang tu nhân tích đức đã nhiều nhưng cũng hiếm muộn đường con cái. Cả hai anh em cùng biện lễ đến cầu tự nơi thần núi Tản Viên. Một hôm, lão bà Đinh Thị Đen gặp rồng vàng hiện, tắm trên đá trắng rồi bỗng thấy trong người khang khác, 14 tháng sau sinh một trai khôi ngô tuấn tú, thông minh dĩnh ngộ, phong tư vạn người có một. Hai ông bà đặt tên con là Nguyễn Tuấn. Cùng lúc ấy, vợ chồng ông Nguyễn Cao Khang cũng sinh được hai người con trai hình vóc phi phàm, đặt tên là Hiển và Sùng.

Khi Tuấn lên 6 tuổi thì cha mất, rủi thay mấy tháng sau vợ chồng người chú Nguyễn Cao Khang cũng theo nhau quy tiên. Bà Đinh Thị Đen mang hai đứa trẻ Hiển, Sùng về nuôi cùng với con mình, nhưng cảnh một lão bà chăm ba đứa trẻ mới vất vả làm sao. Vậy nên năm chúng lên 7 tuổi, ba mẹ con bác cháu dắt díu nhau đến xứ Mang Bồi, núi Thứu Lĩnh Ngọc Tản ngụ cư dưới sự che chở của Lão bà Ma Thị, là Cao Sơn Thần Nữ. Còn Nguyễn Hiển, Nguyễn Sùng cũng được Ma Thị giao cho em trai là Ma Lôi nuôi.

Hai năm sau, Nguyễn Tuấn tìm về động Lăng Sương thăm mộ cha, rồi khi lên 12 tuổi, Tuấn tìm Lý Đường tiên sinh để học đạo. Lúc này, Nguyễn Tuấn đã đổi tên thành Nguyễn Tùng. Tùng thông minh hiếu học, chăm chỉ nỗ lực, ngày kiếm củi nuôi thân, đêm chong đèn đọc sách, dẫu có nghèo khó vẫn vui vẻ không đổi chí, tuy vậy vẫn thường ứa nước mắt thương mẹ già vò võ ngóng trông. Được mấy năm Tùng đã học thành, từ biệt thầy về núi cũ, nhận bà Ma Thị làm mẹ nuôi rồi đưa mẹ đẻ lên ở hẳn trên núi Tản Viên để phụng dưỡng. Hai năm sau, lão bà Đinh Thị Đen mất. Tùng chôn cốt mẹ rồi ở cùng bà Ma Thị và vẫn làm nghề kiếm củi như trước.

Một hôm, Nguyễn Tùng lên núi chặt một cây đại thụ, rồi trở về động báo người đem cây về. Khi lên tới nơi, cả đám lại thấy cây còn nguyên vẹn, lá cành tốt tươi như lúc chưa bị đốn hạ. Tùng lấy làm lạ, lại chặt một lần nữa, chặt xong, chàng bảo đám người kia về trước, còn chàng cũng làm ra vẻ về theo nhưng lại phục ở đó để xem xét. Nửa đêm, bỗng thấy một ông lão thân cao một trượng, râu tóc bạc phơ, áo trắng như tuyết, tay chống gậy trúc xanh biếc, ung dung phớn phở như Thần tiên. Ông lão đó tới gần cây đại thụ, lấy gậy chỉ vào cây, miệng lầm rầm niệm chú, tức thì khí thiêng tụ về, không gian như chập chờn biến hóa, rồi cây đại thụ nằm sóng soài trên mặt đất bỗng dưng trở dậy liền lại với gốc như cũ.

Nguyễn Tùng liền chạy ra khỏi chỗ nấp, đến ôm chặt lấy ông lão nói: “Cụ là ai? Ở đâu tới đây? Sao lại tiếc thương một cây cổ thụ mà chẳng thể tất cho kẻ lưu lạc cơ hàn này?”. Ông lão ôn tồn trả lời: “Ta chính là Sơn Tinh đại thần, vốn là Thái Bạch Thần Tinh Tử Vi thiên tướng, tức Thái Bạch Kim Tinh, vâng lệnh đức Ngọc đế xuống cai quản nước Nam. Cây đại thụ này là cây ngô đồng, cây gỗ đứng đầu trong các loại gỗ quý ở núi Tản trời Nam này, là nơi phượng đậu cất cao tiếng gáy báo hiệu Thánh đế ra đời, đem lại buổi thái bình thịnh trị, sao có thể để ngươi chặt đi được”.

Nguyễn Tùng thấy vậy lạy tạ nói rằng: “Lời của tiên trưởng sáng như gương, Tùng tôi đâu dám không nghe. Ngặt nỗi cơ Trời biến hóa khôn lường, mà đời người vô thường như mây bay khói tỏa, sinh sinh hóa hóa mãi không thôi. Nguyễn Tùng tôi mang tâm nguyện cứu độ thế nhân nhưng tài hèn sức mọn, chẳng thể làm gì, phải chi có được gậy thần và lời chú thì trên có thể báo ơn vua, dưới giúp cho bách tính, cũng khiến cha mẹ được ngậm cười nơi chín suối”.

Thái Bạch Kim Tinh nghe vậy, biết là chí của Tùng đã định, bèn giao cho Tùng gậy thần cùng lời chú và nói:

“Cây gậy này đầu trên có thể cải tử hoàn sinh, đầu dưới lại trừ được họa, phép màu linh nghiệm, cơ biến huyền diệu. Chỉ người có đức lớn mới dùng nổi, hãy cẩn trọng cẩn trọng!”.

Dứt lời, Kim Tinh cưỡi mây bay lên Trời. Cuộc chuyển giao Thần vị “Tản Viên Sơn Thánh” đã diễn ra đơn giản như thế.

Nước này không có người quản lý, hết thảy đều hành xử theo tự nhiên, người dân thuần chân vô tà, không có tư tâm và dục vọng, cũng không có tất cả những thống khổ như sinh lão bệnh tử. Họ có thể đi lại trên không, có thần lực siêu nhiên, nước lửa và vạn vật tự nhiên đều không thể tổn hại đến họ được.
Thái Bạch Kim Tinh chuyển giao Thần vị "Tản Viên Sơn Thánh" cho Nguyễn Tùng ở một nơi như thế (Ảnh: Shutterstock).

Tùng trở về núi Tản Viên, từ biệt mẹ nuôi Ma Thị, đem hài cốt mẹ đẻ về táng ở động cũ Lăng Sương, rồi xưng là Thần Sư, từ đó ngao du thiên hạ.

Gậy thần trong tay, Thần Sư chỉ vào đâu thì lang trùng hổ báo, ma rừng tinh núi đều sợ hãi tránh xa, chỉ vào nước, nước cũng rẽ ra làm hai, Thần Sư nhờ đó có thể băng qua sông như trên đất bằng. Một hôm đến thôn Trung Độ, bãi Ma Xá, còn gọi là bãi Trường Sa, Thần Sư cứu được một con rắn đen trong tay lũ trẻ mục đồng, rồi thả rắn ra sông. 

Chẳng ngờ rắn đen là thái tử của Động Đình Quân - Long Vương trị vì vùng hồ Động Đình. Rắn đen trở về tâu bày mọi việc, Động Đình Quân phái người đi đón Thần Sư xuống chơi Hồ Động Đình. Thần Sư xuống đến nơi thấy binh uy hùng tráng, nghi trượng long trọng, cảnh thủy cung đẹp đến lóa mắt. Động Đình Quân đem hết của báu chốn Thủy cung ra tiếp đãi Thần Sư, toàn là những vật trần gian không thể có. Nhưng Thần Sư khiêm nhường, nói rằng gia phong vốn quen làm việc thiện, lại có gậy thần trong tay để cứu nhân độ thế, lại nhờ cơ Trời run rủi nên mới cứu được thái tử. Thế là, một đằng chủ nhà thì khẩn khoản tạ ơn, một đằng khách quý lại kiên quyết chối từ. Động Đình Quân không biết làm sao, bèn giữ Thần Sư ở lại dăm bữa nửa tháng để ngao du thắng cảnh chốn long cung.

Thái tử nhân cơ hội ấy mới ngầm bảo Thần Sư rằng: “Cha tôi có cuốn sách ước nhiệm màu, ước gì được nấy. Nay công ơn huynh cứu mạng như trời như biển, chẳng kém gì ơn tái tạo, tôi sẽ tâu riêng với cha để dâng lên huynh sách ấy, được chăng?”

Thần Sư đồng ý, vậy là Động Đình Quân lấy sách ra tặng. Ở được một tháng, Thần Sư nhớ quê nhà bèn từ biệt ra về, thái tử tiễn Thần Sư tới tận bờ sông. Hai người sau thời gian gặp gỡ đã có tình huynh đệ quyến luyến, mãi chẳng thể chia tay. Thần Sư nhân đó mới làm bài thơ từ biệt:

“Bất vị tương phùng, hữu thử sinh
Lai chi nghĩa dã, khứ chi tình
Dị ư Thứu Lĩnh huyền nhân vọng
Bất dĩ Long cung hạn khách hành
Nhất tháp âm dương hoàn lưỡng lộ
Trùng thiên Vân Hán mộng tam canh
Quan hà nhất biệt song mâu ký
Hà xứ tương tư mịch cựu trình” (2)

Nguyên Phong tạm dịch thơ:

Ai hay tương ngộ cõi nhân sinh
Đến đây vì nghĩa, đi vì tình
Thân nơi Thứu Lĩnh, thôi đành ngóng
Khách chốn Long cung, hận quá nhanh
Âm dương đôi ngả ly biệt mãi
Chập trùng Vân Hán mộng tam canh
Quan hà từ đây xin chào nhé
Cỏ che mưa xóa biết đâu tìm

Thần Sư sau khi tạm biệt thái tử của Động Đình Quân thì về động Lăng Sương, tìm nơi hang động cao ráo sạch sẽ vắng vẻ, giở sách ước ra đọc thấy nghĩa lý thâm ảo tầng tầng lớp lớp, té ra là một cuốn kỳ thư về tu luyện. Thần Sư mừng quá liền bế quan tịch cốc, chuyên tâm tu luyện đêm ngày. Đến khi đã có thành tựu nhất định, vì nóng ruột việc nhà nên thu xếp trở về núi Tản Viên.

Thần Sư trổ phép thần, hóa ra mưa vàng để báo đáp công ơn cưu mang nuôi dưỡng của mẹ nuôi Ma Thị từ thuở hàn vi. Dưỡng mẫu thấy chàng tấm lòng thành thật, nhân hậu nên mừng lắm bèn di chúc để lại cho chàng mọi của cải của bà trên núi Tản. Rồi sau đó vài năm bà cũng khuất núi. Thần Sư trở thành chúa núi Tản Viên, xưng là Sơn Tinh. Lúc này, hai người em Nguyễn Hiển, Nguyễn Sùng cũng tìm đến, Sơn Tinh đem phép thuật trong sách ước ra dạy cho hai người, năng lực cũng tiến triển phi thường, trở thành hai tay trợ tá đắc lực cho chàng.



BÀI CHỌN LỌC

Thần tích nước Nam (Kỳ 5): Tản Viên Sơn Thánh - vị Thượng đẳng linh Thần, thủy tổ của nước Nam [Radio]