Tăng Nhất Hạnh: Kỳ tài thiên văn dự đoán chuẩn xác

Bình luận Tường Hòa • 16:30, 29/01/20

Tăng Nhất Hạnh đã để lại những thành tựu thiên văn rực rỡ, và để lại những dự ngôn chuẩn xác trong lịch sử. Ông là người ngoài thế tục, đem tài trí cả cuộc đời triển hiện ở cõi hồng trần cuồn cuộn...

Cự tuyệt gian nịnh, xuất gia làm tăng nhân

Tăng Nhất Hạnh họ Trương, tên Toại. Ông là cháu nội của Trương Công Cẩn - một trong 24 công thần của Đại Đường có chân dung ở Lăng Yên Các. Trương Công Cẩn chính là người trong cuộc biến loạn Huyền Vũ Môn đã dùng sức mạnh cá nhân, một mình liều chết ngăn chặn 2000 tinh binh của Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát. Quả đúng là "một người giữ quan, vạn người không qua được". Cuộc biến loạn Tiêu Tường của Lý Kiến Thành và Lý Nguyên Cát này cuối cùng đã bị kết thúc ở sự kiện Huyền Vũ Môn, Đại Đường thịnh thế huy hoàng kể từ đó đã phát triển rực rỡ trong cục diện nhất thống ổn định.

Ông nội của Tăng Nhất Hạnh là võ tướng kiêu dũng danh tiếng hiển hách, nhưng Nhất Hạnh không đặt tâm vào quan trường, mà lại say mê Phật môn, chỉ muốn làm bạn với sách cổ đèn xanh. Đối với ông mà nói, hàng phục cái tâm mấy tấc này còn khó hơn chinh chiến trên sa trường rất nhiều lần. 

Ngay từ thuở thiếu niên, Nhất Hạnh đã thông minh, trí tuệ hơn người. Từ nhỏ ông đã đọc rộng kinh sử, đặc biệt tinh thông lịch pháp, học thuyết âm dương ngũ hành. 

Khi Võ Tắc Thiên xưng đế, lời nói và hành vi đều trái Đạo nghịch Trời, tùy tiện tàn sát, hầu như tuyệt diệt con cháu nhà Đường. Cháu trai bà ta là Võ Tam Tư cũng cậy quyền thế của Võ Hậu mà tung hoành ngang ngược khắp kinh sư.  Võ Tam Tư mua danh cầu lợi, lôi kéo văn sĩ khắp nơi để dùng cho mục đích cá nhân. Hắn ngưỡng mộ học thức của Nhất Hạnh, muốn kết giao cùng ông. Nhưng Nhất Hạnh là con cháu bậc trung thần, đâu thèm đứng chung hàng ngũ với hắn. Để tránh bị Võ Tam Tư ước thúc, Nhất Hạnh bèn quy ẩn ở núi Tung Sơn, xuất gia làm tăng nhân.

Nhất Hạnh đi khắp nơi cầu tìm bậc minh sư, để truy tầm nghiên cứu ý nghĩ huyền diệu của sự diễn biến thiên văn lịch pháp. Một hôm ông đến chùa Quốc Thanh ở núi Thiên Thai, trông thấy trong sân chùa có trên 10 gốc tùng, còn ở gần cổng có suối chảy.

Nhất Hạnh đi khắp nơi cầu tìm bậc minh sư, để truy tầm nghiên cứu ý nghĩ huyền diệu của sự diễn biến thiên văn lịch pháp.
Nhất Hạnh đi khắp nơi cầu tìm bậc minh sư, để truy tầm nghiên cứu ý nghĩ huyền diệu của sự diễn biến thiên văn lịch pháp. (Ảnh: Shutterstock)

Nhất Hạnh đứng ngoài cổng nghe thấy tiếng một tăng nhân đang bày quẻ tính toán, bỗng nhiên tăng nhân nói với đồ đệ rằng: "Hôm nay sẽ có một đệ tử từ xa đến cầu xin ta học toán pháp. Đã đến ngoài cổng rồi, sao chưa có người dẫn anh ta vào?"

Tăng nhân lại tính tiếp rồi nói: "Dòng suối trước cổng chảy về Tây, đệ tử đó đã đến rồi".

Nhất Hạnh nghe thấy câu nói này liền bước vào trong sân, cúi đầu thi lễ với tăng nhân và cầu xin học toán pháp. Lúc này ông bỗng trông thấy dòng suối trước cổng đang chảy về hướng Tây (chảy ngược)...

(Theo: Dậu Dương tạp trở).

Sau khi Đường Duệ Tông lên ngôi, nhà vua đã mấy lần thỉnh mời Nhất Hạnh xuống núi nhưng ông đều xưng bệnh không xuống. Hoàng đế triều Đường nắm đại quyền trong tay, là thiên tử cai quản mọi con dân trong thiên hạ, nhưng nhà vua không đàn áp một tăng nhân, cũng không tước đoạt ý nguyện tu Phật của Nhất Hạnh. Thế là hoàng đế để ông được tùy theo ý, và không cho mời nữa.

Thành tựu thiên văn của một bậc cao tăng 

Chuyện kể rằng có lần Đường Huyền Tông mời Nhất Hạnh vào Tập Hiền Viện, hỏi ông có bản lĩnh gì. Nhất Hạnh trả lời: Ngoài trí nhớ tốt ra thì không có sở trường nào khác. Thế là Huyền Tông gọi hoạn quan đem một quyển sổ danh sách cung nữ lên, Nhất Hạnh xem một cái rồi gấp lại ngay. Ông gấp sách đọc, hơn nữa đọc rất nhanh, hoàn toàn giống như mở sách ra đọc vậy, từ đầu đến cuối không sai một chữ. Huyền Tông kinh ngạc, không ngờ trên đời còn có bậc dị nhân như vậy.

(Theo Cao tăng truyện).

Lạc Hạ Hoằng đời Hán khi chế định lịch Thái Sơ đã từng nói: "800 năm sau sẽ sai 1 ngày. Khi đó ắt có Thánh hiền xuất thế để sửa đổi". Từ thời Tây Hán đến những năm Khai Nguyên Đại Đường vừa vặn 800 năm. Thiền sư Nhất Hạnh phụng mệnh biên soạn lịch mới, tính ra Lịch Đại Diễn. Bộ lịch pháp này chia thành 2 phần: Lịch pháp và lịch thuật. Lịch pháp luận thuật nguyên lý biên chế, lịch thuật nói rõ phương pháp tính toán vị trí, sự vận hành của mặt trời, mặt trăng, và 5 hành tinh (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ), tính toán nhật thực, nguyệt thực. Hệ thống kết cấu của bộ sách hết sức đầy đủ và tỉ mỉ, các nhà lịch pháp đời sau đại đa số đều căn cứ theo cách tính này để biên soạn lịch pháp, mãi cho đến cuối triều Minh, triều đình tiếp thu lịch pháp phương Tây mới có những cải biến. Lịch Đại Diễn của Nhất Hạnh đã sửa chữa sai sót của các đại gia thuật số các triều đại trước. Quả nhiên Lạc Hạ Hoằng dự đoán không sai.

Nhất Hạnh phụng mệnh chế tạo khí cụ dùng để quan sát vị trí và tình hình vận động của mặt trời, mặt trăng. Đường Huyền Tông đích thân viết bài minh đúc trên khí cụ "Hoàng đạo du nghi", đồng thời đặt khí cụ mới này lên trên Linh Đài dùng để quan sát đo góc độ các ngôi sao.

Nhất Hạnh phụng mệnh chế tạo khí cụ dùng để quan sát vị trí và tình hình vận động của mặt trời, mặt trăng.
Nhất Hạnh phụng mệnh chế tạo khí cụ dùng để quan sát vị trí và tình hình vận động của mặt trời, mặt trăng. (Ảnh: Shutterstock)

Thiền sư Nhất Hạnh chế tạo Hoàng đạo du nghi, Huyền Tông triệu kiến, và để ông giới thiệu cách dùng cho bá quan ở Vũ Thành Điện. Khí cụ này tinh tế mỹ diệu, được mọi người khen là Thần công (ý nói công lao thần kỳ). 

(Theo: Cựu Đường thư).

Nhất Hạnh thông qua quan sát đã phát hiện ra hiện tượng dịch chuyển vị trí của các hành tinh. Sự kiện này sớm hơn gần 1000 năm so với quan điểm hành tinh tự dịch chuyển mà nhà thiên văn học người Anh là Harley đưa ra năm 1718.

Sau việc này, Đường Huyền Tông lại mệnh cho Nhất Hạnh và Lương Lệnh Toản cùng một số người đúc khí cụ Hỗn thiên nghi mới. Khí cụ mới là quả cầu lớn đúc bằng đồng, biểu thị khí tượng "thiên cầu hỗn viên", trên thân quả cầu có khắc các chòm sao, xích đạo, đồng thời trên vòng tròn ngang với xích đạo có khắc độ chu thiên. Quả cầu nhờ lực nước đẩy tự quay, tốc độ tự quay đồng bộ với thực tế trên trời, một ngày đêm quay một vòng. 

(Theo Cựu Đường thư).

Năm Khai Nguyên thứ 12 (năm 724), Nhất Hạnh đề nghị đo độ cao Bắc cực, đo độ dài bóng mặt trời vào ngày Đông chí Hạ chí và ngày Xuân phân Thu phân ở 24 vị trí trên toàn quốc, đồng thời thiết kế một loại khí cụ gọi là Phục quy đồ dùng để đo độ cao Bắc Cực. (Công việc đo thực tế đường kinh tuyến này là phát minh lần đầu tiên trên thế giới).

Dự ngôn loạn An Sử

Tăng Nhất Hạnh dâng biểu khuyên can Đường Minh Hoàng rằng: "Bệ hạ, sau này nhất định không được đưa tông tử đảm đương chức tể tướng, cũng không được dùng phiên thần đảm nhiệm võ tướng". Điều Tăng Nhất Hạnh chỉ chính là tông thất tử Lý Lâm Phủ sau này sẽ độc chiếm đại quyền triều đình, An Lộc Sơn sẽ phát động binh biến ngoài triều đình, Đông Đô sẽ bị nghịch tặc công phá. Nhưng Đường Huyền Tông không hiểu ý trong đó. 

(Theo Quảng đức Thần dị lục).

Đường Huyền Tông hỏi thiền sư Nhất Hạnh rằng lộc nước Đại Đường như thế nào. Nhất Hạnh nói: "Xe loan đi vạn dặm. Xã tắc cuối cùng tốt lành".

Huyền Tông thất kinh không nói lên lời. Sau này vì loạn An Lộc mà Đường Huyền Tông đến đất Thục tránh họa, ngự giá khi đi đến cầu Vạn Lý (vạn dặm), Huyền Tông bỗng nhiên nghĩ những lời Nhất Hạnh nói. Quả đúng là "đi vạn dặm". Đường Chiêu Tông đã từng được phong là Cát Vương (vua tốt lành), Nhất Hạnh nói "xã tắc cuối cùng tốt lành", ý nghĩa là, khi quốc vận Đại Đường đến Chiêu Tông thì kết thúc. Sau này quả nhiên ứng nghiệm.

Nhất Hạnh đã dự đoán trước những sự việc như loạn An Sử, Huyền Tông chạy nạn đến đất Thục. Ông bỏ một vật vào trong túi, rồi lệnh đệ tử dâng lên cho Huyền Tông. Đường Huyền Tông mở ra xem, là đương quy đất Thục. Huyền Tông nghĩ mãi không hiểu. Mãi cho đến sau khi loạn An Sử xảy ra, Đường Huyền Tông lánh nạn ở Tứ Xuyên (đất Thục). Khi ông từ Tứ Xuyên hồi giá mới hiểu rõ ý nghĩa của "đương quy đất Thục" (nghĩa là: đến đất Thục cũng là lúc nên quay trở về).

Nhất Hạnh đã dự đoán trước những sự việc như loạn An Sử, Huyền Tông chạy nạn đến đất Thục. Ông bỏ một vật vào trong túi, rồi lệnh đệ tử dâng lên cho Huyền Tông.
Nhất Hạnh đã dự đoán trước những sự việc như loạn An Sử, Huyền Tông chạy nạn đến đất Thục. Ông bỏ một vật vào trong túi, rồi lệnh đệ tử dâng lên cho Huyền Tông. (Ảnh:Shutterstock)

Bãi triều 3 ngày để tưởng niệm cao tăng

Năm Khai Nguyên thứ 17, trước khi Nhất Hạnh viên tịch, Huyền Tông mộng đến chùa Hoa Nghiêm du lãm. Ông thấy cảnh tượng một gian thiền thất trong chùa với giường dây và cửa sổ bằng tre tiêu điều. (Giường dây được truyền từ Ấn Độ vào thời Đường, có thể gấp thành ghế tựa ngồi). Sau khi trời sáng, Huyền Tông nghe nói thiền sư Nhất Hạnh lâm bệnh, đang dưỡng bệnh ở chùa Hoa Nghiêm.

Thế là Huyền Tông sai người đi thăm thiền sư. Sau khi sứ giả trở về bẩm báo tình hình cư trú của Nhất Hạnh, thì thấy những điều sứ giả nói hoàn toàn trùng hợp với cảnh trong mộng của Huyền Tông. Huyền Tông cảm thán rất lâu, rồi hạ chỉ lệnh cho 10 cao nhân đại đức trong kinh thành lập đàn cầu phúc cho Nhất Hạnh. Sau khi bệnh tình của Nhất Hạnh thuyên giảm, ông theo Huyền Tông ngự giá đến Tân Phong. Không lâu sau, ông lại mắc bệnh. Huyền Tông một lần nữa đích thân thăm hỏi, cũng hôm đó, Nhất Hạnh tắm gội xong rồi ngồi ngay ngắn viên tịch.

Nhận được tin Nhất Hạnh viên tịch, Huyền Tông đau thương vô cùng, bãi triều 3 ngày, xuống chiếu làm lễ viếng 21 ngày. Đồng thời ông lệnh lấy 50 vạn tiền từ phủ khố để xây tháp lập bia ở Đồng Nhân Nguyên. Huyền Tông đích thân ngự bút viết văn bia, ban thụy hiệu cho Nhất Hạnh là Đại Huệ Thiền sư.

Tăng Nhất Hạnh đã để lại những thành tựu thiên văn rực rỡ, và những dự ngôn chuẩn xác trong lịch sử. Ông là người ngoài thế tục, đem tài trí cả cuộc đời triển hiện ở cõi hồng trần cuồn cuộn. Trí huệ siêu phàm, thành tựu trác việt cũng không che khuất sự thực bản thân ông là tăng lữ. Việc này cũng đem lại cho mọi người rất nhiều câu chuyện bên lề. Những dự đoán thiên văn của ông không phải từ máy tính điện tử tính ra. Những dự ngôn cho hậu thế của ông cũng không phải dùng các biện pháp khoa học hiện đại nhưng kết quả lại rất chuẩn xác.

Ở thời đại chưa có máy tính điện tử mà con người đã có thể sáng tạo ra những kỳ tích như vậy là sao? Có phải nó có liên quan đến tín ngưỡng của con người hay không? Vấn đề này thì mỗi người có cách nhìn nhận riêng, một đáp án riêng trong tâm mình.

Tường Hòa (biên dịch)

Tác giả: Hoàng Phổ Dung - epochtimes.com