Tam Quốc Diễn Nghĩa luận hào kiệt: Nỗi oan khuất mang tên Chu Du

Bình luận Thanh Phong • 19:30, 02/03/20

Trời đã sinh ra Du và Trời cũng sinh ra Lượng – người luôn đi trước Du một bước. Nên người ta mới bảo Du đố kỵ với Lượng. Nếu xét cho kỹ, hình như không phải thế.

“Trời đã sinh ra Du sao còn sinh ra Lượng” – oán khí những lời lúc lâm chung của Chu Du dường như bốc lên tới tận trời xanh. Chẳng hiểu trời xanh có thấu cho không, nhưng người đời hàng bao nhiêu năm vẫn chỉ trích Chu Du vì khí độ hẹp hòi với Gia Cát Lượng. (Tất nhiên là Chu Du và Gia Cát của Tam Quốc Diễn Nghĩa).

Chu Du người ở Thư Thành, Quận Lư Giang. Du kết bạn với Tôn Sách từ trẻ dại, đã từng nhường nhà cho Sách, dùng chung đồ với Sách, lại coi mẹ Sách như mẹ mình. Có hai chị em gái Đại Kiều, Tiểu Kiều đẹp nhất vùng Giang Nam, Du với Sách chia nhau lấy cả. Thân nhau như thế, lại biết rõ tài nhau nên khi nhà Sách làm lớn thì Du cũng như kẻ “hổ gió rồng mây”.

Tượng Chu Du
Tượng Chu Du (Ảnh: Shutterstock)

Ý rằng Du thực sự có tài, lại may mắn gặp vận hội tốt nên quan lộ thênh thang, sự nghiệp lên như diều. Người ở Giang Nam hay gọi Du là “mỹ Chu Lang” – anh chàng họ Chu tốt mã. Du cao lớn, anh tuấn, tiêu sái, văn võ song toàn; vừa có phong độ đại tướng lại cũng là nghệ sĩ tài hoa; vừa có tài điều binh khiển tướng của một quân nhân thực thụ, lại có mưu sâu kế hiểm của một mưu sĩ hàng đầu. Hãy xem.

Trình Phổ - một lão thần dày công với các đời Ngô chủ cuối cùng đã phải cúi đầu trước tài điều binh khiển tướng của Chu Du. Ông đích thân đến xin lỗi người mà trước đó ông coi là “thằng nhãi nhu nhược”. Đến như trận Xích Bích, Du chính là kiến trúc sư trưởng, phân phó dưới trên, cơ nào đội nấy, tiến lui có phép, trị quân nghiêm minh. Xích Bích thắng lớn nhờ công lao chính của Du. Vậy là Du được công nhận về võ lược.

Triều đình của Ngô chủ đang chia hai phe: chủ chiến, chủ hòa, tranh cãi gay gắt. Dù “chiến” hay “hòa” cũng phải đợi Du về quyết định. Ai đến gặp Du cũng tiếp, lại ra vẻ ủng hộ để dò xét tâm sự sâu kín của đám văn thần võ tướng Giang Đông. Rồi Du lựa lời mà nói cho yên bụng chúng. Chỉ đến phút cuối khi cần trình bày với quân chủ Tôn Quyền, Du mới lộ ra ý kiến thật sự của mình: “Đánh”. Con người thâm trầm sâu kín như thế quả là ghê gớm. Nhưng Du đã quyết, và Quyền đã tán thành nên chúng tướng chẳng còn ai dị nghị, cứ răm rắp mà làm, kể cả đám văn thần chủ hòa mà Trương Chiêu cầm đầu. Còn đám võ tướng thì khỏi phải nói, phục Du sát đất. Vả lại Trình Phổ công cao, dày dạn kinh nghiệm trận mạc còn phục Du thì Giang Đông có ai không phục đây? Nên Du được lòng cả người trên lẫn kẻ dưới.

Lại xem như việc Du lừa Tưởng Cán mới thấy Du khéo xử, hiểu đời. Tưởng Cán từ bên Tào sang chiêu hàng Du, nhưng lại lấy tư cách đi thăm bạn thân. Du tất nhiên không thể bạc đãi cố nhân, càng không thể động dao động kiếm sẽ mang tiếng bất nghĩa với thiên hạ. Nên Du mời Cán ăn tiệc to, cho gặp mặt hết thảy các tay anh tuấn của Giang Đông. Vậy là trọng bạn quá rồi, ai có thể trách Du đây? Mặt khác, Du minh bạch thế thì chẳng ai ở Giang Đông có thể dị nghị anh ta thì thụt với kẻ từ bên kia chiến tuyến. Đã nói Du khéo xử mà. Nhưng Du “bịt miệng” Cán hết lần này đến lần khác, khiến Tưởng Cán là tay bẻm mép, biện thuyết giỏi mà không có lấy một cơ hội mở lời. Cán lo lắm, ra về biết trình bày với Tháo sao đây? Lúc này Du mới "chơi" kế phản gián bằng bức thư giả của Sái Mạo - Trương Doãn. Cán vồ ngay lấy để vớt vát cho chuyến đi thất bại. Kết quả là Sái, Trương bị chém oan. Du quả là kẻ thâm mưu viễn lự, lại sành tâm lý. Đó chính là cái mưu đốt ba cửa thành để chừa lại một cửa cho địch chạy ra mà bắt đấy.

Phong lưu, tiêu sái, vợ đẹp con khôn, tài âm luật có một không hai ở đất Giang Đông; Du uống say mà người khác chơi sai một nốt nhạc Du vẫn biết, khiến xứ Giang Đông truyền tụng câu nói: “khúc nhạc lỡ sai, Chu Lang ngoảnh lại”. Du thực sự là nhất biểu nhân tài.

Quả là xứng đáng với mấy lời: “Trời đã sinh ra Du” lắm.

Trời đã sinh ra Du và Trời cũng sinh ra Lượng – người luôn đi trước Du một bước. Nên người ta mới bảo Du đố kỵ với Lượng. Nếu xét cho kỹ, hình như không phải thế.

Tranh vẽ Gia Cát Lượng.
Tranh vẽ Gia Cát Lượng. (Ảnh: Wikipedia)

Bằng chứng là Du không đố kỵ với một ai trong triều đình Đông Ngô, kể cả với Trương Chiêu mà ý kiến luôn đối nghịch với Du chan chát. Du chủ chiến, Chiêu chủ hòa, thế mà Du vẫn nói với Quyền rằng: “Tử Bố là người hiền đạt, có thể lo nổi việc lớn”.

Bằng chứng là Du vẫn tâm sự với Lỗ Túc về Khổng Minh rằng: “Người này giỏi gấp mười ta.” Có kẻ đố kỵ tự cao tự đại nào ở vị trí của Du mà dám thừa nhận công khai như thế không?

Có lẽ trong thời đại các thế lực cát cứ tranh hùng với nhau như vậy, chỉ có hai cách đối xử với hiền tài: hoặc chiêu hàng, hoặc giết đi để khỏi giúp kẻ khác, nhất là khi kẻ ấy đang nằm trong tay mình... nếu không thì cũng vô hiệu hóa nhân tài như cách Tháo đối xử với Từ Thứ. Chỉ có người hiền lành như Lỗ Túc mới khuyên Bàng Thống sang giúp Lưu Bị chứ đừng sang với Tháo, để còn làm cầu nối liên kết Tôn – Lưu.

Du biết rõ Lượng là kẻ tài cao hơn mình. Du đã từng lệnh cho Gia Cát Cẩn sang chiêu hàng Gia Cát Lượng mà không xong. Vậy thì chỉ có cách trừ khử Lượng thôi. Mà Lượng lại đang ở trong tay mình, cơ hội tốt thế dễ gì có được? Giết Lượng sẽ dễ dàng trừ được Thục Hán. Thế mới giúp Ngô chủ Tôn Quyền thực hiện mộng vương bá ở Trung Nguyên, cũng là làm tròn lời hứa với chủ cũ, bạn cũ Tôn Sách.

Du chết cũng vì thấy mình bất lực không thể vượt qua Lượng chứ nào phải uất ức tị nạnh gì. Lá thư cuối cùng Lượng gửi cho Du khiến Du thấy mình không có cách gì giúp Ngô hầu nuốt được Thục Hán, vì Lượng còn đó. Lượng còn thì Du đành bó tay. Không diệt được Thục Hán mong gì đồ chiếm được Trung Nguyên? Vậy nên đấy là cái chết của kẻ anh hùng không thể làm tròn phận sự với nhà nước, với cố nhân, chứ nào phải chuyện ân oán cá nhân vụn vặt như người ta vẫn nghĩ. Hãy xem từng hành động của Du trước khi chết xem có phải vì Du tức uất lên mà chết, hay là tại muốn buông xuôi vì bất lực rồi?

“Chu Du xem xong, thở dài một tiếng, gọi tả hữu đem bút mực đến, viết một phong thư, sai người dâng lên Ngô Hầu. Rồi họp các tướng lại dặn rằng: - Ta không phải là không muốn hết lòng báo nước, nhưng số mệnh ta đến đây là hết rồi. Các ông nên thờ Ngô Hầu cho thủy chung, để cùng dựng lên nghiệp lớn!” (trích TQDN)

Tiếc thay Chu lang, tuổi trẻ tài cao mà mệnh bạc, lại đeo thêm cái tiếng đố kỵ oan uổng bao đời.

Người sau có thơ than rằng:

“Xích Bích anh hùng nổi tiếng a!
Phong lưu tuổi trẻ bậc tài hoa.
Thảnh thơi chén rượu từ lời bạn,
Thánh thót cung đàn tỏ ý xa.
Xích Bích dẹp tan muôn hổ báo,
Giang Nam riêng mở một sơn hà.
Ba Khâu mệnh bạc từ đây nhé,
Lệ ứa hai hàng ruột xót xa!”

Thanh Phong



Bài cùng chuyên đề