'Tam đạo trà' hàm chứa triết lý nhân sinh: 'Nhất khổ, nhị cam, tam hồi vị'

Giúp NTDVN sửa lỗi

Người ta nói thưởng tam đạo trà phải cảm được ba dư vị ngọt của trà thì mới ngon và trọn vẹn. Thưởng thức được sự thanh khiết của vị ngọt nơi đầu lưỡi, vị ngọt thuần lan tỏa trong miệng và cuối cùng là tràn đầy vị ngọt dễ chịu ở cổ họng, khí mạch thông suốt, thư thái, khoáng đạt.

Dân tộc Bạch tại Vân Nam Trung Quốc có phong tục “Tam đạo trà”, dùng ba loại trà với các vị khác nhau để tiếp đãi khách… Trong khi thưởng thức “tam đạo trà” thì cũng cảm ngộ được đạo lý nhân sinh đọng lại trong từng hương vị.

Phong tục “Tam đạo trà” của dân tộc Bạch tại Vân Nam

Tại Đại Lý, Vân Nam, phong tục thưởng trà "Tam đạo trà" của dân tộc Bạch bắt nguồn từ thời Nam Chiếu [1] thuộc thế kỷ thứ 8, khi đó nó là một loại trà chỉ dùng trong cung đình, về sau dần dần được lưu truyền phổ cập trong quần chúng.

Tập tục uống trà “Tam đạo trà” của người Bạch gắn liền với sự phát triển của các giai đoạn quan trọng trong cuộc sống của người dân. Vào những ngày lễ quan trọng như ngày Tết, sinh nhật, cưới hỏi, bái sư học nghệ, các bậc cao niên dùng “Tam đạo trà" để chúc các thế hệ trẻ thành đạt, an khang, hạnh phúc. Thông thường, khi có người thân, khách khứa đến thăm, người tộc Bạch hiếu khách cũng sẽ làm “Tam đạo trà". Nghệ thuật thưởng trà “Tam đạo trà" là nét văn hóa trà đặc trưng của dân tộc Bạch, thể hiện sự tao nhã trong tục lệ nghênh tiếp và sự chân thành đãi khách của người Bạch. Loại  phong tục này ngày càng phổ biến cùng với thói quen uống trà, lâu dần hình thành nên văn hóa thưởng trà mang đậm phong cách dân tộc Bạch.

"Tam đạo trà" hàm chứa ba cảnh giới nhân sinh

"Tam đạo trà", tức mời trà ba đạo (ba lần), mỗi đạo trong ba đạo trà có hương vị trà và vận trà khác nhau: “Nhất khổ, nhị cam, tam hồi vị”; ba loại vận vị của trà hàm chứa 3 cảnh giới nhân sinh, truyền đạt triết lý của 3 tầng cảnh giới đó.

mỗi đạo trong ba đạo trà có hương vị trà và vận trà khác nhau: “Nhất khổ, nhị cam, tam hồi vị”
Mỗi đạo trong ba đạo trà có hương vị trà và vận trà khác nhau: “Nhất khổ, nhị cam, tam hồi vị” (Ảnh Epochtimes)

Chén thứ nhất là “trà đắng”, ý nói đời người bắt đầu từ gian khổ. Muốn lập nghiệp, thì cần chịu khổ trước, gây dựng sự nghiệp gian khổ để tạo dựng chỗ đứng. Chịu khổ chính là công phu, không sợ chịu khổ mà xông pha một phen.

Chén thứ hai là “trà ngọt”, ngụ ý là đời người “khổ tận cam lai”, cay đắng qua đi thì ngọt bùi sẽ đến, không trải qua một chút khổ cực thì làm sao có hương hoa mùa xuân thơm ngát. Có nếm trải đau khổ, thì về sau hưởng thụ được hương vị ngọt ngào sẽ càng tăng thêm mỹ hảo.

Chén thứ ba là “trà hồi vị”, cũng là trà suy ngẫm, tạo cảm giác suy ngẫm vô cùng, tượng trưng cho giai đoạn bình lặng của đời người. “Trà hồi vị” - ngũ vị (ngọt, chua, cay, đắng, mặn) trong một chén trà, giống như cuộc sống thực tế, hiểu được đời người khi đến ngã rẽ, đừng quên bài học giáo huấn từng trải qua.

Nghệ thuật "Tam đạo trà"

Với phong tục “Tam đạo trà” người Bạch rất xem trọng nghệ thuật pha trà và kính trà. Bước đầu tiên còn được gọi là nhất đạo trà. Lúc này người Bạch sẽ nấu nước, bên cạnh đặt một ấm trà lên ngọn lửa nhỏ. Đợi đến khi ấm trà nóng lên, liền cho một lượng trà vừa phải vào ấm, rồi không ngừng lắc ấm trà, để lá trà nóng đều, đến khi trà vang lên tiếng “lốp đốp”, màu xanh chuyển sang vàng, mùi khét bốc lên, lập tức rót nước đã nấu vào. Chờ một chút, chủ nhà rót nước trà đang sôi vào chén, nâng chén trà bằng hai tay mời khách. 

Chén trà này trải qua các bước sấy, đun sôi mà thành, vì vậy, màu như hổ phách, mùi khét xông vào mũi, vào miệng đắng chát, bình thường chủ nhà chỉ mời nửa chén, khách thì uống một hơi cạn sạch.

Trà Đạo chính là Đạo thưởng thức vẻ đẹp của trà.
Trà Đạo chính là Đạo thưởng thức vẻ đẹp của trà. (Pixabay)

Sau khi mời chén trà thứ nhất, chủ nhà lại lấy ấm nhỏ cho trà vào, sấy trà, pha trà. Đồng thời, cho vào trong ấm trà một ít đường đỏ, hồng đào, nhũ phiến [2]… Nước trà nấu xong được rót vào trong chén đầy khoảng tám phần. Như vậy là chén trà thứ hai đã pha xong, trong vị ngọt có hương sữa, ngọt tinh khiết, rất ngon miệng.

Cách pha chén trà thứ ba cũng như trên, chỉ có nguyên liệu cho vào ấm trà là khác nhau, chủng loại cũng nhiều hơn. Chén trà được cho vào một lượng mật ong vừa phải, một chút cơm rang, vài hạt tiêu, một ít nhân hạt óc chó, gừng và vỏ quế,… sau đó rót nước trà vào chén đầy khoảng bảy phần. Khi uống chén thứ ba, vừa lắc vừa uống. Lắc chén trà, khiến cho nước trà và nguyên liệu bên trong hòa đều vào nhau. Chén trà này, uống vào có vị ngọt, mùi thơm, hơi đắng và tê, cay, cảm thụ được rất nhiều điều. Người xưa cố tình rót trà đầy bảy phần vì kính trọng, lưu giữ ba phần dư vị lâu dài. Một lễ tiệc trà bao gồm trà, lễ nghi, kính trọng, trí tuệ, vui vẻ.

Đại tài tử Viên Mai đời nhà Thanh đối với việc thưởng thức trà luôn có cách thức độc đáo, ông nói: “Thưởng thức trà cần phải nghiền ngẫm, đồng thời từ từ cảm nhận”.

“Tam đạo trà”, từ thưởng thức trà đến cảm ngộ nhân sinh, “nhất khổ, nhị cam, tam hồi vị”, đậm đà ý vị làm xao động lòng người. Trong chén trà có cay đắng ngọt bùi, trăm vị trong “chén”, ý nói nhân sinh uyển chuyển.

Nhân sinh trong chén trà nhắc con người trong thế giới nên làm một người có thể chịu được cực khổ, có thể bao dung hòa hợp, phẩm hạnh thành thật chất phác.

Lam Sơn
Theo Epochtimes

Chú thích:

[1] Nam Chiếu (738-902), là một quốc gia cổ đại ở khu vực Tây Nam Trung Quốc

[2] Nhũ phiến: là chế phẩm sữa ở huyện Nhĩ Nguyên, châu Đại Lý, màu sữa hoặc hơi vàng, hình dáng như chiếc quạt tre.



BÀI CHỌN LỌC

'Tam đạo trà' hàm chứa triết lý nhân sinh: 'Nhất khổ, nhị cam, tam hồi vị'