Sứ mệnh lịch sử của Hoa Kỳ

Bình luận Lý Tuệ • 10:00, 05/01/21

Giúp NTDVN sửa lỗi

Quét sạch mọi cái ác, quét sạch đầm lầy, trả lại tất cả những gì mà các tổ phụ lập quốc đã dựng lên, chính là sự trở về của công lý, sự trở lại của những quy tắc cao cả.

Những người đã đến thuộc địa mới ở Bắc Mỹ là ai?

Bây giờ chúng ta hãy nhìn sơ qua về lịch sử của Hoa Kỳ. Bắt đầu từ hơn 400 năm trước, các nhóm người từ lục địa Châu Âu đã đến lục địa mới Châu Mỹ vì nhiều lý do khác nhau. Bất kể mục đích bề ngoài là khám phá sự giàu có (trên thực tế, những người này cũng có tín ngưỡng tôn giáo được xã hội tiếp nhận phổ biến vào thời điểm đó), hay là trực tiếp đi để đạt được tự do tín ngưỡng mà mọi người tin tưởng, sinh tồn trên mảnh đất đó, rồi phát triển, và niềm tin vững chắc của mỗi người vào các vị Thần mà họ tin tưởng và khế ước được thiết lập trên cơ sở này để duy trì mối quan hệ giữa các nhóm xã hội, chẳng hạn như "Công ước Mayflower", đóng một vai trò quan trọng trong việc này. Vậy 13 thuộc địa này đã tồn tại những tín ngưỡng tôn giáo nào trước Chiến tranh Cách mạng Mỹ?

Một số đã theo Giáo hội Anh giáo của Anh, có Giáo đoàn (Thanh giáo) và Người lập giáo bị bức hại bởi Giáo hội Anh giáo, có Giáo hội Công giáo La Mã, bị đàn áp bởi Giáo hội Anh giáo, và có những người tị nạn tôn giáo từ các quốc gia khác, chẳng hạn như Đức và Hà Lan...

Vào thời điểm đó, những tín đồ Cơ Đốc đến đại lục mới ở Bắc Mỹ đã hấp thụ những giáo huấn tích cực, đề xuất quyền tự do tín ngưỡng, dung nạp các giáo phái khác, và một số cũng mắc phải những sai lầm phổ biến của nhân loại - họ đến Mỹ tìm kiếm tự do tín ngưỡng vì bị xa lánh ở Anh quốc, sau khi ổn định cuộc sống thì chỉ muốn giữ lại nhánh của riêng mình, bài xích đả kích những người có tư tưởng khác biệt. Cứ như vậy, những người đã bị bài xích đả kích liền rời đi để mở ra những mảnh đất mới và áp dụng cách tiếp cận hòa nhập hơn, thế là một vùng đất rộng hơn liền có người cư ngụ. Mọi thứ trên đời là như vậy, và luôn có hai mặt của nó.

Bây giờ chúng ta hãy nhìn lại một cách ngắn gọn về lịch sử của Hoa Kỳ.

Nước Mỹ độc lập

Bất kể như thế nào, mặc dù người dân 13 thuộc địa của Anh khi ấy vẫn có những bất hòa, thậm chí xung đột vì cách thức tín ngưỡng khác nhau, nhưng hầu hết họ đều là những người theo đạo Cơ đốc thành kính, các giá trị quan và nguyên tắc sống cơ bản của họ đều nhất quán. Trên cơ sở này, trong hơn 100 năm khi Chiến tranh Pháp-Thổ dân Da đỏ kết thúc vào năm 1763, họ đã khai khẩn đất hoang và làm ruộng, xây nhà, chiến đấu với thổ dân da đỏ và lập nghiệp ở nơi xa nước Anh; đồng thời họ cũng chăm chỉ làm ăn. Đồng thời họ cố gắng tự trị, thành lập quốc hội nhỏ của riêng mình và bầu ra các quan chức của mình. Mặc dù nghị viện của thuộc địa không lớn nhưng nó rất giống với quốc hội Anh và đã giúp họ tự quản lý hiệu quả trong nhiều năm. Quyền lợi tự nhiên của con người, cũng chính là lý niệm về nhân quyền Thiên phú, đã tự nhiên bén rễ vào lòng mọi người. Vì vậy, khi Anh tăng thuế đối với người dân thuộc địa sau Chiến tranh Pháp-Thổ dân Da đỏ, người dân thuộc địa đã đề xuất rằng họ cũng nên có đại diện trong Quốc hội Anh và có tiếng nói trong các vấn đề liên quan.

Bất kể bạn gọi nó là gì, Vương quốc Anh vẫn tiếp tục ban hành nhiều quy định về thuế. Có thể nói người dân thuộc địa đã thức tỉnh về cuộc sống. Không ai — kể cả ngài, Vua nước Anh — có quyền tước bỏ quyền lợi mà Chúa ban cho họ. Nếu không cho chúng tôi quyền đại biểu, chúng tôi sẽ không đóng thuế. Bởi vậy quốc hội thuộc địa chống lại, dân chúng biểu tình tự phát và đổ máu..., kết quả cuối cùng là các thuộc địa đã triệu tập hai hội nghị lục địa trên cơ sở những ý tưởng chung và để bảo vệ lợi ích chung. Ý định ban đầu là không thoát ly các thuộc địa Bắc Mỹ của Anh, sau khi hai bên không thể hòa giải và các cuộc kháng chiến vũ trang đã diễn ra, Quốc hội Lục địa đã ra "Tuyên ngôn Độc lập" vào ngày 4 tháng 7 năm 1776.

"Tuyên ngôn độc lập" đã giải thích một số khái niệm rất quan trọng, mô tả mối quan hệ giữa quân vương và nhân dân, mô tả khái niệm quyền lợi tự nhiên, cũng chính là khái niệm nhân quyền Thiên phú, cho rằng quyền lợi tự nhiên cao hơn vương quyền, đồng thời tuyên bố rằng phản loạn là một loại quyền lợi hợp lý mà người dân cần được hưởng. 

Vào đầu cuộc chiến, Tư lệnh Lục quân Lục địa George Washington thường hướng lên Trời cầu nguyện khi ông dẫn đầu một đội quân không chính quy và thiếu ăn thiếu mặc rút lui đến Thung lũng Forge vào năm 1777. Một ngày nọ, khi ông đang một mình xử lý các công văn, một Nữ Thần đã cho ông thấy tương lai của Hoa Kỳ — từ Chiến tranh giành độc lập và Nội chiến xóa bỏ chế độ nô lệ đến tất cả những cảnh mà Hoa Kỳ hiện đang trải qua. Trong Chiến tranh giành độc lập, Washington đã trải qua 67 lần gặp nạn. Ông nói rằng những lời cầu nguyện đã giúp ông vượt qua mọi khó khăn.

Trước khi Chiến tranh giành độc lập kết thúc, Washington nhận ra rằng thể chế liên bang lỏng lẻo vào thời điểm đó không thể tồn tại lâu dài. Ông nhìn thấy các tướng sĩ thường xuyên thiếu ăn thiếu mặc, không thuốc men, chăn màn, thậm chí cả vũ khí và đạn dược, bất kể thuộc địa nào cũng muốn tiền, chẳng khác nào đi ăn mày. Khi Chiến tranh giành độc lập kết thúc, những thiếu sót của thể chế này càng lộ rõ hơn, các vấn đề xã hội, chính trị và kinh tế đều xảy ra vấn đề. Washington một lần nữa thấy rằng Hoa Kỳ theo "Quy chế Liên bang" là vô vọng. Trong bức thư gửi bạn bè, ông nói: "Tôi cho rằng một quốc gia như vậy không thể tồn tại, trừ khi có một chính phủ trung ương cai trị toàn bộ đất nước, cũng như một chính quyền bang cai trị bang này".

Vậy tình hình của Liên bang 13 bang sau gần 8 năm Chiến tranh giành độc lập ra sao? Mỗi bang có quyền riêng, chèn ép lẫn nhau. Mỗi bang có quân đội riêng và 9 trong số họ thậm chí có hải quân riêng. Họ sử dụng các lực lượng vũ trang này để bảo vệ bản thân và ngăn chặn các bang khác; nền kinh tế suy thoái, ngân khố trống rỗng, nợ nần chồng chất và giá trị đô la Mỹ ở mỗi bang có trạng thái khác nhau rất nhiều. Các vị Cha lập quốc đã thấy rằng, để bảo đảm thành quả của cách mạng không bị mất đi, cần phải thành lập một chính phủ trung ương mạnh và có quyền lực. Do đó đã bắt đầu việc soạn thảo một "Hiến pháp Hoa Kỳ" hoàn toàn mới.

Giáo sư Skousen tin rằng phải mất 4 tháng, các vị cha lập quốc mới tìm ra được một hệ thống biến nước Mỹ thành một cường quốc. (Ảnh tổng hợp)
Giáo sư Skousen tin rằng phải mất 4 tháng, các vị cha lập quốc mới tìm ra được một hệ thống biến Myc thành một cường quốc. (Ảnh tổng hợp)

Hiến pháp Hoa Kỳ vượt thời đại

Vào tháng 5 năm 1787, 12 bang đã cử đại biểu tham gia Hội nghị Lập hiến Philadelphia. Hội nghị đã áp dụng nhiều biện pháp để bảo vệ và khuyến khích các đại biểu thể hiện đầy đủ quan điểm của mình, bởi vì mọi người đều nhận thức rõ rằng nhiều quan điểm của những người đến với hội nghị lần này rất trái ngược nhau, thậm chí thủy hỏa bất dung. Quốc hội lập hiến cho phép bất kỳ đại biểu nào có quyền yêu cầu thảo luận lại về bất kỳ chủ đề nào, đồng thời áp dụng nguyên tắc bảo mật để khi phát biểu ý kiến, đại biểu sẽ không lo lắng rằng dư luận sẽ bất lợi cho mình, thậm chí bị chỉ trích, từ đó bảo lưu quan điểm của mình. 

Hoa Kỳ là quốc gia hiện đại đầu tiên trên thế giới thực sự thành lập một nền Cộng hòa (đã có một nền cộng hòa ở La Mã cổ đại, nhưng ở đây chỉ nói các quốc gia hiện đại), và đây cũng là quốc gia đầu tiên chuyển đổi thành công từ liên bang sang Quốc gia liên bang. Đối với những người trẻ tuổi đang ngồi trong hội trường Philadelphia vào thời điểm đó (ngoại trừ một vài cụ ông như Franklin, các đại biểu về cơ bản là những thanh niên ở độ tuổi 20 và 30, và tuổi trung bình của họ chỉ là 43), tất cả những gì họ có là những thứ thuộc về ý thức hệ, chỉ có trong sách của các nhà tiên phong Cicero, Locke và nhà tư tưởng người Pháp Montesquieu. Trên thực tế, họ đang đối mặt với một thế giới hoàn toàn mới, và họ đang nghiên cứu những điều hoàn toàn mới: một chế độ mới chưa từng có một mô hình thành công nào trên thế giới.

Hội đồng Lập hiến kéo dài trong 4 tháng, mọi người thường phải nghiên cứu một vấn đề lặp đi lặp lại nhiều lần. Đôi khi một quyết định đã được biểu quyết, nhưng trong vài ngày, nó ngay lập tức được đưa ra và thảo luận lại. Tại sao như thế? Bởi vì mọi người đều cho rằng lập kế hoạch cho tương lai của đất nước là chuyện không thể coi thường, mọi người phải được trao quyền để thay đổi các quyết định đã được đưa ra. Bởi vì rất nhiều điều sau khi được thảo luận, mới phát hiện kết luận trước đó là sai. Để đảm bảo quyền tự do thảo luận, trong nội quy hội nghị đã quy định rằng bất kỳ đại biểu nào cũng có quyền yêu cầu thảo luận lại về bất kỳ chủ đề nào. Khi Benjamin Franklin đang suy nghĩ về tương lai của đất nước, vắt óc suy nghĩ và không thể nghĩ ra biện pháp tốt nào, ông nói: "Chúng ta chỉ có thể cầu xin Chúa giúp đỡ". Ông cũng đề nghị rằng trước cuộc họp hàng ngày đều cử hành cầu nguyện. Đại hội cuối cùng đã chỉ định 5 người thành lập một ủy ban để sắp xếp kết quả của bốn tháng thảo luận thành một văn kiện, đó cũng chính là bản "Hiến pháp" đã được chờ đợi từ lâu.

Ngày 17 tháng 9 năm 1787, các đại biểu họp lần cuối. Nhiều người cảm thấy rằng 4 tháng làm việc chăm chỉ không phải là vô ích, cuối cùng cũng đại công cáo thành. Nhưng đúng lúc này, một đại diện của Massachusetts bất ngờ đứng lên phát biểu: “Nếu vẫn chưa muộn, tôi đề nghị thay đổi mức đã xác định ban đầu cứ 40.000 người bầu một nghị viên, thành 30.000 người". Khi ông nói như vậy, lập tức nhiều người phản đối. Vào lúc này, George Washington, người đã trầm mặc suốt mùa hè, đứng lên và nói: "Tôi ủng hộ sự thay đổi này, vì nó sẽ đảm bảo rằng người dân có tiếng nói lớn hơn trong chính phủ". Bởi vì Washington có sức ảnh hưởng lớn, nên những người phản đối không còn lên tiếng. Cuối cùng tất cả các đại diện đồng ý thay đổi từ 40.000 thành 30.000 người. "Hiến pháp" - nền tảng lập quốc đã được đưa ra sau rất nhiều sự thay đổi.

Hiến pháp Hoa Kỳ có hiệu lực, tổng thống khai quốc được sinh ra

Hiến pháp phải được ít nhất 9 bang thông qua mới có hiệu lực. Hơn một năm sau, khi Hiến pháp Hoa Kỳ có hiệu lực vào ngày 4 tháng 3 năm 1789, 11 tiểu bang đã phê chuẩn nó. Phải mất thêm vài tháng nữa để hai bang cuối cùng còn lại phê chuẩn hiến pháp.

Vào ngày 4 tháng 3, khi Hiến pháp có hiệu lực, cũng đồng thời tuyển cử tổng thống, và George Washington đã được nhất trí bầu làm tổng thống sáng lập Hoa Kỳ. Washington tái đắc cử tổng thống hai nhiệm kỳ liên tiếp, lúc đó không có đảng phái nào.

Chân dung George Washington (1732-1799) (Ảnh: Gilbert Stewart tranh 1796)
Chân dung George Washington (1732-1799) (Ảnh: Gilbert Stewart tranh 1796)

Cùng ngày, Quốc hội chính thức được thành lập. Theo các điều kiện bổ sung mà các bang đưa ra khi họ thông qua hiến pháp, việc đầu tiên sau khi Quốc hội được thành lập là thảo luận lại nội dung của hiến pháp và bổ sung các điều khoản để đảm bảo quyền của công dân. Vào thời điểm đó, có tổng cộng 10 điều sửa đổi được viết vào Hiến pháp, sau này được gọi là Tuyên ngôn Nhân quyền (Bill of Rights). Các nhà sử học cho rằng dự luật nhân quyền là tinh thần cốt lõi và cơ bản của Hiến pháp Hoa Kỳ. Không có nó, hiến pháp không thể vận hành hiệu quả.



BÀI CHỌN LỌC

Sứ mệnh lịch sử của Hoa Kỳ