Phúc tướng của Thiết Mộc Chân - Giả Lặc Miệt xả thân cứu chủ

Giúp NTDVN sửa lỗi

Từ đó, Thiết Mộc Chân thường so sánh Giả Lặc Miệt với “Ô Cai” nghĩa là “Kẻ có gan lớn”, để khen ngợi sự tích trung dũng xả thân của Giả Lặc Miệt. Sau này, Giả Lặc Miệt tiếp tục chinh chiến bên cạnh Thiết Mộc Chân, nhiều lần đảm nhận tiên phong, lập nên những chiến công hiển hách.

Trên thảo nguyên mênh mông, các bộ lạc Mông Cổ lớn nhỏ sống rải rác. Năm thứ 32 Thiệu Hưng Nam Tống (năm 1162), vào một ngày, bên bờ sông Oát Nan, hậu duệ của “Hoàng kim gia tộc”- bộ lạc Ngật Nhan, đón nhận một đại hỷ sự, con trai cả của thủ lĩnh Dã Tốc Cai ra đời. Lúc xuất sinh, trong tay cậu đã cầm một cục máu cứng như hồng thạch.

Ngày này, Dã Tốc Cai vừa thắng trận trở về, bắt sống thủ lĩnh Thiết Mộc Chân Ngột Cách của bộ lạc Tháp Tháp Nhi. Theo truyền thống của Mông Cổ, Dã Tốc Cai lấy tên của tù binh, đặt tên cho con mình là “Thiết Mộc Chân”, hàm ý kiên cường cương nghị như sắt thép. Cậu bé này do sắt và máu dưỡng thành, sau này đã thống nhất sa mạc phía Bắc, kiến lập đại quốc Mông Cổ -Thành Cát Tư Hãn.

Một người thợ rèn tên Trát Nhi Xích Ngột Đãi của bộ tộc Ngột Lương Cáp, cũng mang cậu con trai mới sinh của mình tên là Giả Lặc Miệt đến thăm, tặng Thiết Mộc Chân một cái địu làm bằng lông chồn đen rất quý giá để làm lễ, đồng thời hứa rằng, đợi Giả Lặc Miệt đủ lớn, sẽ đưa đến làm bạn, cũng là tùy tùng theo bên Thiết Mộc Chân.

Đây gọi là “huệ nhãn thức anh hùng” (có trí huệ nhìn ra bậc anh hùng) của cha Giả Lặc Miệt, đã tìm cho con mình một vị hùng chủ, để sống một cuộc đời oanh liệt sau này.

Nếm trải gió sương, theo bên hùng chủ

Trải qua nhiều biến cố cuộc đời, cha mất sớm, bộ tộc quay lưng, kẻ thù truy sát, Thiết Mộc Chân đã trở thành một thiếu niên trí dũng song toàn, kiên nghị quả cảm trên thảo nguyên. Sau khi kết hôn cùng Bột Nhi Thiếp, dựa vào dòng dõi vương tộc, thu tập người cũ, dần dần tích lũy lực lượng, mưu đồ quật khởi.

Thường ngày, Giả Lặc Miệt theo hầu Thiết Mộc Chân, khi chiến sự, ông trở thành dũng sĩ xung phong hãm trận (Tranh vẽ thảo nguyên Mông Cổ - ảnh: Epoch Times).
Thường ngày, Giả Lặc Miệt theo hầu Thiết Mộc Chân, khi chiến sự, ông trở thành dũng sĩ xung phong hãm trận (Tranh vẽ thảo nguyên Mông Cổ - ảnh: Epoch Times).

Lúc này, có một ông lão lưng mang quạt thợ rèn, cùng con trai đến bái kiến Thiết Mộc Chân, ông chính là Trát Nhi Xích Ngột Đãi mười mấy năm về trước, cậu con trai nay cũng trở thành một thiếu niên cường tráng, trung hậu thật thà. Sau khi ôn lại kỷ niệm xưa, ông thân tự phó thác Giả Lặc Miệt cho Thiết Mộc Chân: “Từ hôm nay, Giả Lặc Miệt sẽ là người hầu cận của Ngài!”

Từ đó, Giả Lặc Miệt trở thành hộ vệ tùy thân đầu tiên của Thiết Mộc Chân. Lúc bình thời, ông là người hầu tận chức; khi chiến sự, ông là dũng sĩ tiên phong. Thiết Mộc Chân tuy trẻ tuổi, nhưng chí xa ngàn dặm, Giả Lặc Miệt hộ vệ Thiết Mộc Chân như hình với bóng, là trợ thủ thân tín đắc lực nhất của Thiết Mộc Chân. Do nhiều lần cứu chủ khỏi nguy nan, ông được Thiết Mộc Chân xưng tụng là “Vệ sĩ có phúc khí”.

Trong mênh mông của thảo nguyên, sông núi, chinh chiến phát sinh nhiều lần. Sau khi kết hôn không lâu, gia tộc Thiết Mộc Chân bị cừu thù là gia tộc Miệt Nhi Khất Thi tập kích. Trời mờ sáng, hơn ba trăm kẻ địch nhằm trại của Thiết Mộc Chân hung hãn tấn công, khí thế ầm ầm.

Lực lượng của Thiết Mộc Chân không thể đương đầu, lúc cấp bách, chỉ kịp cùng huynh đệ lên ngựa chạy thoát thân, hướng về phía núi Bất Nhi Hãn mà phi. Trên đường chạy, Giả Lặc Miệt cùng một vị cận vệ tên Bác Nhĩ Truật tùy hành hộ giá, bảo vệ Thiết Mộc Chân bình an vào núi. Tuy nhiên, Bột Nhi Thiếp phu nhân trong lúc hỗn loạn chạy không kịp, bị Miệt Nhi Khất Thi bắt làm tù binh.

Cừu thù tiếp tục truy sát, đi vòng quanh núi ba lần truy tìm tung tích Thiết Mộc Chân. Nhưng trong núi nhiều đầm lầy, rừng cây san sát, chẳng thể thâm nhập, còn nói gì đến bắt người. Bộ lạc Miệt Nhi Ngật Thi có cừu hận với bộ lạc Khất Nhan, nguyên là do cha của Thiết Mộc Chân khi trước có cướp người, nay họ đã bắt được vợ của Thiết Mộc Chân, coi như đã tính sổ xong, do vậy mà lui quân.

Nhưng Thiết Mộc Chân hết sức thận trọng không dám xuống núi, nên cử em trai cùng Giả Lặc Miệt và Bác Nhĩ Truật xuống núi do thám. Ba người cẩn thận từng li từng tí, ba ngày ba đêm truy tìm tung tích của Miệt Nhi Khất Thi, xác nhận họ đã đi xa, mới quay về bẩm báo.

Đây là lần cứu chủ thứ nhất của Giả Lặc Miệt được sử thư ghi lại. Sau này, Thiết Mộc Chân cứu được phu nhân, triển khai cuộc chiến thống nhất Mông Cổ. Thời Nam Tống năm Thuần Hi thứ 16  (năm 1189), Thiết Mộc Chân được suy tôn làm Khả Hãn của bộ lạc Khất Nhan. Ông từng nói với hai vị cận vệ thân thiết Giả Lặc Miệt và Bác Nhĩ Truật rằng: “Các vị là bạn như hình với bóng của ta, hộ vệ ta từ thủa ban đầu, không để địa vị của các vị cao hơn người khác sao được?”

Do vậy, Giả Lặc Miệt và Bác Nhĩ Truật đều được phong làm trưởng quan đứng đầu, tham dự nội bộ quyết sách. Hai vị cùng hộ giá Đại Hãn xuất chinh, từng bước thu phục các bộ lạc Mông Cổ. Những chiến tích của Giả Lặc Miệt - người thiện chiến quả cảm được truyền dương khắp thảo nguyên.

Hút máu đông, trộm sữa đặc, mạo hiểm cứu chủ

Thế lực của Thiết Mộc Chân ngày càng lớn mạnh, dẫn đến sự đố kỵ của anh em kết nghĩa Trát Mộc Hợp. Thời Nam Tống năm Gia Thái thứ hai  (năm 1202), Trát Mộc Hợp tập kết liên quân 12 bộ lạc, phát động cuộc tấn công chống lại Thiết Mộc Chân. Trong trận chiến này, Thiết Mộc Chân nhanh chóng đánh tan quân đội của Trát Mộc Hợp, nhưng trong khi truy kích Thái Diệc Xích Ô đã phát sinh một sự việc.

 Thiết Mộc Chân suất lĩnh dũng sĩ Mông Cổ (ảnh: Epoch Times).
Thiết Mộc Chân suất lĩnh dũng sĩ Mông Cổ

Lúc hoàng hôn, bên bờ sông Oát Nan chiến trận không ngừng, tiếng thét giết giặc không ngớt, Thiết Mộc Chân dẫn các dũng sĩ Mông Cổ kịch chiến với địch quân. Đang lúc giao tranh bất phân thắng bại thì Thiết Mộc Chân bị trúng ám tiễn vào cổ, máu chảy không dừng, hôn mê ngã xuống. Hộ vệ trung thành Giả Lặc Miệt lập tức xông đến bên Đại Hãn, hộ tống đến nơi an toàn.

May lúc đó trời vừa tối, hai bên thổi kèn thu quân, về trại nghỉ ngơi. Giả Lặc Miệt trong lòng lo lắng, Thiết Mộc Chân đang hôn mê, doanh trại đóng nơi thảo nguyên hoang vu, trước mặt là quân địch, chẳng thể đi tìm thầy thuốc tới trị thương.

Trong lúc nguy cấp, ông liền ghé miệng hút máu ứ trong vết thương, cứ vậy nhiều lần, đến nửa đêm Thiết Mộc Chân dần dần tỉnh lại, yếu ớt nói: “Máu ra nhiều quá, ta rất khát nước.”

Giả Lặc Miệt vừa nghe chủ nhân nói, tinh thần bừng tỉnh, chạy khắp tìm đồ uống, bên doanh trại của mình tìm không thấy, nên Giả Lặc Miệt tính sang trộm sữa ngựa bên trại đối phương. Trước khi xuất phát, ông cởi bỏ y phục, lợi dụng màn đêm, gan dạ tiềm nhập doanh trại địch quân. Lòng ôm tín niệm: “Nhất định phải nhanh quay về để giải khát cho Đại Hãn!”. Ông lục lọi khắp nơi tìm sữa ngựa, nhưng chỉ tìm thấy một thùng sữa cô đặc, liền vác về. Cũng may nhờ có sự nhanh nhẹn và tráng kiện, mà đến đi không ai phát hiện.

Giả Lặc Miệt về tới trại, liền tìm chút nước, hòa với sữa, cho Thiết Mộc Chân uống. Thiết Mộc Chân vừa uống vừa nghỉ, cứ vậy ba lần thì khôi phục tinh thần và khí lực. Tự ngồi dậy được, nói: “Ta thấy tâm linh và đôi mắt sáng hẳn ra rồi!”

Trời sáng dần, Thiết Mộc Chân nhìn thấy trên đất đầy máu lẫn cùng bùn, lấy làm kỳ lạ. Lúc này Giả Lặc Miệt mới đem sự tình hút máu đông, trộm sữa đặc kể lại cho Đại hãn. Thiết Mộc Chân hỏi: “Sao ngươi lại ở trần đi đến doanh trại địch?” Giả Lặc Miệt đáp: “Nếu lỡ bị chúng bắt, thì sẽ nói là đến để đầu hàng, do bị bên kia lột quần áo chuẩn bị đem chém, thừa cơ trốn thoát mà chạy sang đây.”

Ông nói tiếp: “Quân địch khẳng định là sẽ tin lời, cấp quần áo và lưu tôi lại, chỉ cần tôi kiếm con ngựa, thì với cự ly gần thế này, lo gì không chạy thoát?”

Nghe xong, Thiết Mộc Chân rất cảm động: “Ta biết cảm ơn ngươi thế nào đây? Khi xưa ở Bất Nhi Hãn Sơn, ngươi đã cứu ta một lần. Nay lại giúp ta hút máu ứ trị thương, mạo hiểm sinh mệnh lấy về sữa đặc, cứu ta lần thứ hai. Ân cứu mệnh này, ta sẽ khắc cốt ghi tâm!”

Từ đó, Thiết Mộc Chân thường so sánh Giả Lặc Miệt với “Ô Cai” nghĩa là “Kẻ có gan lớn”, để khen ngợi sự tích trung dũng xả thân của Giả Lặc Miệt. Sau này, Giả Lặc Miệt tiếp tục chinh chiến bên cạnh Thiết Mộc Chân, nhiều lần đảm nhận tiên phong, lập nên những chiến công hiển hách.

Năm Khai Hi thứ hai  (năm 1206), Thiết Mộc Chân lập ra đế quốc Mông Cổ, ban hành luật pháp, tôn hiệu là “Thành Cát Tư Hãn”. Phong Giả Lặc Miệt làm Thiên hộ Trưởng (cai quản nghìn hộ), là một trong mười đại công thần, hưởng đặc quyền: 9 lần mắc tội không bị phạt.

Thành Cát Tư Hãn còn tặng danh hiệu cho bốn danh tướng Giả Lặc Miệt, Triết Biệt, Tốc Bất Đài, Hốt Tất Lai là “Mông Cổ Tứ Ngao”. Ngao là loài vật dũng mãnh trung thành, đảm nhận việc trông coi gia súc của người Mông Cổ và được người dân du mục tôn sùng. Thành Cát Tư Hãn lấy hình ảnh Ngao Mông Cổ để so sánh ẩn dụ với Giả Lặc Miệt, cũng rất hợp lý.

Có điều làm người ta luyến tiếc, trong tứ Ngao, thì Giả Lặc Miệt là người theo Thành Cát Tư Hãn sớm nhất, nhưng ra đi sớm nhất, nên công danh cũng không hiển hách bằng ba vị kia.

Ông sinh ra gặp thời đế quốc Mông Cổ hưng khởi, từ nhỏ đã theo bên bậc vương giả Thành Cát Tư Hãn, cũng là điều chỉ có thể gặp mà chẳng thể cầu trong an bài của sinh mệnh. Trong quãng đời ngắn ngủi, ông sát cánh cùng bậc hùng tài đại lược Thiết Mộc Chân, tung hoành trên thảo nguyên sa mạc, cùng các dũng sĩ Mông Cổ kiến tạo lên nền móng vững chắc cho triều đại nhà Nguyên, kinh qua quãng đời như vậy, chẳng phải là điều đắc chí của bậc tướng quân sao?

Thái Bình

Tác giả: Lan Âm - Epochtimes

Tư liệu tham khảo: "Mông Cổ mật sử" và "Tân Nguyên sử".

 



BÀI CHỌN LỌC

Phúc tướng của Thiết Mộc Chân - Giả Lặc Miệt xả thân cứu chủ