Nhân nghĩa quý hơn vàng - Phẩm chất cao thượng của Hứa Hằng lưu danh muôn đời

Bình luận Trúc Lâm • 06:30, 04/03/20

Người xưa đã từng nói: “Tiền bạc không là gì, nhân nghĩa mới đáng giá nghìn vàng, thu nhập chỉ cần đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của cuộc sống là được, phần dư ra nên giúp đỡ người khác. Việc này ý nghĩa hơn nhiều với việc giữ lại của cải để bản thân hưởng thụ”. Rồi Hứa Hằng bắt cậu học trò phải nhận lấy tiền của mình.

Đầu thời nhà Nguyên có một người học thức uyên thâm tên là Hứa Hằng (1209-1281), tự Trọng Bình, hiệu là Lỗ Trai. Ông dành cả đời duy trì tinh hoa của Nho giáo và lấy việc lưu truyền đạo đức tốt đẹp cho hậu thế làm trách nhiệm của tự thân. Cuốn Lỗ Trai Di Thư do ông viết vẫn luôn được người đời ca tụng.

Ông dành cả đời duy trì tinh hoa của Nho giáo và lấy việc lưu truyền đạo đức tốt đẹp cho hậu thế làm trách nhiệm của tự thân.
Ông dành cả đời duy trì tinh hoa của Nho giáo và lấy việc lưu truyền đạo đức tốt đẹp cho hậu thế làm trách nhiệm của tự thân. (Tranh: Tử Thanh)

Khổ luyện thành tài – Phẩm chất cao thượng

Nhà của Hứa Hằng ở Hà Nội (nay là huyện Tầm Dương tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), bởi gia cảnh nghèo khó, nhiều đời thuần nông nên ông phải ăn rau dại qua ngày. Tuy nhiên Hứa Hằng là một người rất ham học. Năm lên bảy tuổi ông đã từng hỏi thầy giáo rằng: “Thưa thầy học để làm gì vậy ạ?” Thầy giáo trả lời: “Là để thi đỗ khoa cử”. Hứa Hằng nghĩ một lúc rồi hỏi tiếp: “Không lẽ chỉ như vậy thôi sao?” Thầy giáo nghe xong rất lấy làm ngạc nhiên, cậu học trò này khác hẳn với những bạn học khác.

Thời niên thiếu, Hứa Hằng không có tiền mua sách nên phải xin học ở nhà những người có học vấn cao. Ông học được rất nhiều kiến thức từ các sách đọc được, các sách mượn được hoặc chép lại. Một hôm ở ngoài chợ, Hứa Hằng nhìn thấy quyển sách Thư Kinh Tập Giải đặt trên bàn của một thầy bói, ông liền ngồi luôn xuống đất và đọc ngấu nghiến. Thầy bói thấy thế rất khâm phục tinh thần ham học của Hứa Hằng, liền cho ông mượn sách đem về nhà chép lại. Sau đó, Hứa hằng ban ngày đi làm, tối về vừa chép vừa đọc sách, cuối cùng đã trở thành một người có học thức uyên bác.

Khi Nguyên Thế Tổ còn tại thế đã phong cho Hứa Hằng làm Kinh Triệu Đề Học, phụ trách các việc mở trường học. Sau này ông thăng chức làm Tập Hiền Đại Học Sĩ kiêm Quốc Tử Tế Tửu. Ông từng đề xuất với Nguyên Thế Tổ rằng: “Vì nước nhà an định nên nhất định phải tuân theo đạo lý của các đời trước, phải biết giữ lễ nghĩa, vì đạo lý là cốt lõi tồn tại của mỗi sự vật, không được làm trái lại những đạo đức tốt đẹp vốn có đó”.

Trong thời cuộc loạn lạc càng phải giữ tâm ngay thẳng

Hứa Hằng khi còn trẻ, trong lúc học luôn tự biết đối chiếu từng lời nói, ý niệm và hành vi của bản thân với những gì học được trong sách. Theo ông, đối với sự dạy bảo của các bậc Thánh hiền thì trước tiên cần phải tu sửa tự mình, sau mới có thể chỉ bảo cho người khác, quyết không đảo lộn trật tự này.

Vào một ngày hè nóng nực, ông cùng một vài người khác đi chạy nạn, cả ngày lẫn đêm đều không được ăn uống gì, cổ họng ai cũng khô cháy. Bỗng họ nhìn thấy bên đường có một cây lê sai trĩu quả, những người kia vội vàng tranh nhau hái lê ăn, chỉ có một mình Hứa Hằng vẫn ngồi dưới gốc cây đọc sách như chưa hề nhìn thấy quả lê trên cây.

Một người bạn nói với ông: “Cây lê này quả vừa chín tới, ăn rất thơm ngon, lại đỡ khát nước. Sao bạn không đi hái mà ăn?” Hứa Hằng trả lời: “Đây không phải cây lê nhà tôi, sao tôi có thể hái mà ăn được? Tôi không ăn đâu”. Những người bạn khác chạy lại tiếp lời: “Giờ chiến tranh loạn lạc thế này, người chết cứ chết, người chạy cứ chạy, cây lê này không có chủ đâu, đừng lo, nhanh ăn đi.” Ông lại đáp: “Mặc dù cây không có chủ, nhưng lòng tôi không thể không có chủ; Nhân nghĩa chính là người chủ trong lòng tôi”. Ông cương quyết nói tiếp: “Cái gì không phải của mình, là thứ bất nghĩa, là không nên lấy”, nói rồi trước sau như một ông tuyệt nhiên vẫn không bứt quả để ăn.

“Cái gì không phải của mình, là thứ bất nghĩa, là không nên lấy”
“Cái gì không phải của mình, là thứ bất nghĩa, là không nên lấy”. (Tranh: Tử Thanh)

Tiền tài như rác rưởi, nhân nghĩa đáng ngàn vàng

Học vấn và đạo đức của Hứa Hằng ngày một thâm hậu khiến nhiều người rất kính nể. Ngày nọ một vị tú tài ở huyện Tầm Dương chuẩn bị lễ vật đến xin học ông. Hứa Hằng thấy cậu ta đem lễ vật tới, trong lòng lấy làm khó chịu, sau khi trả lại lễ vật xong, ông nói: “Ta hà có công đức gì mà tiên sinh phải vất vả tới lui? Chỉ cần ngài không chê tôi ngu dốt là tôi đã mừng vui mừng lắm rồi. Tôi không thể nhận những của cải không đúng lễ nghĩa, càng không muốn làm trái lương tâm của mình. Xin tiên sinh đừng lấy làm lạ!”.

Vị tú tài nghe xong những lời này, rất cảm động đáp lại: “Hứa huynh quả nhiên phẩm đức cao thượng, rất thấu hiểu việc đối nhân xử thế, hôm nay tại hạ lần đầu gặp mặt quả thật đã được mở rộng tầm mắt.”

Từ đó về sau người đến xin học Hứa Hằng ngày một đông. Sau tuổi trung niên, ông chuyên tâm vào dạy học để làm việc tốt cho đời. Nội dung giảng dạy của ông bao gồm rất nhiều lĩnh vực: kinh tế, văn học, đạo hiếu, lịch sử, lễ nghĩa, nhạc, thiên văn, quân đội, thực phẩm, thủy lợi… Hiểu biết của ông phong phú cộng thêm việc truyền dạy giỏi, biết cách dạy dỗ con người, vậy nên học trò ai ai cũng thích. Hơn nữa Hứa Hằng không phân biệt học sinh giàu nghèo, ông coi tất cả đều như nhau.

Vào một ngày tuyết rơi, có một cậu học trò đội gió tuyết tới xin học. Hứa Hằng nhìn cậu học trò người lạnh run cầm cập, liền cởi áo bông trên người ra khoác cho cậu bé rồi quan tâm hỏi: “Sao trò chỉ mặc một chiếc áo mỏng ra ngoài?” Học trò trả lời: “Bố mẹ mắc bệnh nặng, con đã lấy áo bông đổi lấy thuốc rồi”. Ông nghe xong liền lấy ra 2 quan tiền đưa cho cậu bé về mua áo bông. Cậu học trò biết thầy cũng không giàu có gì nên đã từ chối nhận. Hứa Hằng nói: “Ta giúp con khắc phục khó khăn trước mắt, không ảnh hưởng gì tới kế sinh nhai của ta. Người xưa đã từng nói: “Tiền bạc không là gì, nhân nghĩa mới đáng giá nghìn vàng, thu nhập chỉ cần đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của cuộc sống là được, phần dư ra nên giúp đỡ người khác. Việc này ý nghĩa hơn nhiều với việc giữ lại của cải để bản thân hưởng thụ”. Rồi Hứa Hằng bắt cậu học trò phải nhận lấy tiền của mình.

Thời Nguyên Thế Tổ, triều đình trong ngoài ai cũng biết ông có học thức uyên thâm, phẩm đức cao thượng. Ông quả thực đã có công lao rất lớn trong việc duy trì và phát huy đạo đức tốt đẹp. Vì thế, sau khi Hứa Hằng qua đời, ông đã được vua phong cho danh hiệu Văn Chính

Trúc Lâm

Theo: Secretchina