Nguyễn Cư Trinh: Công thần khai quốc, dẹp yên bờ cõi Phương Nam bằng tư tưởng Nho Gia - Kỳ 1

Bình luận Minh Bảo • 11:30, 04/01/20

Đôi lời về lịch sử:

Lịch sử không chỉ là quá khứ, nó còn là một quá trình tích lũy lâu dài của cả một nền văn hóa nghệ thuật, quân sự với nội hàm thâm sâu và nhiều thành tựu to lớn của dân tộc, quốc gia. Nó cũng là nền tảng của tương lai của quốc gia đó. Một dân tộc không có lịch sử sẽ không có tương lai sáng lạn. Vì lịch sử là gốc rễ của dân tộc, không có gốc thì ngọn sẽ không bền. Ví như một đứa trẻ không cha không mẹ thì cũng bất hạnh như một dân tộc mất đi nguồn cội của mình vậy. Dẫu nó có may mắn có được cuộc sống sung túc đủ đầy nhưng vật chất vĩnh viễn không thể làm an ủi cho sự khiếm khuyết trong tâm hồn khi nó không bao giờ biết mình từ đâu đến về thuộc về nơi đâu. Đất nước ta cũng như thế, chúng ta cũng từng có nền văn hiến và lịch sử nhiều nghìn năm đầy vinh quang và tự hào, vốn đủ cho chúng ta ngẩng cao đầu hướng về tương lai, nhưng vì chiến tranh binh lửa và một số người đã dùng lịch sử như công cụ để kích động tính tranh đấu và ích kỷ bởi mưu đồ chính trị nên lịch sử nước ta đã mất đi sức mạnh vốn có của nó. 

Thực chất lịch sử từ xưa đến nay vốn là để giúp cho người các thời đại học các bài học từ trị quốc an bang đến nghệ thuật quân sự, văn hóa truyền thống, điển chế các triều và cả đạo đức nhân sinh... Đây là môn khoa học toàn diện nhất, bất kỳ ai học đều có thể từ trong đó hiểu được chuyện nghìn năm sau trước của thiên hạ. Nhờ đó trên có thể giúp vua trị quốc, dưới giúp dân an cư lạc nghiệp, trong khả dĩ tu dưỡng đạo đức bản thân, ngoài lập thân nêu gương trong xã hội, dạy dỗ cho hậu nhân. Đó mới là mục đích chân chính của sử học, hoàn toàn không phải là học vấn về quá khứ, vì quá khứ là nguồn gốc và quy luật diễn hóa ra tương lai.

Khi nói về lịch sử Việt Nam, do ảnh hưởng của lòng tự tôn dân tộc, không dựa trên cơ điểm khoa học; mặt khác vì ngành nghiên cứu lịch sử không phát triển mà người Việt ta hay có xu hướng và quan điểm bài Trung. Điều này dễ bị lợi dụng khiến cho nhiều người trẻ - đặc biệt là giới trẻ trên mạng internet - trở nên thiếu lý trí và dễ dẫn đến cực đoan. Vì người ta không phân biệt được văn hóa Trung Quốc và chính quyền Trung Quốc, nhất là chính quyền Trung Cộng hung hăng hiếu chiến hiện nay. Dù cho các vương triều Trung Quốc đô hộ Việt Nam gần nghìn năm nhưng có một nghịch lý hiển nhiên là: chữ Hán và các mô hình quản lý xã hội của các triều đại Trung Hoa vẫn luôn là hình mẫu chuẩn mực và tiên tiến nhất thế giới trong từng thời đại đó, cho các vua chúa Việt Nam noi theo. Nhờ đó họ có thể xây dựng và quản trị tốt một quốc gia non trẻ để trở nên hùng mạnh. Nếu thiếu hình mẫu đó thì đừng nói đến vinh quang của Lý, Trần, Lê, Nguyễn mà độc lập của dân tộc chưa chắc đã giữ được quá 200 năm. 

Các ví dụ sinh động nhất có thể thấy như thổ dân Brazil, Mexico, và Bắc Mỹ hay kể cả Lưu Cầu, Nam Chiếu, Phù Nam, Champa cũng thế... Mô hình quản lý xã hội không tiên tiến ắt sẽ bị thứ tiên tiến hơn tiêu diệt và đồng hóa.

Linh hồn của một dân tộc là văn hóa. Dĩ nhiên văn hóa cổ Việt Nam chúng ta thời Hùng Vương rất mạnh mẽ và tinh túy, nhưng nó đã thất truyền trong binh lửa và không đủ để vực dậy một đất nước mới giành được độc lập và còn non yếu. Chúng ta đã mất chế độ quản lý, mất điển chương nhà nước, mất cách quản lý xã hội, thư tịch, lịch sử, tôn giáo… hầu như mất tất cả. 

Ngay thời điểm quan trọng đó, văn hóa Hán cùng với tam giáo Nho-Phật-Lão đã bổ sung một cách tuyệt vời. Nó dung hòa với đạo đức và tinh thần của người Việt mà hình thành nền văn hiến nghìn năm Thăng Long mà đến nay ta vẫn còn tự hào. Do đó việc chúng ta chối bỏ hay hạ thấp ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc đối với văn hóa nước nhà (ảnh hưởng tâm lý bài Trung) là một việc làm không hay và chỉ thể hiện sự yếu kém về ý thức dân tộc. Hãy nhìn Nhật Bản và Hàn Quốc đều là hai cường quốc văn hóa nhưng họ không hề chối bỏ sự ảnh hưởng của nguồn gốc Trung Hoa, mà họ dựa vào đó và phát triển văn hóa của chính dân tộc mình.

Vì thế trong chuyên mục lịch sử này, khi chúng tôi viết về Trung Hoa và các nhân vật Trung Hoa góp mặt trong lịch sử Việt Nam, quý độc giả sẽ không thấy sự hạ thấp hay sỉ nhục chiến bại của họ. Vì dù họ có thành hay bại, chúng tôi sẽ viết trên cơ sở tôn trọng và viết đúng về họ. Vì lịch sử là khoa học, mà khoa học thì phải chính xác. Hơn thế nữa, chiến tranh và lịch sử vốn được xây bằng xương máu của cả hai bên tham chiến, nó sẽ đem lại bài học quý giá cho cả hai bên. Nên chúng tôi không thể chỉ tôn trọng máu xương của bên chiến thắng, vì chúng ta đều cùng là nhân loại với nhau. Chúng tôi muốn những bài sử đem lại những giá trị nhân văn hơn, có ích hơn cho con người hiện đại và những bài học rõ ràng để những thế lực nào muốn gây ra cảnh máu xương có thể xem mà tự răn mình. Chúng tôi quan niệm rằng việc hạ thấp kẻ thù không tôn chúng ta lên cao, chỉ có đối xử cao thượng và đúng mực thì chiến thắng của ta mới càng được hậu nhân kính trọng. Có cư xử như thế mới xứng đáng với văn hiến nghìn năm của nòi giống chúng ta, vốn từ xưa đã là:

“Văn hiến thiên niên quốc
Xa thư vạn lý đồ
Hồng Bàng khai tịch hậu
Nam phục nhất Đường Ngu”
Tạm dịch:
Nước ngàn năm văn hiến
Cơ đồ vạn dặm xa
Từ Hồng Bàng mở cõi
Đường Ngu một sơn hà”
(Bài thơ ghi trên điện Thái Hòa-Huế).

Nguyễn Cư Trinh là một danh nhân hiếm hoi có thể xuất tướng võ, nhập tướng văn, vừa có tài cầm quân đánh dẹp biên thùy, vừa giỏi kinh bang tế thế quản trị miền Nam. Với pháp độ của Nho giáo chính tông và đạo đức cao thượng của một kẻ sĩ quân tử, ông đã lập nền móng cai trị vững chắc, làm cho vùng đất phương Nam buổi đầu vốn trù phú nhưng vô cùng phức tạp sớm được sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam một cách hưng thịnh và trường tồn...

Đồng bằng sông Cửu Long màu mỡ rộng lớn, là vựa lúa lớn nhất của cả nước và là mảnh đất cưu mang hàng mấy chục triệu cư dân khắp vùng sinh sống suốt hơn 300 năm qua. Nó là kết quả của công cuộc “Nam tiến” khởi phát từ các chúa Nguyễn. Cuộc chiến đấu mấy thế kỷ lâu dài và mồ hôi nước mắt của ông cha có lẽ đã không viên mãn để đất nước ta có hình dạng lãnh thổ như ngày nay nếu thiếu những đại tướng, chiến lược gia tài giỏi giúp cho việc mở mang bờ cõi đi đến thắng lợi cuối cùng. 

ĐBSCL là kết quả của công cuộc “Nam tiến” khởi phát từ các chúa Nguyễn.
ĐBSCL là kết quả của công cuộc “Nam tiến” khởi phát từ các chúa Nguyễn, là kết quả của biết bao mồ hôi xương máu của các thế hệ cha ông đi trước. (Ảnh: baomoi.com)

Tuy nhiên cổ nhân có câu: "lấy thiên hạ trên lưng ngựa nhưng không thể trị thiên hạ trên lưng ngựa” được, cần có văn hóa giúp giáo hóa dân chúng thì mới có thể mở mang bờ cõi, tổ quốc mới trường tồn. Vì thế mà xét về người có đóng góp quan trọng nhất về mặt chiến lược, giáo hóa và đứng vào hàng khai quốc công thần đối với Nam bộ có lẽ ít ai được như Nghi Biểu Hầu - Nguyễn Cư Trinh. Ông là một danh nhân hiếm hoi có thể xuất tướng võ, nhập tướng văn, vừa có tài cầm quân đánh dẹp biên thùy, vừa giỏi kinh bang tế thế quản trị miền Nam với pháp độ của Nho giáo chính tông và đạo đức cao thượng của một kẻ sĩ quân tử. Ông đã lập nền móng cai trị vững chắc làm cho vùng đất phức tạp này sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam một cách lâu dài bền vững. Cùng với nhiều Nho thần nổi danh sau này như Gia Định Tam Gia, Sùng Đức tiên sinh Võ Trường Toản... tất cả đã cùng nhau làm nên một vùng đất mới vừa bừng bừng sức sống vừa tràn đầy truyền thống nhân văn, đây quả là kỳ tích ngàn năm có một vậy.

Hậu duệ danh sĩ Nho gia, nổi danh chính trực

Nguyễn Cư Trinh (chữ Hán: 阮居貞, 1716-1767), tên thật là Nguyễn Đăng Nghi, tự là Cư Trinh, hiệu là Đạm Am, Đường Qua và Hạo Nhiên. Ông là con út của danh sĩ Nguyễn Đăng Đệ - Ký lục tỉnh Quảng Nam dưới triều Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), nổi tiếng học giỏi từ nhỏ và thanh liêm, công bằng chính trực lúc làm quan.

Cũng như cha, ngay từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh, hiếu học. Năm Canh Thìn (1740) Nguyễn Cư Trinh đỗ Hương cống, được bổ làm Tri phủ huyện Triệu Phong ( Quảng Trị), sau đó được thăng chức về làm việc tại triều. Ông chẳng những thanh liêm, chính trực như cha mà còn dám nói thẳng, dám can gián Chúa không hề sợ sệt. Ông cũng là một vị tướng giỏi, vị quan cai trị hiệu quả, chiến lược gia tài năng, phán đoán sự việc chính xác nên thường xuyên được Chúa cho mời hỏi ý kiến về các vấn đề quốc quân trọng đại và phụ trách soạn thảo chiếu chỉ cho Chúa.

Thuận theo Mệnh trời mà làm nên nghiệp lớn

Nước Việt tiến về phương Nam để vùng dậy trở thành một quốc gia lớn hơn, một dân tộc lớn hơn là điều đã được trời định. Vậy thì Ông trời cũng sẽ an bài cho những con người tài hoa sinh vào mảnh đất này để biến điều đó thành hiện thực. Nguyễn Cư Trinh là một trong những con người đó, sinh ra với sứ mệnh kinh bang tế thế. Điều này thể hiện ngay từ cái tên tự và húy của ông.

Cái tên của một người thể hiện tài năng và vận mệnh của người đó nên ông cha ngày xưa rất quan trọng việc đặt tên và tự. Trong truyền thống đặt tên của người Việt xưa, tên húy - tên tự - tên hiệu luôn có mối quan hệ qua lại, bổ sung ý nghĩa, tương hỗ cho nhau.

Tên húy là tên đặt lúc sinh ra, là “tên chính thức” trong giấy tờ hành chính để học hành, thi cử, làm quan…Nhưng tên húy lại không phải là tên để dùng gọi khi giao thiệp vì có phong tục kiêng húy. Thuở ấy, đợi lúc nam nhi đủ 20 tuổi Âm lịch, người ta sẽ làm lễ gia quán (加冠) - đội mũ, biểu thị sự trưởng thành và từ đây bắt đầu kiêng húy. Kiêng húy là phong tục cấm gọi tên húy của người đã “đội mũ”. Vì kiêng tên húy nên lúc này phải đặt tên thường dùng, gọi là tên tự.

Tên tự là tên gọi của người con trai trưởng thành sau khi làm lễ “gia quán”, được cha mẹ hoặc trực tiếp, hoặc nhờ người hay chữ chọn lựa chữ nghĩa phù hợp nhất để đặt cho con mình. Việc đặt tên tự vô cùng quan trọng, vì tên tự phải bao hàm nghĩa, hoặc mở rộng nghĩa của tên húy làm cho nó tốt đẹp hơn, đặc biệt nó còn thể hiện ra vận mệnh tương lai của người mang tên đó. Như đã nói, ông tên húy Trinh 貞, có nghĩa là khí tiết trong sạch, liêm khiết, ngay thẳng, khảng khái, chính nghĩa. 

Cái tên của một người thể hiện tài năng và vận mệnh của người đó nên ông cha ngày xưa rất quan trọng việc đặt tên và tự.
Cái tên của một người thể hiện tài năng và vận mệnh của người đó nên ông cha ngày xưa rất quan trọng việc đặt tên và tự. (Ảnh: advite.com)

Chữ Trinh cũng nằm trong lời Thoán từ ở quẻ Thủy địa sư 地水師 của Kinh Dịch như sau: 師: 貞,丈人, 吉.無咎 

Tạm dịch:

Sư: trinh, trượng nhân, cát. Vô cữu.

Thoán truyện giải nghĩa như sau:

Sư, chúng dã. Trinh, chính dã. Năng dĩ chúng chính, khả dĩ vương hĩ. Cương trung nhi ứng, hành hiểm nhi thuận, dĩ thử độc thiên hạ nhi dân tòng chi. Cát. Hựu hà cữu hĩ 

師眾也,貞正也。能以眾正,可以王矣。剛中而 應,行險而順,以此毒天下而民從之。吉。又何咎矣 

Tạm dịch: 

Sư (Quân đội) là sự tập hợp của nhiều người. Là ngay thẳng, chính nghĩa. Lấy chính nghĩa hợp lòng người mới có thể là bậc vương giả mà hưng binh. Giữ đức ngay thẳng chính trực thì muôn người hưởng ứng, đi vào chỗ hiểm nguy cũng thuận lợi, thì có thể làm cho lòng dân của cả thiên hạ theo mình. Tốt đẹp. Có thể lâu dài.

Vậy thì Cư Trinh nghĩa là gì? Hào lục ngũ 六五 trong quẻ Di 頤卦 của Kinh Dịch viết rằng: 

象 曰 .     居 貞 之 吉 . 順 以 從 上 也 . 

Tượng viết: Cư trinh chi cát. Thuận dĩ tòng thượng dã.

Tạm dịch:

Lời tượng nói rằng: Cái tốt của sự ở chính, vì thuận theo trên vậy. Hàm ý là người có thể sống chính trực là nhờ thuận theo đạo trời mà cư xử, xử lý mọi điều.

Chữ Cư Trinh còn ứng với quẻ Truân 屯卦 của Kinh Dịch như sau

初 九: 磐 桓, 利 居 貞, 利 建 侯 .

Sơ cửu: Bàn hoàn, lợi cư trinh, lợi kiến hầu.

Tạm dịch: 

Hào 1, dương : quanh co, giữ được điều chính thì lợi, gặp tước hầu thì lợi.

Hào này là dương, tượng người có tài, lại đắc chính vì dương ở dương vị, cho nên giữ được tâm cho chính thì có lợi. Nó là hào dương mà lại phải dưới hai hào âm trong nội quái, nghĩa là người quân tử phải thời loạn nên tạm giữ chức vị thấp. Nhưng cũng vì nó là dương, là quân tử nên ngược lại nhờ địa vị thấp, mà lòng luôn thành thực giữ tâm chính trực mà thành cái tượng khiêm hạ, được lòng dân. Do đó người quân tử mới đầu tuy còn quanh co, khó khăn nhưng sau sẽ được tín nhiệm mà giao cho trọng trách giúp đời. Thành công có thể dựng được tước hầu.

Nói tóm lại, tên của Nguyễn Cư Trinh mang theo nội hàm của quẻ Sư và quẻ Truân đã thể hiện ra vận mệnh thiên định của ông: là một bậc đại quan tài năng chính trực phò Chúa làm nên nghiệp lớn, làm cho quân đội quốc gia hưng binh chinh phạt, mở rộng bờ cõi thành công cho bậc vương giả (chúa Nguyễn). Càng về sau càng giữ trọng trách lớn của nhà nước mà trị quốc an dân, phong đến tước hầu. Và trong tên của ông cũng mang theo lời răn của Trời: “muốn đạt được thành tựu lớn về mọi mặt thì cần tu dưỡng đức hạnh, tài năng, sống ngay thẳng chính trực. Nhẫn nại khi ở địa vị thấp, lấy đức đối nhân, sống theo đạo trời thì thời cơ đến mới thành công.” 

Ông được đặt tên tự là Đạm Am 澹庵 (nghĩa là căn nhà tranh lặng lẽ, thanh đạm) cùng với Cư Trinh 居 貞: cư xử đúng theo chính đạo càng làm nổi bật hơn vì chính đạo là đạo Trời, vì đạo Trời thì luôn yên tĩnh, thanh đạm.

Về sau ông lấy tên hiệu là Hạo Nhiên 浩然. Từ này có thể lấy ra từ chữ Hạo Nhiên Chính Khí  浩然正氣 nghĩa là khí chất ngay thẳng rõ ràng, quang minh chính đại, cái khí biểu trưng cho chính nghĩa của trời đất. Tướng quân Văn Thiên Tường đời Tống trong Chính Khí Ca -正氣歌 đã viết:

天地有正氣, 

Thiên địa hữu chánh khí

雜然賦流形

Tạp nhiên phú lưu hình

下則為河嶽, 

Hạ tắc vi hà nhạc,

上則為日星, 

Thượng tắc vi nhật tinh,

於人曰浩然, 

Ư nhân viết hạo nhiên

沛乎塞蒼冥

Bái hồ tắc sương minh

Tạm dịch:

Trời đất có chính khí

Toả ra cho muôn loài

Là sông núi dưới đất

Là trăng sao trên trời

Đầy rẫy cả vũ trụ

Khí hạo nhiên của người

Trong sách Mạnh tử 孟子, thiên Công Tôn Sửu chương cú thượng 公孫丑章句上 chép như sau:

敢問夫子惡乎長.曰:我知言,我善養吾浩然之氣 

Cảm vấn Phu tử ô hô trường? viết: ngã tri ngôn, ngã thiện dưỡng ngô hạo nhiên chi khí. 

Tạm dịch:

Công Tôn Sửu hỏi: “Dám hỏi thầy về sự chẳng động tâm của thầy? Thầy có sở trường gì?” Mạnh tử trả lời: Ta hiểu lời ngươi, ta khéo bồi dưỡng cái khí hạo nhiên của mình. 

Vậy chữ Hạo Nhiên 浩然 có thể hiểu là người mang trong mình Chính khí của trời đất, cũng có thể hiểu là tuân theo mệnh trời. Sống ở đời luôn hành sự theo chính đạo (Cư Trinh 居貞), kiên nhẫn khắc phục khó khăn (quẻ Truân), từng bước mà hưng binh phò vua (quẻ Sư), được lòng dân mà làm nên nghiệp lớn (kiến hầu).

(còn tiếp)

Minh Bảo.



Bài cùng chuyên đề