Mạn đàm về quan hệ văn hóa giữa Nho gia và Đạo gia

Bình luận Trung Hòa • 19:30, 18/06/20

Rất nhiều người cũng đã nghe thấy người ta nói Nho gia và Đạo gia là cùng nguồn gốc. Vậy Nho gia và Đạo gia có gì tương đồng, có gì khác biệt, và cái gốc chung đó là gì?

Khi xem những cuốn sách cổ, chúng ta có được những kiến giải rất thú vị về văn hóa. Đạo gia, Nho gia, Chu dịch, Ngũ hành... đã thấm sâu vào lịch sử văn hóa Á Đông. Về bề ngoài thì mỗi thứ biểu hiện đặc sắc riêng, phong phú như những khu rừng, nhưng chúng lại đan xen ngang dọc hòa với nhau.

Những giao hòa này bao gồm cả khái niệm "Vị" và đạo lý "Tương sinh tương khắc".

Nho gia - quan niệm về vị trí và hài hòa

Khái niệm "Vị" vô cùng quan trọng trong văn hóa truyền thống Á Đông. Vị tức là vị trí. Những sinh mệnh khác nhau, vật chất khác nhau có vị trí khác nhau của riêng nó. Giữ vững vị trí của mình, không rời khỏi vị trí của mình thì mới có thể sinh sôi phát triển không ngừng. Vị trí của một sinh mệnh chính là bản tính của nó, hoặc là nói đây chính là sinh mệnh của họ.

Nho gia giảng người quân tử cần phải "nhu ngoại nhi cương trung" (ôn nhu bên ngoài mà cương trực bên trong). Bất kể là nam hay nữ, làm người đều cần phải phân biệt rõ phải trái, nhưng đối nhân xử thế và hành vi bề ngoài thì nhất định phải ôn hòa, đôn hậu, khoan dung. Đối với phụ nữ mà nói thì càng cần chú trọng ôn nhu. Đây chính là tiêu chuẩn làm người trong mấy nghìn năm qua. 

Bởi vì các bậc quân chủ, đế vương cổ đại là "trung tâm" của người trong thiên hạ, nên họ cần phải đối xử ôn nhu với bề tôi và người dân. Ví như các bậc vua chúa xưa thường nhún mình, tự xưng là "cô gia", "quả nhân" (ý nói họ là người cô độc). Đối với bề tôi thì phải khiêm tốn có lễ nghĩa, cần phải coi lòng dân là lòng mình, chăm lo đối xử với người dân như đối với con cái mình.

Bởi vì các bậc quân chủ, đế vương cổ đại là "trung tâm" của người trong thiên hạ, nên họ cần phải đối xử ôn nhu với bề tôi và người dân.
Bởi vì các bậc quân chủ, đế vương cổ đại là "trung tâm" của người trong thiên hạ, nên họ cần phải đối xử ôn nhu với bề tôi và người dân. (Ảnh chụp màn hình Tam Tự Kinh)

Định Công hỏi: "Vua sai khiến bề tôi, bề tôi phụng sự vua thì như thế nào?" 

(Nguyên văn: Quân sử thần, thần sự quân, như chi hà?)

Khổng Tử trả lời: "Vua dùng lễ sai khiến bề tôi, bề tôi dùng lòng trung phụng sự vua".

(Nguyên văn: Quân sử thần dĩ lễ, thần sự quân dĩ trung).

Vị trí của người quân tử là "trung", chữ trung này có nghĩa là ở trong. Tăng Sâm, đệ tử của Khổng Tử nói rằng, người quân tử suy nghĩ không vượt ra ngoài vị trí của mình. Người quân tử phải giữ vững vị trí của mình thì mới có thể tiếp tục là người quân tử. Giữ như thế nào? Bản chất của người quân tử là cương trực, là dương, thuộc về một tình trạng cực điểm. Như vậy cần phải dùng biểu hiện Nhu (mềm) và Khúc (cong) để dung hòa, để đạt đến cân bằng, tự thân đạt đến loại cân bằng này.

Khổng Tử nói: "Văn hoa và chất phác cân bằng thì sau đó mới thành người quân tử được".

(Nguyên văn: Văn chất bân bân, nhiên hậu quân tử).

Văn tức là văn hoa, văn vẻ, là biểu hiện của bề ngoài. Văn hoa và chất phác đều đủ đầy, không thiên lệch, không phế bỏ thì mới có thể gọi là người quân tử. Hơn nữa hai thứ đó cũng phải rõ ràng phân minh, không được trong ngoài đảo ngược. Một người đạt đến tiêu chuẩn này, thế thì mọi người sống cùng người đó sẽ thấy người này trong lòng cương trực mà cảm thấy đáng kính phục, đáng tin cậy, đồng thời thấy người này biểu hiện bên ngoài ôn nhu mà cảm thấy thân thiết. 

Khổng Tử chính là người "ôn hòa mà nghiêm trang, uy nghi mà không thô bạo, cung kính mà an hòa" (Nguyên văn: ôn nhi lệ, uy nhi bất mãnh, cung nhi an). Bởi vì bên trong cương trực nên "nghiêm trang, uy nghi, an hòa". Bởi vì bên ngoài ôn nhu nên "ôn hòa, không thô bạo, cung kính".

Nếu có những thiên lệch hoặc phế bỏ, thế thì sẽ đi đến cực đoan. Khổng Tử nói: "Người quân tử phải lấy nghĩa làm bản chất, lấy lễ để thực hành, lấy khiêm tốn để cư xử, lấy chữ tín để thành tựu". 

(Nguyên văn: Quân tử nghĩa dĩ vi chất, lễ dĩ hành chi; tốn dĩ xuất chi, tín dĩ thành chi).

"Người quân tử phải lấy nghĩa làm bản chất, lấy lễ để thực hành, lấy khiêm tốn để cư xử, lấy chữ tín để thành tựu". 
"Người quân tử phải lấy nghĩa làm bản chất, lấy lễ để thực hành, lấy khiêm tốn để cư xử, lấy chữ tín để thành tựu". (Ảnh chụp màn hình Tam Tự Kinh)

Làm người quân tử thì tín và nghĩa là bản chất bên trong, lễ và khiêm tốn là biểu hiện bề ngoài. Đệ tử của Khổng Tử là Tử Lộ có hỏi ông rằng: "Người quân tử có yêu chuộng dũng cảm không?". Khổng Tử trả lời rằng: "Người quân tử thì tôn sùng nghĩa. Người quân tử có dũng cảm mà không có nghĩa thì sẽ làm loạn. Kẻ tiểu nhân có dũng cảm mà không có nghĩa thì sẽ làm trộm cướp". 

(Nguyên văn: Quân tử nghĩa dĩ vi thượng. Quân tử hữu dũng nhi vô nghĩa vi loạn, tiểu nhân hữu dũng nhi vô nghĩa vi đạo).

Vị trí cũng không được làm loạn. Khổng Tử nói: "Không ở vị trí đó thì không được mưu sự công việc của vị trí đó". 

(Nguyên văn: Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính).

Nhìn lại cổ kim, đã có biết bao câu chuyện truy cầu mà không đắc được, rất nhiều đều là mong muốn đắc được những thứ không nên đắc, mưu cầu những thứ vốn thuộc về người khác, mong muốn chiếm được vị trí của người khác. Hễ nảy sinh cái tâm như vậy thì chính là đã rời khỏi vị trí của mình rồi. Cho dù nhất thời có đắc được thì cuối cùng cũng sẽ mất, bởi vì nó không phải là thứ thuộc về mình. Hơn nữa khi đã rời khỏi vị trí của mình rồi thì giống như đã mất đi chốn dung thân của mình, không những đã không còn vị trí của mình mà bản tính cũng vì thế mà bị mê lạc trong dục vọng không thể nào thỏa mãn nổi. Trong quan niệm truyền thống chính là coi trọng giữ bổn phận, thuận Trời, theo mệnh.

Chương thứ nhất phần Hệ từ thượng truyện của Kinh Dịch  luận thuật đạo lý của vị trí và nhấn mạnh vị trí trung hòa trong Kinh Dịch: "Đắc được lý của thiên hạ thì mới thành lập được vị trí trong đó". 

(Nguyên văn: Thiên hạ chi lý đắc, nhi thành vị hồ kỳ trung hỹ).

Chương thứ nhất phần Hệ từ hạ truyện của Kinh Dịch cũng giảng: "Đức lớn của trời đất là sinh, báu vật lớn của Thánh nhân là vị". 

(Nguyên văn: Thiên địa chi đại đức viết sinh, Thánh nhân chi đại bảo viết vị).

Sự biến hóa của "hào" trong "quái" cũng là sự biến hóa của vị trí. Sự biến hóa của trời đất vạn vật cũng ở trong đó. Hễ đắc được vị trí ở giữa thì đại đa số đều là tốt. Trong 6 hào của quẻ tượng thì 2 và 5 là lần lượt ở giữa của quẻ trên và dưới. Do đó "2 nhiều vinh dự" (nhị đa dự), "5 nhiều công lao" (ngũ đa công). Còn vị trí thứ 3, 4 không đắc vị trí ở giữa thì "3 nhiều dữ" (tam đa hung), "4 nhiều lo sợ" (tứ đa cụ).

Văn hóa Nho gia là do Khổng Tử tổng kết và chỉnh lý từ văn hóa thượng cổ và trung cổ, mà Kinh Dịch luôn luôn là khuê chỉ của nền văn minh thời kỳ đó. Do đó Chu Dịch đứng đầu trong các kinh điển của văn hóa Nho gia là lẽ đương nhiên. Đem một bộ phận đạo lý trong đó quán xuyến đến xã hội nhân loại thì trở thành văn hóa Nho gia. Nhưng đạo lý mà Chu Dịch đề cập đến thì bao la vạn tượng, là "đạo lý bao hàm khắp tất cả trời đất". Mà vạn sự vạn vật trong thế giới của chúng ta cũng đều không ra khỏi phạm vi của cái lý này. Từ góc độ này mà nói, người xưa giảng "Thiên - Nhân hợp nhất", quả thực là vô cùng hợp lý.

Tranh Khổng Tử của Mã Viễn đời Tống
Tranh Khổng Tử của Mã Viễn đời Tống. (Ảnh: Wikipedia)

Sự tương đồng giữa đạo lý của Nho gia và Đạo gia

Chương thứ 42 sách Đạo đức kinh của Lão Tử có giảng "vạn vật mang khí âm và khí dương, hai khí này xung đột giao hòa mà thành vạn vật". 

(Nguyên văn: vạn vật phụ âm nhi bão dương, xung khí dĩ vi hòa).

Câu này đã bao gồm một cách hoàn chỉnh những đạo lý đã nêu trên. Các nhà khoa học cận đại thì cho rằng "vạn vật mang hai khí âm dương" chính là nói về đặc điểm kết cấu của nguyên tử: hạt nhân nguyên tử mang điện tích dương, điện tử mang điện tích âm. Nhưng thông qua xem xét văn hóa truyền thống, chúng ta có thể thấy diện nghiên cứu trong khoa học phương Tây chỉ là một đạo lý khoa học, còn diện nghiên cứu trong văn hóa truyền thống Á Đông lại quán xuyến tất cả các đạo lý, thiên âm địa dương, người xưa đem đạo lý này quán xuyến đến tất cả mọi thứ của Thiên - Địa - Nhân (trời, đất và con người).

Mà đối với "vạn vật mang khí âm và khí dương, hai khí này xung đột giao hòa mà thành vạn vật", chương thứ 42 sách Đạo đức kinh cũng chỉ ra đạo lý đối ứng ở nhân gian. Đối với các bậc quân vương thì: "điều mọi người ghét chỉ có cô độc, cô đơn và thiếu đói, do đó vương lấy những cái đó làm tên xưng hô bản thân". (Nguyên văn: nhân chi sở ố, duy cô, quả, bất cốc, nhi vương công dĩ vi xưng).

Điều này nhất trí với điều Nho gia giảng "người quân tử ôn nhu bên ngoài mà cương trực bên trong". Trong phần Phường ký, sách Lễ ký của Nho gia có viết: "Khổng Tử nói rằng: Người quân tử tôn quý người mà hạ thấp mình, suy nghĩ cho người trước rồi mới đến bản thân".

(Nguyên văn: "Tử viết: Quân tử quý nhân nhị tiện kỷ, tiên nhân nhi hậu kỷ").

Trong phần Tri y sách Lễ ký cũng có luận thuật tường tận cụ thể. 

Đạo đức kinh còn có rất nhiều câu như "Khinh suất thì mất căn bản, nóng nảy thì mất quân chủ" (Khinh tắc thất căn, táo tắc thất quân), "do đó bậc đại trượng phu sống đôn hậu, không sống khắc bạc, sống chân thực chất phác, không sống hào hoa phù phiếm" (thị dĩ đại trượng phu xử kỳ hậu, bất cư kỳ bạc; xử kỳ thực, bất cư kỳ hoa).

Những lời như vậy cũng cùng một đạo lý giống với "người quân tử ôn nhu bên ngoài mà cương trực bên trong".

"do đó bậc đại trượng phu sống đôn hậu, không sống khắc bạc, sống chân thực chất phác, không sống hào hoa phù phiếm"
"do đó bậc đại trượng phu sống đôn hậu, không sống khắc bạc, sống chân thực chất phác, không sống hào hoa phù phiếm". (Ảnh chụp màn hình phim Tam Tự Kinh)

Thế giới này luôn biến đổi, mà thiên biến vạn hóa cũng không rời khỏi vị trí của nó thì mới thuận lợi, mới có thể "lành, không gì không thuận lợi" (cát, vô bất lợi). Mà nguyên nhân dẫn đến biến đổi này, và nhân tố khống chế, cân bằng loại biến đổi này cũng chính là cái lý tương sinh tương khắc. "Vị" bị chế ước bởi tương sinh tương khắc, cân bằng đạt đến trật tự "hài hòa".

Đạo đức kinh từ đầu đến cuối đều thuật về đạo lý này, luận thuật hai loại đối lập dưới tác dụng ước chế của cái lý này đã thúc đẩy và kiềm chế lẫn nhau ra sao, đồng thời giảng làm thế nào để phù hợp với đạo lý này. Vì vậy Đạo đức kinh chỉ đạo mọi người tu luyện siêu phàm thoát tục. Đặc điểm của nó là buông bỏ: buông bỏ đúng và sai, buông bỏ tất cả những gì có liên quan đến thế tục, từ đó đạt đến trạng thái vô tranh,  vô vi của người tu luyện.

Nho gia thì không như thế, nó chủ yếu giảng thuật là trong thế gian này làm thế nào để trở thành người quân tử phù hợp tốt nhất với tiêu chuẩn làm người, thậm chí tốt hơn nữa là làm Thánh nhân. Do đó làm thế nào để tồn tại tốt hơn nữa trong thế gian này chính là một mục tiêu mà văn hóa Nho gia cần phải đạt được. Đó chính là điều chúng ta nói đến là cân bằng và "hài hòa". 

"Người quân tử hài hòa mà không a dua" (Quân tử hòa nhi bất đồng). "Bất đồng" ở đây là bởi ai nấy có vị trí của mình, ai nấy có bản tính và tự ngã của mình. "Hòa" ở đây chính là hài hòa với bản thân, hài hòa với người khác và hài hòa với trời đất. 

Làm thế nào đạt được hài hòa? Đó là cố gắng hết sức làm được "ôn nhu bên ngoài mà cương trực bên trong" (ôn ngoại nhi cương trung). Đối với bản thân thì "ôn nhu bên ngoài mà cương trực bên trong". Đối với người khác thì "tôn quý người mà hạ thấp bản thân". Đối với quốc gia thì "lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau niềm vui của thiên hạ" (tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc); "Bề tôi dùng lòng trung phụng sự vua, vua dùng lễ sai khiến bề tôi". Đối với Trời Đất thì "kính Trời sợ Thần" (kính Thiên úy Thần).

Nói cách khác, chính là trong Đạo đức kinh giảng "hai khí xung đột và giao hòa với nhau". "Hai khí âm và khí dương, xung đột và giao hòa với nhau", âm dương thúc đẩy khắc chế nhau đạt đến cân bằng. Bản thân con người cũng là một tiểu vũ trụ sinh trưởng phát triển diễn hóa không ngừng. Do đó nói đạo Trung Dung có nội hàm vô cùng sâu sắc.

Hai khí âm và khí dương, xung đột và giao hòa với nhau", âm dương thúc đẩy khắc chế nhau đạt đến cân bằng.
Hai khí âm và khí dương, xung đột và giao hòa với nhau", âm dương thúc đẩy khắc chế nhau đạt đến cân bằng. (Ảnh: Pixabay)

Gốc chung của Nho gia và Đạo gia là gì?

Bởi người viết hiểu biết rất nông cạn về Ngũ hành, chỉ biết nó không rời khỏi lý tương sinh tương khắc, và âm dương cũng có quan hệ rất mật thiết với nhau. Bởi vì Nho Y tương thông (Nho học và y học thông với nhau), do đó học thuyết Ngũ hành cũng là nhất thể với Đạo và Nho. 

Bất kể là Nho gia, Đạo gia hay là Kinh dịch, Ngũ hành, bất kể là "nhu ngoại cương trung" hay "xung khí dĩ vi hòa" như thế nào, thì mục đích căn bản chỉ là một, đó chính là tu đức thủ đức, để có thể không rời khỏi vị trí, người rời khỏi vị trí thì cũng có thể quay trở về vị trí của mình. Người xưa cho rằng, đó chính là mục đích căn bản làm người. Con người trên đời cũng giống như người trên đường đi, đi khắp bốn phương mà không biết trở về, thì đó là người như thế nào?

Trong phần Hệ từ hạ truyện của Kinh Dịch có một câu vô cùng thương cảm như thế này: "Kinh Dịch hưng thịnh, phải chăng ở thời trung cổ? Người chế tác ra Kinh Dịch, phải chăng có những âu lo?". 

(Nguyên văn: Dịch chi hưng dã, kỳ ư trung cổ hồ? Tác dịch giả, kỳ hưu ưu hoạn hồ?). 

Bởi vì ở dưới là 9 quẻ tượng trong Kinh dịch, nói về làm thế nào để tu đức thủ đức. Tại sao nói người đó thương cảm? Tương truyền "Hệ từ" là do Khổng Tử viết. Xem các kinh điển Nho gia, kinh điển nào cũng thấy Khổng Phu Tử than thở đạo đức đã mất và sự bất lực khi thúc đẩy thực thi nhân nghĩa, thực hành lễ. 

Nhưng Đạo đức kinh của Lão Tử thì nói rõ ràng rằng: "Đạo mất rồi mới sinh đức, đức mất rồi mới sinh nhân, nhân mất rồi mới sinh nghĩa, nghĩa mất rồi mới sinh lễ". 

(Nguyên văn: Thất đạo nhi hậu đức, thất đức nhi hậu nhân, thất nhân nhi hậu nghĩa, thất nghĩa nhi hậu lễ).

Cái gốc đã mất rồi, chúng ta không thể nào kiên trì được vị trí của mình nữa chăng? Ai nấy đều không biết vị trí của mình đã từng ở đâu rồi. Chúng ta còn có thể trở về với ngôi nhà đích thực của mình không? Thậm chí ngay cả nguyện vọng trở về mà chúng ta cũng không có nữa thì chúng ta là nhánh bèo trôi nổi trong sóng nước không có nơi trở về, hay là du khách trong mê không biết lối trở về đây?

Trung Hòa 

Tác giả: Đan Dương.

Theo zhengjian.org