Dịch bệnh ở Vũ Hán: Phải chăng chúng ta đã quên mất những bài học vô giá từ lịch sử? (Phần 4)

Bình luận Quỳnh Chi • 06:30, 21/02/20

Những người La Mã ấy nhờ sáng suốt nhận rõ Chân - Giả, Thiện - Ác, Chính - Tà, cuối cùng đã quy phục chính tín, trở nên thiện lương, thậm chí họ quyết tâm cải tà quy chính. Và chỉ bằng cách ấy, họ mới được thụ ký và sống sót.

Xem lại Phần 1, Phần 2, Phần 3

Phần 4: Lịch sử đã có câu trả lời cho đại dịch bệnh - Tấm lòng lương thiện và tâm trí sáng suốt.

5. “Đại Minh Kiếp”: Kiếp nạn đại ôn dịch đã đến

Vào ngày 25 tháng 10 năm 2013, phim điện ảnh “Đại Minh Kiếp” có buổi công chiếu đầu tiên ở Trung Quốc và Bắc Mỹ. Vào ngày 3 tháng 11 năm 2013, bộ phim giành được giải phim xuất sắc nhất tại Lễ trao giải điện ảnh Trung Mỹ lần thứ 9. 

Bộ phim kể về câu chuyện lịch sử như sau: Vào những năm cuối thời Minh, ôn dịch hoành hành, quân Minh mất đi sức lực chiến đấu, tướng quân Tôn Truyền Đình lâm nguy, trong lúc khởi binh có tuyển mộ thầy thuốc dân gian là Ngô Hữu Tính (tự là Hựu Khả); Ngô Hựu Khả trị bệnh trong chốn dân gian và trong quân đội, ông giúp đỡ mọi người giải trừ ôn dịch.

Nội dung của bộ phim này xem ra có vẻ giống với đại ôn dịch thời điểm hiện nay. 

Câu chuyện lịch sử trong phim là có thật, Ngô Hựu Khả cũng là nhân vật có thật. Trong trận đại ôn dịch xảy ra vào năm 1642 cuối thời Minh, số người bị bệnh truyền nhiễm ở vùng Sơn Đông, Hà Bắc và Chiết Giang vô cùng nhiều, thậm chí tình trạng trở nên vô cùng hỗn loạn, trong mười nhà thì hết chín nhà bị bỏ hoang. Những người sống sót qua được cũng mất đi rất nhiều người thân. 

Những người sống sót qua được cũng mất đi rất nhiều người thân. 
Những người sống sót qua được cũng mất đi rất nhiều người thân. (Ảnh chụp màn hình phim Tam Tự Kinh)

Ngô Hựu Khả chữa bệnh cứu người, ông đột phá “Thương hàn luận” truyền thống, đề ra lý thuyết chữa bệnh “Lệ khí”, về sau còn viết thành sách Ôn Dịch Luận. Cách trị liệu của ông rất hữu hiệu (cách ly người bệnh và dùng thuốc trung y “Đạt nguyên ẩm” do chính ông bốc thuốc). Trong dịch SARS vào năm 2003, có người từng dùng “Đạt nguyên ẩm” bổ trợ cho việc trị liệu và cũng thu được hiệu quả trị liệu nhất định.

Bởi vậy, “Đại Minh Kiếp” lưu lại cho chúng ta những khai thị hết sức sâu xa đáng để suy ngẫm.

Vì sao trận đại ôn dịch cuối thời Minh chỉ nhắm đến Đại Minh và lánh xa quân Thanh?

Giai đoạn lịch sử này khiến người ta vô cùng bối rối, trận đại ôn dịch cuối thời Minh giống như đã có ước hẹn với quân Thanh ở chỗ: nó chỉ lây lan cho người nhà Minh, khiến cho binh lực và sức chiến đấu của quân Minh suy giảm trầm trọng. Nghĩa quân Lý Tự Thành cũng nhiễm bệnh nhưng không đáng kể. Quân Thanh hoàn toàn không bị lây nhiễm. Người Hán trong Bát Kỳ Binh của quân Thanh cũng vô sự; ngoài kỵ binh còn có bộ binh cũng vô sự; bộ phận quân Minh đầu hàng quân Thanh cũng vô sự; quân Thanh và quân Hán của Ngô Tam Quế tiến đánh về phương nam cũng vô sự. 

Là ôn dịch được Ngô Hựu Khả chữa trị? Hay là ôn dịch tự nó biến mất hoàn toàn? Hay là do thời vận của quân Thanh đang quá tốt?

Các loại nhân tố đều có. Như đã nói ở trên, ôn dịch là có tính định hướng, lại một lần nữa cho thấy - Trời diệt Đại Minh, thần ôn dịch chỉ nhắm đến Đại Minh. 

“Đạt nguyên ẩm” thật sự có hiệu quả thần kỳ như vậy sao? 

“Đạt nguyên ẩm” có hiệu quả trị liệu nhất định. Nhưng khoa học phát triển cho đến hôm nay mà thế gian con người cũng không hề có loại thuốc đặc hiệu gì để chữa trị virus, đến cả thuốc đặc hiệu trị bệnh cảm mạo cũng không hề có. Virus gây chết người ở bên ngoài thì dễ chữa, nhưng nếu như virus gây chết người từ bên trong cơ thể thì nó sẽ giết chết hết thảy tế bào cơ thể đang sống. Các loại thuốc nhắm thẳng vào virus đều là thuốc phổ thông, chỉ dựa vào việc điều tiết khả năng miễn dịch và sức đề kháng của con người. Vì sao sau khi uống thuốc cảm mạo, chúng ta cảm thấy buồn ngủ? Loại thuốc đó khiến người ta buồn ngủ, ngủ nhiều hơn để tăng cường khả năng miễn dịch. Khả năng miễn dịch cao bằng lực sống của virus trên thân thể thì người ta sẽ hồi phục sức khỏe.

“Đạt nguyên ẩm” là thuốc của Trung y, ngoại trừ việc điều tiết khả năng miễn dịch thì nó còn có tác dụng như lưu thông tạng phủ... vậy nên so với các loại thuốc Tây y đơn thuần để tăng lực đề kháng thì nó tốt hơn. Tuy nhiên, đối với ôn dịch giết người thì nó cũng không có tác dụng gì cả.

Nếu là như thế, thì vì sao Ngô Hựu Khả có thể nhanh chóng chữa khỏi ôn dịch đây?

Bí mật chữa khỏi ôn dịch không nằm ở thuốc, mà nằm ở “khẩu quyết”

Tuyệt chiêu mà Ngô Hựu Khả chữa khỏi ôn dịch nằm ở “thuốc dẫn” của ông ta, đó là căn bản, còn thuốc thang chỉ dùng để bổ trợ. “Thuốc dẫn”“Đạt nguyên ẩm” kết hợp với nhau có thể trở thành loại thuốc đặc hiệu thần kỳ để chữa khỏi ôn dịch. Nếu như không có “thuốc dẫn” thì “Đạt nguyên ẩm” cũng chỉ là một loại thuốc phổ thông bình thường mà thôi. Nhưng cho tới bây giờ, người ta thường hay lấy trung dược để làm bổ trợ, do đó “thuốc dẫn” kia đã không được lưu lại. Tuyệt kỹ cổ truyền thời Trung Quốc cổ đại đều giảng “khẩu truyền tâm thụ, không lập văn tự”, cũng vì lý do đó nên Ngô Hựu Khả đã không ghi chép “thuốc dẫn” khi ông viết cuốn Ôn Dịch Luận.

Nếu như chúng ta có thể gặp được bậc cao nhân trong chốn nhân gian, một vị thế ngoại cao nhân hay là những người tu luyện đến một cảnh giới nhất định và hỏi họ về loại “thuốc dẫn” đó, họ sẽ nói với chúng ta rằng: Ngô Hựu Khả là một người tu hành trong môn phái Đạo gia, hành nghề y chính là việc tu hành của ông ấy, “thuốc dẫn” chính là một câu khẩu quyết trong pháp môn đó của ông, cũng có thể nói nó là “chân ngôn”. Chỉ cần thành tâm niệm khẩu quyết này, sau đó uống thuốc thì Thần hộ pháp của pháp môn đó sẽ bảo hộ và thụ ký cho người này. Thụ ký này là phù lệnh của một vị Đạo thần, như vậy ôn dịch sẽ bỏ qua người này không dám quấy rầy; đối với người bệnh nặng thì vị Đạo thần sẽ lấy bệnh độc ra khỏi thân thể người đó. Người đó sẽ dần dần hồi phục.

Kỳ thực, như đã nói ở trên, vào lúc gặp phải đại ôn dịch, tín đồ Cơ Đốc giáo đã từng ra đường truyền phúc âm đến những người mắc bệnh. Người bệnh nghe được chân tướng từ tín đồ Cơ Đốc giáo, từ trong tâm họ phá trừ những lời dối trá phỉ báng Cơ Đốc giáo do chính quyền La Mã nhồi nhét, họ chân thành đón nhận phúc âm thì được chư Thần trong môn đó thụ ký. Có được thụ ký này thì dù cho ôn dịch trầm trọng đến đâu cũng sẽ mau khỏi. Con người đều rất thực tế, những người La Mã cổ đại từng là giáo đồ của dị giáo nếu không có được những triển hiện thần tích chữa khỏi bệnh này, họ làm sao có thể buông bỏ hết thảy những điều tín phụng thâm căn cố đế và chuyển sang quy y Cơ Đốc giáo?

Phù hiệu Chi-Rho của quân đội Constantine Đại Đế – cảm hứng cho tên gọi của hệ thống Windows XP bắt nguồn từ phù hiệu này (Ảnh- Public domain)
Phù hiệu Chi-Rho của quân đội Constantine Đại Đế – cảm hứng cho tên gọi của hệ thống Windows XP bắt nguồn từ phù hiệu này (Ảnh- Public domain)

Có một ví dụ sinh động về “thụ ký”. Phù hiệu Chi-Rho trong bức ảnh trên chính là một vị Thần của Cơ Đốc giáo đã thụ ký cho quân đội của Constantine Đại Đế. Quân đội của Constantine Đại Đế đã lấy nó làm biểu tượng của Thần nên đánh đâu thắng đó, binh lực ít nhưng chiến thắng vang dội, cuối cùng thống nhất các nước tiểu bang lập nên đế quốc La Mã rộng lớn. Vậy vì sao Thần lại trao nó cho Constantine Đại Đế? Chính vì ông ta có sứ mệnh bình phản cho Cơ Đốc giáo.

Có người sẽ hỏi rằng: Khẩu quyết của Ngô Hựu Khả là gì? Công khai khẩu quyết ra, rồi thêm vào “Đạt nguyên ẩm” nữa thì chẳng phải bệnh dịch Vũ Hán sẽ có thuốc chữa trị đặc hiệu sao? Thật ra không phải như vậy.

Hết thảy thụ ký, một khi đã tách khỏi thời đại đó thì đều không còn dùng được nữa. Bởi thụ ký đều gắn liền với các vị Thần có vai trò ở các thời kỳ khác nhau. 

Một ví dụ đơn giản về các vị Thần luân phiên cai quản đó là chức “Quan hành khiển” mà dân gian vẫn cúng trong lễ trừ tịch đêm Giao thừa. Trừ là trao lại chức quan, Tịch là ban đêm. Người xưa tin rằng mỗi năm sẽ có một vị quan Hành khiển cai quản. Có 12 vị luân phiên nhau trong một giáp. Các vị sẽ ban phúc hay giáng họa tùy vào tình trạng đạo đức của vua quan hay dân chúng của quốc gia trong năm đó. Cũng tương tự như vậy với các vị Thần ở mức độ quyền lực rộng lớn hơn. Họ luân phiên nhau tiếp quản thế gian của con người. Thời đại đã qua, vật đổi sao dời thì thụ ký đó liền vĩnh viễn mất đi hiệu lực. Vậy nên vị Thần nào quản thì vị đó cấp thụ ký mới có hiệu lực. 

Có được “thụ ký”, cũng phải nhờ đến tấm lòng thiện lương và tâm trí sáng suốt

Từ những dữ liệu lịch sử nói trên, ta có thể thấy rằng, các vị Thần chịu trách nhiệm thụ ký của từng thời kỳ tương ứng với khi tín ngưỡng do các Ngài rao truyền đang bị bức hại. Đó là các Chính giáo, như Do Thái giáo với tiên tri Moses, và Cơ Đốc giáo với Chúa Jesus. 

Những tôn giáo đó sở dĩ được gọi là Chính giáo, vì nó dạy con người hướng Thiện, sống Chân thật và Nhẫn nại mà không hằn thù khi đối diện với mọi bức hại của chính quyền tà ác và dân chúng bị lừa dối; lại cũng phải có khả năng khiến sinh mệnh con người thăng hoa, thoát khỏi bể khổ nhân gian.

Nhưng làm thế nào mới nhận ra được Chính giáo và phá trừ những lời dối trá bức hại Chính giáo để đón nhận chân tướng? Điều này lại phải trông vào ngộ tính của từng người đón nhận phúc âm, cũng như nhờ đến phong thái của những giáo đồ hay người tu Đạo. Ta liên tưởng đến trường hợp những người La Mã đã được cảm hóa bởi tấm lòng thiện lương của những tín đồ Cơ Đốc không quản khó khăn nguy hiểm để giúp đỡ họ. Những người La Mã ấy nhờ sáng suốt nhận rõ Chân - Giả, Thiện - Ác, Chính - Tà, cuối cùng đã quy phục chính tín, trở nên thiện lương, thậm chí họ quyết tâm cải tà quy chính. Và chỉ bằng cách ấy, họ mới được thụ ký và sống sót.

Biết đâu, đó lại là con đường duy nhất của thế gian để vượt qua hạo kiếp đương đại của dịch bệnh viêm phổi Vũ Hán? Thật cũng đáng suy ngẫm lắm chứ.

Hết.

Quỳnh Chi (biên dịch và tổng hợp)

Nguồn: epochtimes.com


Bài cùng chuyên đề