Đại ôn dịch vào cuối triều đại nhà Thanh hơn 100 năm trước - bài học đáng suy ngẫm

Bình luận Cao Nguyên • 15:30, 02/02/21

Giúp NTDVN sửa lỗi

Trận dịch hạch kinh hoàng xảy ra ở vùng Đông Bắc Trung Quốc vào năm 1911 - 1912 để lại cho chúng ta bài học gì về việc chống ôn dịch của người xưa?

Hơn một trăm năm trước, vào đúng năm cuối cùng của triều đại nhà Thanh, là niên đại mà chúng ta hiện nay gọi là “Đại Thanh sắp kết thúc”. Nhiều nước trên thế giới muốn mở cửa quan hệ qua lại với quốc gia lớn có dân số đông đúc khoảng 300 triệu người này. Nhưng nhà Thanh cảm thấy không muốn giao du với các dân tộc “dã man” không hiểu lễ nghi quỳ gối là gì.

Nhưng đến năm 1900, khi Liên quân tám nước tiến vào Bắc Kinh, mọi người mới biết rằng, có ít nhất 8 cường quốc qua lại với nhà Đại Thanh. Con người chết vì tiền và chim chết vì thức ăn, mọi nơi trên thế giới, chỉ cần có tàu đến được Trung Quốc thì người ta sẽ đổ xô đến Trung Quốc. Bất kể là việc công hay việc tư, thì kẻ đến người đi đều rất tấp nập.

Đông Bắc là quê hương của người Mãn Châu, sau khi nhà Thanh nhập quan (xâm phạm quan ải của người Hán), Hoàng đế Thuận Trị bảo người Mãn Châu nên trụ lại ở quê nhà. 

Xét cho cùng thì người Mãn Châu là ngoại tộc cai trị nhà Hán, muốn lưu lại cho con cháu đời sau một con đường, phòng khi gặp chuyện bất trắc còn có thể lui về Đông Bắc.

Xét cho cùng thì người Mãn Châu là ngoại tộc cai trị nhà Hán, muốn lưu lại cho con cháu đời sau một con đường, phòng khi gặp chuyện bất trắc còn có thể lui về Đông Bắc.
Xét cho cùng thì người Mãn Châu là ngoại tộc cai trị nhà Hán, muốn lưu lại cho con cháu đời sau một con đường, phòng khi gặp chuyện bất trắc còn có thể lui về Đông Bắc. (Miền công cộng)

Vì vậy, vào thời nhà Thanh, Đông Bắc được coi là “vùng đất Long Hưng”, từ đầu Thuận Trị, hơn 1.000 km tường rào liễu gai đã được xây dựng theo từng phần trên lãnh thổ Vạn Lý Trường Thành phía Đông Bắc, tức là bức tường biên giới bằng liễu gai: rìa liễu gai từ Sơn Hải Quan đến Khai Nguyên và từ Tân Tân đến phía Nam Phượng Thành được gọi là “lão biên”; từ phía Đông Bắc Khai Nguyên đến phía Bắc thành phố Cát Lâm được gọi là “tân biên”. Như vậy, khu vực phía Đông Bắc được bao bọc bởi hàng rào liễu gai.

Trong thời thịnh vượng của Khang Hy và Càn Long, thiên hạ thái bình và ổn định, dân số nhanh chóng tăng lên khoảng 300 triệu người. Vào cuối triều đại, chiến tranh và nạn đói, thiên tai nhân họa liên tiếp xảy ra, “vùng đất Long Hưng” ở Đông Bắc dân cư thưa thớt được nhiều người chú ý nên đã có một cuộc “vượt ải cửa Đông”, phần lớn những người đói khổ ở Sơn Tây, Sơn Đông, Giang Tô, Hà Bắc và Hà Nam chạy tháo thân đến vùng đất màu mỡ và dân cư thưa thớt này. Chỉ trong một thời gian, những người nhập cư từ nhiều tỉnh đã tập trung đông đúc về vùng Đông Bắc.

Lúc này Nhật - Nga đang xảy ra chiến tranh, cả hai đều nhìn thấy lợi thế béo bở của mảnh đất Đông Bắc, Nhật và Nga buộc chính phủ nhà Thanh ký một hiệp ước bất bình đẳng và xây dựng tuyến đường sắt Trung Đông ở Đông Bắc. Trung tâm của tuyến đường sắt này là Cáp Nhĩ Tân.

Đó là mùa thu năm 1910, một trận dịch hạch đã bùng phát ở Siberia, Nga. Vào tháng 10, vài công nhân Trung Quốc trong một nhà máy mắc bệnh dịch hạch và chết, chủ nhà máy đã sa thải những công nhân còn lại, và hai người trong số họ đã về nước. 

Vào tháng 10, vài công nhân Trung Quốc trong một nhà máy mắc bệnh dịch hạch và chết, chủ nhà máy đã sa thải những công nhân còn lại, và hai người trong số họ đã về nước. 
Vào tháng 10, vài công nhân Trung Quốc trong một nhà máy mắc bệnh dịch hạch và chết, chủ nhà máy đã sa thải những công nhân còn lại, và hai người trong số họ đã về nước. (Miền công cộng)

Câu chuyện về bệnh dịch lây lan bởi những Hoa kiều hồi quốc chính thức bắt đầu từ đây.

Từ tháng 11 năm 1910 đến cuối năm thời tiết cực kỳ lạnh, ở khu vực Phó Gia Điện bên ngoài Cáp Nhĩ Tân, người dân làm ăn buôn bán nhộn nhịp.

Khi ấy, có hai vị khách lạ với mặt mày nhợt nhạt run rẩy và lạnh cóng bước vào nhà trọ “Khôi Thăng Viên Đại Xa”. Không ai chú ý đến hai vị khách lạ này, kết quả là hôm sau họ đã chết, trên da xuất hiện những vết ban màu tím đỏ. Người bệnh chết như vậy không phải là chuyện lạ, ai cũng từng thấy qua nên cũng chẳng quan tâm, lại là người vùng ngoài không có người thân và không lý do, nên người ta mang ra vứt bỏ ở khu mộ tập thể ngoại ô. Không ngờ, hai ngày sau, khách cùng phòng lên cơn sốt cao, ho ra máu rồi tử vong ngay sau đó, trên da cũng xuất hiện những nốt đỏ tím. Không đợi đến khi chủ nhà trọ than trời xui xẻo, ế ẩm thì gia đình chủ trọ cũng bắt đầu xuất hiện các triệu chứng sốt cao, ho ra máu, rồi cả nhà tử vong. Lúc này những người hàng xóm mới đứng ngồi không yên, cảm thấy khu trọ này là một ngôi nhà ma ám.

Mọi người vào thời điểm đó không biết rằng trường hợp tương tự đã xảy ra ở thành phố Hải Lạp Nhĩ vào ngày 25 tháng 10, khi một người thợ mỏ trở về đã chết, và sau đó toàn bộ khu trọ đều có biểu hiện tương tự. Các quan chức địa phương đã báo cáo dịch bệnh lên Bắc Kinh. Do tốc độ lây lan đáng báo động của dịch bệnh, Nga và Nhật đã sử dụng điều này như một chiêu bài mặc cả để đe dọa chính phủ nhà Thanh.

Hai quốc gia Nga và Nhật từ lâu đã để mắt tới 3 tỉnh Đông Bắc Trung Quốc, nay mượn cớ phòng chống dịch bệnh để đưa quân đến đóng ở Đông Bắc, chuẩn bị giành quyền kiểm soát chính quyền ở vùng này.

Hai quốc gia Nga và Nhật từ lâu đã để mắt tới 3 tỉnh Đông Bắc Trung Quốc, nay mượn cớ phòng chống dịch bệnh để đưa quân đến đóng ở Đông Bắc, chuẩn bị giành quyền kiểm soát.
Hai quốc gia Nga và Nhật từ lâu đã để mắt tới 3 tỉnh Đông Bắc Trung Quốc, nay mượn cớ phòng chống dịch bệnh để đưa quân đến đóng ở Đông Bắc, chuẩn bị giành quyền kiểm soát. (Ảnh minh họa: Wikipedia)

Dịch bệnh và ngoại giao rơi vào tình trạng khẩn cấp, mặc dù mọi dấu hiệu đã cho thấy sức cùng lực kiệt, nhưng vương triều Đại Thanh vẫn muốn duy hộ sự tôn nghiêm của quốc gia, và đảm đương trách nhiệm của mình.

Từ Hy Thái hậu Long Dụ buông rèm chấp chính, khi ấy Viên Thế Khải với thân phận là Tổng lý Đại thần đã chính thức phong cho Thi Triệu Cơ làm Đại thần Phòng chống dịch bệnh, ông là người trở về từ Mỹ sau khi tốt nghiệp Tiến sĩ tại Đại học Cornell, từng có nhiều kinh nghiệm ngoại giao.

Sau đó, Thi Triệu Cơ lại tiến cử Ngũ Liên Đức, 31 tuổi, khi đó là Phó Giám sát Trường Cao đẳng Y tế Quân đội Thiên Tân, tương đương với Phó hiệu trưởng, để chủ trì công tác chống dịch.

Vị Phó hiệu trưởng Ngũ Liên Đức này là người có năng lực thực sự, ông sinh ra ở Malaysia và chuyên nghiên cứu về các bệnh truyền nhiễm nhiệt đới và vi khuẩn học tại Đại học Cambridge, Anh.

Nhưng trước khi bắt đầu, Ngũ Liên Đức đã đề xuất yêu cầu rằng, bệnh truyền nhiễm quy mô lớn như vậy là chưa từng có, sẽ luôn có nhiều tình huống khó lường xảy ra, vì vậy, Ngũ Liên Đức hy vọng Thi Triệu Cơ có thể giao toàn quyền chỉ huy cho ông. Thi Triệu Cơ hứa sẽ thỉnh thị ​​cấp trên.

Khi Ngũ Liên Đức đến Cáp Nhĩ Tân, lúc đó đã là đêm trước Giáng sinh năm 1910. Căn bệnh truyền nhiễm khủng khiếp này đã phát tán ở Đông Bắc hơn một tháng, không biết rốt cuộc có bao nhiêu người đã bị lây nhiễm.

Ngũ Liên Đức phát hiện triệu chứng sốt, ho ra máu và các nốt đỏ đen trên khắp cơ thể của người bệnh và người chết giống như trạng thái của dịch hạch.

Ngũ Liên Đức có một phỏng đoán táo bạo rằng, sự lây lan dịch hạch lần này có thể không phải do vi khuẩn gây bệnh từ bọ chét, mà là lây lan từ không khí..
Ngũ Liên Đức có một phỏng đoán táo bạo rằng, sự lây lan dịch hạch lần này có thể không phải do vi khuẩn gây bệnh từ bọ chét, mà là lây lan từ không khí. (Miền công cộng)

Nhưng dịch hạch lây lan là do bọ chét cắn chuột bệnh rồi cắn người, tuy nhiên ở Đông Bắc lúc đó trời băng giá và đất phủ đầy tuyết nên bọ chét khó di chuyển trên diện rộng, thì sao dịch hạch lại có thể lây lan nhanh như vậy?

Ngũ Liên Đức có một phỏng đoán táo bạo rằng, sự lây lan dịch hạch lần này có thể không phải do vi khuẩn gây bệnh từ bọ chét, mà là lây lan từ không khí.

Vào thời điểm đó, dự đoán này tương đương với một chuyện hài: Căn bản không thể nào, bởi dịch hạch lây lan là do bọ chét. Đây là nhận định của một bác sĩ người Nhật, ông cảm thấy lý do mà Ngũ Liên Đức đưa ra chẳng khác nào lời nói xằng xiên thật vô nghĩa. Vì vậy, vị bác sĩ người Nhật này đã không làm bất cứ công việc phòng hộ nào khi tiến hành chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân, không ngờ là ngay sau đó ông đã nhiễm bệnh và qua đời.

Rốt cuộc, có 250 bệnh nhân chết trong một nhà thờ Công giáo; cả 8 thành viên trong một gia đình kinh doanh cửa hàng đồ sứ đều bị nhiễm bệnh chết; trong một gia đình 14 thành viên, chỉ có 2 người cháu sống sót: những vụ việc thương tâm như vậy xảy ra hàng ngày, căn bản không tìm ra thuốc trị bệnh hiệu quả.

Để tìm ra nguyên nhân gây bệnh, Ngũ Liên Đức và trợ lý của mình đã bí mật mổ xẻ phân tích thi thể bệnh nhân. 

Vì phong tục dân gian thời đó không cho phép tổn hại đến xác chết, dưới áp lực cao độ, họ phải lấy máu và mô của người phụ nữ Nhật chết vì dịch bệnh để tiến hành xét nghiệm. Dưới kính hiển vi công suất cao đã tìm thấy vi khuẩn Yersinia pestis, xác nhận rằng thủ phạm chính là bệnh dịch hạch; và phát hiện ra rằng bệnh dịch hạch này là “dịch hạch thể phổi” có sức truyền nhiễm cực nhanh và mạnh, nó có thể lây lan trong không khí.

Vì phong tục dân gian thời đó không cho phép tổn hại đến xác chết, dưới áp lực cao độ, họ phải lấy máu và mô của người phụ nữ Nhật chết vì dịch bệnh để tiến hành xét nghiệm.
Vì phong tục dân gian thời đó không cho phép tổn hại đến xác chết, dưới áp lực cao độ, họ phải lấy máu và mô của người phụ nữ Nhật chết vì dịch bệnh để tiến hành xét nghiệm. (Ảnh minh họa: Miền công cộng)

Từ khi phát hiện ra dịch đến nay đã 2 tháng, người dân không biết nguyên nhân dịch, không có bất kỳ biện pháp xử lý nào, dịch bệnh đã lan ra dọc theo các trục giao thông chính của Đường sắt Đông Khánh và Đường sắt Nam Mãn, những người dân qua lại khu vực Quan Đông (vùng đất phía Đông Sơn Hải Quan, gồm các tỉnh Đông Bắc), họ về quê ăn Tết và mang theo dịch bệnh đến nhiều tỉnh thành khác. Còn có những nhân sĩ nước ngoài từ Trung Quốc trở về nước cũng mang theo dịch bệnh đến khắp nơi trên thế giới, con đường lây truyền qua không khí diễn biến thành một trận đại dịch vô cùng khốc liệt và tàn phá thế giới.

Căn cứ theo ghi chép của Ngũ Liên Đức, khi dịch bệnh nghiêm trọng nhất, số người chết nhiều nhất trong ngày là 183 người. Cáp Nhĩ Tân chỉ có 70.000 dân, nhưng trong đó đã có 6.000 người chết vì dịch.

Dịch bệnh vùng Đông Bắc được truyền thông phương Tây đưa tin gây chấn động thế giới và nhanh chóng gây xôn xao trên các báo quốc tế. Một số hãng truyền thông phương Tây đã gọi Cái Chết Đen là “kẻ thù đáng sợ hơn cả quân đội”. Người nước ngoài ở Trung Quốc nhốt mình ở nhà không dám ra ngoài, họ sợ hãi khi nhìn thấy người Trung Quốc. 

Vì vậy, dưới khuyến cáo của Ngũ Liên Đức, người dân Đông Bắc bắt đầu ngừng lùng bắt và giết chuột, họ hoàn toàn chiểu theo biện pháp của Ngũ Liên Đức. Dưới sự tiến cử của Đại thần Phòng chống dịch bệnh Thi Triệu Cơ, Ngũ Liên Đức trở thành Tổng tư lệnh phòng chống dịch bệnh của 3 tỉnh miền Đông và Sơn Đông. Toàn bộ công tác phòng chống dịch cũng nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của Tích Lương, Thống đốc Ba tỉnh miền Đông.

Vì vậy, dưới khuyến cáo của Ngũ Liên Đức, người dân Đông Bắc bắt đầu ngừng lùng bắt và giết chuột, họ hoàn toàn chiểu theo biện pháp của Ngũ Liên Đức.
Vì vậy, dưới khuyến cáo của Ngũ Liên Đức, người dân Đông Bắc bắt đầu ngừng lùng bắt và giết chuột, họ hoàn toàn chiểu theo biện pháp của Ngũ Liên Đức. (Miền công cộng)

Các biện pháp lần lượt được áp dụng:

1. Cắt đứt giao thông và con đường lây lan của dịch hạch

Vào thời điểm đó, giao thông đường sắt ở Cáp Nhĩ Tân có thể được mô tả là mở rộng đi bốn phương tám hướng, vì vậy tất cả giao thông đường sắt và đường bộ đều bị dừng lại. Tiến hành cách ly quy mô lớn hàng trăm ngàn ca nhiễm và các bệnh nhân bị nghi ngờ khác. Ngũ Liên Đức thảo luận về hợp tác phòng chống dịch với các Lãnh sự quán nước ngoài đóng tại Cáp Nhĩ Tân. Sau khi thăm hỏi từng người một, Cục Đường sắt Nga đã huy động 100 toa tàu trống dừng trên đường ray để hỗ trợ cách ly tập trung các bệnh nhân.

2. Đeo khẩu trang Ngũ thị

Khi đó, các nhân viên y tế của trạm phòng chống dịch của Nga không biết nhiều về các biện pháp phòng chống và cũng không tin Ngũ Liên Đức, nên không đeo khẩu trang, kết quả là nhân viên của bệnh viện đã chết vì nhiễm dịch. Bác sĩ người Pháp G.E. Mesny ở Cáp Nhĩ Tân cũng không may mắc bệnh và qua đời chỉ sau 4 ngày. Vì vậy, Ngũ Liên Đức đã phát minh ra một loại khẩu trang có một lớp bông tẩm thuốc giữa miếng vải xô. Đây chính là hình thức ban đầu của khẩu trang y tế chúng ta ngày nay. Các nhân viên y tế lúc đó đã dùng vải xô và bông gòn để làm khẩu trang che mũi và miệng như một biện pháp phòng bệnh cơ bản.

Vì Cái Chết Đen làm tổn thương phổi quá nhanh, nên khó có thể phòng bị được. Nói một cách tương đối, đeo khẩu trang có thể cách ly vi khuẩn trong không khí hiệu quả nhất. Không chỉ những nhân viên chống dịch mới đeo khẩu trang mà còn có cả người đưa thư, cảnh sát và dân thường cũng đeo. Sau này loại khẩu trang này còn được gọi là khẩu trang Ngũ thị.

3. Điều động quân đội, thiết lập huyết mạch giao thông

Để ngăn chặn bệnh dịch vượt qua Sơn Hải Quan và lây lan đến vùng đồng bằng miền Trung, với sự hỗ trợ của chính quyền nhà Thanh, Ngũ Liên Đức đã huy động quân đội địa phương thiết lập một trạm kiểm dịch ở Sơn Hải Quan. Những người rời khỏi Sơn Hải Quan đều phải bị cách ly 7 ngày, quân lệnh như núi, không bỏ sót một ai, ngay cả Trịnh Hiếu Tư, là thầy của Hoàng đế đương triều Phổ Nghi, khi đi qua Sơn Hải Quan cũng tuân thủ nghiêm ngặt quy định cách ly 7 ngày mới được trở lại kinh thành. Chính quyền địa phương còn huy động mọi nguồn lực như bác sĩ trong và ngoài nước, quân đội, cảnh sát, v.v., để kiểm soát việc di chuyển của người dân. Tất cả các ngôi nhà có người nhiễm bệnh đều được khử trùng bằng lưu huỳnh thô và Axit carbolic.

Người chết trong đại dịch hạch ở Trung Quốc.
Người chết trong đại dịch hạch ở Trung Quốc. (Wikipedia)

Để kiểm soát dịch bệnh, toàn bộ Phó Gia Điện được chia thành bốn khu vực, mỗi khu đều có trạm khử trùng, xe khử trùng, nhân viên y tế và cảnh sát. Ngoài ra còn có hơn 1.100 binh lính canh gác vòng ngoài. Mỗi ngày còn có 4 đến 6 tổ tuần tra đến kiểm tra từng hộ gia đình. Một khi phát hiện ra bệnh nhân mắc bệnh dịch hạch hay có biểu hiện nghi ngờ, lập tức đưa đến bệnh viện và trung tâm cách ly, đồng thời tiến hành khử trùng nơi ở của họ.

Qua 3 tháng sau khi áp dụng những biện pháp phòng chống quyết liệt, mặc dù dịch bệnh đã có phần dịu bớt nhưng vẫn còn lan nhanh và vẫn có hàng chục đến hàng trăm danh sách tử vong được báo cáo mỗi ngày.

Ngũ Liên Đức lòng như lửa đốt, ông nghĩ lẽ nào dùng biện pháp cách ly là không đúng? Ông suy nghĩ trằn trọc thâu đêm. Sáng sớm vừa bước ra cửa, lại thấy có người giẫm trên tử thi mới chết đêm qua, ngay cả quan tài cũng không có, mà chỉ được cuốn trong một manh chiếu rơm.

Lúc này Ngũ Liên Đức giật mình! Ông chợt nhớ đến những khu mộ tập thể bên ngoài thành phố!

Ngũ Liên Đức lập tức chạy đến đó và vô cùng sốc. Trời đông giá rét, nhiệt độ thấp nhất ở Cáp Nhĩ Tân lúc đó có thể lên tới âm 40°C. Mặt đất đông cứng như băng, căn bản không cách nào đào mộ để chôn xác được. Ở đây luôn có người đến ném xác, một số tử thi được bỏ vào quan tài, một số thì chỉ được cuộn bằng chiếu rơm, một số lại không có gì cả, đủ mọi tư thế ngồi, nằm, khom lưng, che ngực, máu me đầy mặt, tứ chi màu tím đen nằm ngổn ngang nơi đồng vắng, trong phạm vi 1km đều có xác chết, cảnh tượng hết sức thê thảm.

Tuy nhiên, nếu những xác chết này không được xử lý, bị sói và chó hoang cắn thì virus vẫn lây lan. Mà vào đầu năm mới, băng tuyết trên mặt đất sẽ tan chảy, hàng núi xác chết sẽ thối rữa khi thời tiết ấm lên, đến lúc đó, tốc độ lây lan khó mà tưởng nổi.

Thi thể nằm la liệt trên mặt đất đầy tuyết.
Thi thể nằm la liệt trên mặt đất đầy tuyết.

Ngũ Liên Đức đã báo cáo sự việc lên triều đình nhà Thanh, khẩn thiết yêu cầu cho hỏa táng các thi thể. Người Trung Quốc vào thời điểm đó căn bản là không chấp nhận việc hỏa táng.

Nhưng bất ngờ là chính quyền mà bị dân chúng ngày nay gọi là dốt nát như nhà Thanh lại đồng ý với yêu cầu hỏa táng ấy.

Ngày 31 tháng 1 năm 1911, tức ngày 2 tháng Giêng âm lịch, cùng với tiếng pháo mừng năm mới, lễ hỏa táng với quy mô lớn đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc đã chính thức bắt đầu với khoảng 2.000 cỗ quan tài được đốt chung.

Kể từ đó, dịch bệnh truyền nhiễm được kiểm soát. Vào ngày 1 tháng 3 năm 1911, tại Phó Gia Điện thuộc thành phố Cáp Nhĩ Tân đã tiếp nhận một ca nhiễm dịch hạch cuối cùng. Cái Chết Đen bi thảm này đã cướp đi sinh mạng của 60.000 người, tiêu tốn 10 triệu lạng bạc và tổn thất kinh tế 100 triệu Nhân dân tệ.

Ngũ Liên Đức được Từ Hy Thái Hậu Long Dụ khen thưởng. Một tháng sau, từ ngày 3 tháng 4 đến ngày 28 tháng 4, các chuyên gia từ 11 quốc gia đã tham dự “Hiệp hội Nghiên cứu Dịch hạch Thế giới” được tổ chức tại Phụng Thiên (Thẩm Dương, Liêu Ninh) do Tiến sĩ, bác sĩ Ngũ Liên Đức, Giám đốc Y tế Phòng chống Dịch của 3 tỉnh miền Đông, làm chủ tọa cuộc họp. Tại đây, các chuyên gia Trung Quốc và nước ngoài đề nghị chính phủ nhà Thanh thành lập các cơ sở phòng chống dịch thường trực ở ba tỉnh miền Đông để ngăn chặn bệnh dịch bùng phát trở lại.

Vào năm mới, ngày 12 tháng 2 năm 1912, Từ Hy Thái Hậu thay mặt Hoàng đế Phổ Nghi ban hành chiếu thư thoái vị. Như vậy, nhà Thanh nắm quyền được 276 năm đã kết thúc cùng bệnh dịch này.

Đã hơn 100 năm trôi qua, những hồ sơ phòng chống dịch bệnh thời bấy giờ vẫn còn được lưu giữ cẩn thận trong kho hồ sơ của tỉnh Liêu Ninh. Các tài liệu này bao gồm ghi chép của cuộc họp phòng chống dịch thường kỳ ở các nơi, các khoản chi được phân bổ ở các vùng khác nhau, cùng tài liệu về Hiệp hội Nghiên cứu Dịch hạch Thế giới tại Phụng Thiên do chính quyền nhà Thanh đứng ra tổ chức.

Dưới sự lãnh đạo của Ngũ Liên Đức, Cái Chết Đen hoành hành tại Đông Bắc có khả năng lây lan trên toàn cầu đã bị dập tắt trong vòng chưa đầy 4 tháng, vãn hồi thể diện cho chính quyền cuối nhà Thanh đầy bấp bênh. Nhưng nó cũng tiêu tốn một lượng lớn tài sản của triều đại cuối cùng này.

Sau khi Cái Chết Đen xảy ra, chính quyền địa phương đã công khai sự thật về tình hình dịch bệnh, quan viên các cấp không che dấu mà tích cực hỗ trợ công tác phòng chống dịch. Tăng cường cách ly, khử trùng. Tất cả nhân viên triển khai áp dụng các biện pháp phòng dịch như đeo khẩu trang, tăng cường khử trùng, hỏa táng thi thể những người đã chết vì nhiễm dịch v.v. Với tất cả các thông tin được công khai, Ngũ Liên Đức đã ngăn chặn Cái Chết Đen một cách hiệu quả với sự ủng hộ và giúp đỡ của công chúng.

Một trăm năm sau, vùng Đông Bắc Thẩm Dương, Cáp Nhĩ Tân ngày nay một lần nữa rơi vào nỗi sợ hãi bị bao vây bởi bệnh dịch. Nhưng hoàn cảnh lại khác, dịch bệnh không được công khai để xử lý, thay vào đó là bưng bít, phong tỏa thông tin làm cho tình hình ngày càng trở nên tồi tệ và bế tắc, khiến người dân trong nước và khắp thế giới vẫn đang hứng chịu thống khổ do sự dối trá của ĐCSTQ gây ra.

Và, câu hỏi được đặt ra là, liệu còn có vị quan nào như Ngũ Liên Đức, vị quan cuối thời nhà Thanh 100 năm trước, có thể đảo ngược tình thế, cứu dân thoát khỏi đại nạn này hay không?

Cao Nguyên
Theo SOH



BÀI CÙNG CHUYÊN ĐỀ

BÀI CHỌN LỌC

Đại ôn dịch vào cuối triều đại nhà Thanh hơn 100 năm trước - bài học đáng suy ngẫm