Đại đệ tử của Thích Ca Mâu Ni đã ngồi đợi 2.500 năm để giao 2 thứ này cho một người ngày nay

Bình luận Trung Nguyên • 06:30, 08/05/21

Giúp NTDVN sửa lỗi

Căn cứ theo những ghi chép kinh điển ban đầu, Tôn giả Đại Ca Diếp hiện nay vẫn nhập định trong núi Kê Túc, ông muốn bảo vệ y bát Phật Đà, chờ đợi Bồ Tát Di Lặc đản sinh tại thế giới Ta Bà, truyền lại y bát cho Ngài.

Kinh điển Phật giáo ngày nay là sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết bàn, các đệ tử hồi ức lại những gì đã xảy ra khi họ ở cùng Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Đà đã nói những điều gì, sau đó sửa sang lại trở thành kinh sách như vậy. Trong Phật giáo lưu truyền một câu chuyện kéo dài 2.500 năm rằng, đại đệ tử đứng đầu của Phật Đà là Ma Ha Ca Diếp vẫn còn sống cho đến ngày nay. Ngài đã được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giao phó chuẩn bị đem hai thứ giao cho một người thời nay.

"Đại Đường Tây Vực ký" của Pháp sư Huyền Trang có đoạn: Ca Diếp nhận chỉ chủ trì Chính Pháp, sau khi tụ họp hoàn thành, đến năm thứ hai mươi, chán đời vô thường, bèn nhập tịch diệt, đi đến núi Kê Túc.

Tương truyền, Đại Ca Diếp sống đến hơn 100 tuổi, cảm thấy cuộc sống ở trong nhân thế thật là khiến người ta chán ghét, thế là đi đến núi Kê Túc (ngọn núi có 3 đỉnh núi sừng sững tạo thành thế hình chân gà) ở Bát Lý Đa phía tây nam thành Vương Xá. Ông ngồi trên đỉnh núi phát nguyện: "Ta nay lấy thần thông làm thân thể không bị hư hỏng, dùng phân quét áo (là nói y phục ném ra đống rác, không ai cần). Đợi đến một kiếp Đức Di Lặc giáng sinh thành Phật, sẽ đem áo cà sa và bình bát hiến cho Ngài, hiệp trợ Ngài giáo hóa chúng sinh".

Nói xong, ông cầm y bát của Phật Thích Ca Mâu Ni, bước vào trong tảng đá trên đỉnh Kê Túc, như thể bước vào bùn mềm. Sau khi ông đã vào bên trong, tảng đá trở lại như lúc đầu.

Tục truyền lúc ấy quốc vương A-xà-thế (Ajatashatru) nghe tin Đại Ca Diếp nhập diệt, đau buồn không thôi, từng tới đây chiêm ngưỡng di dung của tôn giả. Ba đỉnh núi Kê Túc tự nhiên nứt ra, trông giống như hoa sen. A-xà-thế vương trông thấy Ca Diếp điềm nhiên nhập định, trên thân bao trùm bởi Thánh hoa Thiên quốc, trang nghiêm vô cùng. Sau khi ông rời đi, đỉnh núi lại tự nhiên khép lại.

Căn cứ theo những ghi chép kinh điển ban đầu, Tôn giả Đại Ca Diếp hiện nay vẫn nhập định trong núi Kê Túc, ông muốn bảo vệ y bát Phật Đà, chờ đợi Bồ Tát Di Lặc đản sinh tại thế giới Ta Bà, truyền lại y bát cho Ngài.

Hoa Thủ Môn là một vách đá tự nhiên ở phía tây nam đỉnh Thiên Trụ của núi Kê Túc. Đây là vách đá thẳng tắp, nhìn xuống vực sâu vạn trượng, giống như một cánh cửa đá lớn được khảm trên vách đá dựng đứng. Hoa Thủ Môn cao 40 m, rộng 20 m, ở giữa có một khe nứt thẳng đứng, chia vách đá làm hai. Những viên đá có khoảng cách gần bằng nhau được treo ở đường nối giữa của "cánh cửa", đây chính là "khóa đá", viền và mi cửa có thể phân biệt rõ ràng, giống như một cánh cửa bằng đá sống động. Tương truyền, Đại Ca Diếp đả tọa nhập định trong cánh cửa đá này. 

Đại Ca Diếp tuân chiếu theo di nguyện của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, 2.500 năm sau trao y bát cho Đức Phật tương lai. (Ảnh: Sound of Hope)

Theo Kinh Phật, "Vạn Vương Chi Vương" (Vua của vạn vua) lúc tận thế sẽ lấy Phật hiệu Di Lặc đến cứu vớt chúng sinh. Pháp Luân Thánh Vương là Pháp hiệu của Vạn Vương Chi Vương khi hạ thế xuống nhân gian (nhân gian gọi là Chuyển Luân Thánh Vương). Vậy nên Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói cho các đệ tử biết: Pháp luân Thánh Vương cũng xưng là Di Lặc.

Phật Thích Ca Mâu Ni còn từng tiên đoán, vào thời kỳ mạt pháp, Pháp của ông không còn có thể độ nhân, Đức Phật Di Lặc (Chuyển Luân Thánh Vương) sẽ hạ thế Chính Pháp, đồng thời hồng truyền một pháp môn tu luyện không đoạn tuyệt duyên thế tục.

Kỳ thực, không chỉ trong Phật giáo mới có thuyết pháp rằng 2.500 năm sau sẽ có một vị Phật hạ thế. Tại Trung Quốc vào triều Minh, Lưu Bá Ôn cũng tiên đoán rằng Phật Di Lặc sẽ hạ thế, hơn nữa còn miêu tả về hình dáng của Phật Di Lặc.

Trong dự ngôn "Thiêu bính ca", Lưu Bá Ôn cũng đề cập về một vị Phật tương lai, Phật Di Lặc hạ thế.( Hình ảnh: vẽ bởi Cổ Kiến Long thời nhà Thanh)

"Thiêu bính ca" ghi chép lại cuộc đối thoại hỏi về quốc vận giữa Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương và Lưu Bá Ôn. Trong đó, nói chính xác về "sự biến Thổ Mộc", "hoạn quan loạn chính", "quân Thanh nhập quan", "Khang Càn thịnh thế", "Thanh mạt và hậu Dân Quốc" trong hơn 600 năm lịch sử sau này. 

Nói với Hoàng đế Chu Nguyên Chương nhiều chuyện tương lai như vậy, Lưu Bá Ôn cảm thấy không thể nói thêm được nữa, bởi dù sao Thiên cơ bất khả lộ. Nhưng Chu Nguyên Chương vẫn là không cam tâm Đại Thanh diệt vong, còn muốn biết nhiều chuyện về sau hơn nữa của nhà Đại Thanh. Lưu Bá Ôn bị Hoàng đế hỏi, không còn cách nào, vì vậy nói ra Thiên cơ lớn hơn về tương lai của thế giới. Có câu nói là: “Thiên cơ đã lộ đợi khi nào, chân tướng đại hiển tỉnh đã trễ. Thế nhân nên ngộ ra điều này”.

Hoàng đế hỏi: “Cuối cùng ai sẽ truyền Đạo?”

Bá Ôn đáp: “Có thơ làm chứng rằng:

Không tướng tăng cũng chẳng tướng đạo,
Đội mũ lông cừu nặng bốn lạng.
Chân Phật không ở trong tự viện,
Ngài là Di Lặc nguyên đầu giáo”.

Hoàng đế hỏi: “Di Lặc hạ phàm tại nơi đâu?”

Bá Ôn đáp: “Nghe thần nói đây: Lúc Giáo chủ tương lai hạ phàm, không ở tại Tể phủ giống quan viên, không ở tại Hoàng cung làm Thái tử, cũng không xuất thân trong chùa hoặc đạo quán, mà giáng sinh tại căn nhà cỏ của bách tính hàn vi, rải vàng khắp Yên Nam Triệu Bắc”.

Hoàng đế hỏi: “Triều Thanh tận thế nào, ông nói rõ xem, để hậu nhân thấy”

Bá Ôn đáp: “Thần không dám nói hết, hải vận chưa khai là Đại Thanh, hải vận khai rồi động đao binh, nếu như vận vận lại khai nữa, ắt là Lão Thủy về kinh đô”.

Hoàng đế hỏi: “Lão Thủy có gì ư?”

Bá Ôn đáp: “Có có có. Chúng Đạo sẽ tiến vào tu hành, lớn thành nhỏ, già thành trẻ, hòa thượng muốn cặp kè với giai nhân, thật đáng cười đáng cười, thời tăng nhân lấy vợ sẽ đến”.

Hoàng đế hỏi: “Khanh nói gì về Đạo thời đó?”

Bá Ôn đáp: “Lúc sắp kết thúc, vạn Tổ hạ giới, nghìn Phật lâm phàm, phổ thiên Tinh Đẩu, La Hán quần Chân, mãn thiên Bồ Tát, khó thoát kiếp này, chính là vị lai Phật, hạ thế truyền Đạo, thiên thượng thiên hạ chư Phật chư Tổ, nếu không gặp con đường Kim Tuyến, khó tránh kiếp này, bị tước quả vị, sau cùng Di Lặc phong bế hết 81 kiếp”.

Những bông hoa Ưu Đàm Bà La trắng tinh, mỏng như lụa, tinh xảo đặc sắc nở rộ trên tượng Phật. (Ảnh: Ảnh của Từ Lương Ngọc / Epoch Times)

Kinh Phật còn ghi chép rằng, Chuyển Luân Thánh Vương có ba mươi hai tướng và thất bảo giống với Đức Phật, là một vị vua lý tưởng không dùng võ lực mà dùng chính nghĩa chuyển động bánh xe Pháp, dùng nó để chi phối thế giới. Hoa Ưu Đàm Bà La ngày nay nở rộ ở nhân gian, chính là lúc Pháp Luân Thánh Vương hạ thế truyền Pháp độ nhân.

Hoa Ưu Đàm cũng được nhắc đến trong kinh Pháp Hoa, còn gọi là "Diệu Pháp Liên Hoa kinh" (trong tiếng Phạn- Saddharma Puṇḍarīka Sūtra), là một trong những bộ kinh Đại thừa quan trọng nhất, được lưu hành rộng rãi ở một số quốc gia châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản,Trung Quốc, Tây Tạng... Kinh Pháp Hoa được biết đến như quyển kinh sách lưu giữ những lời giảng pháp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng vào lúc cuối đời. Trích đoạn trong Kinh Pháp Hoa nói về hoa Ưu Đàm:

Như hoa ưu đàm
ai cũng ưa thích,
đến như chư Thiên
cũng thấy hiếm có,
vì lẽ thỉnh thoảng
mới trổ một lần.

Theo sách Huệ Lâm Âm Nghĩa ghi, “Ưu Đàm Bà La” trong tiếng Phạn, có nghĩa là “một loài hoa mang đến điềm lành từ Thiên đàng.” Quyển 8 Kinh “Huệ Lâm Nghĩa” của nhà Phật viết: “Hoa Ưu Đàm do điềm lành linh dị sinh ra; đây là một loài hoa của Trời, trên thế gian không có. Nếu một đấng Như Lai hoặc Chuyển Luân Thánh Vương hạ xuống thế gian con người, loài hoa này sẽ xuất hiện nhờ đại ân và đại đức của Ngài.”

Hiện tại, hoa Ưu Đàm Bà La, loài hoa báo hiệu có chân Phật giáng hạ cứu độ thế nhân, đã khai nở khắp nơi trên thế giới, phải chăng điều này nói lên rằng Pháp Luân Thánh Vương đang tại thế truyền Pháp độ nhân. Nếu như vậy thì Đại Ca Diếp đang nhập định sau 2.500 năm ở phía sau cửa đá Hoa Thủ Môn chắc hẳn cũng biết. Chắc rằng ông cũng sẽ tìm được vị Phật Vị Lai, trao lại y bát cho Ngài, hoàn thành sự giao phó của Phật Thích Ca, hoàn thành sứ mệnh ngồi đợi 2.500 năm.

Trung Nguyên
Theo Vương Nhuận - Sound of Hope



BÀI CHỌN LỌC

Đại đệ tử của Thích Ca Mâu Ni đã ngồi đợi 2.500 năm để giao 2 thứ này cho một người ngày nay