Đại Đạo trị quốc (P-2): Đế Đạo lập đức

Bình luận Trung Hòa • 16:30, 05/12/19

Trên thế giới ngày nay, nhiều quốc gia đang kiện toàn hệ thống pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền, trong đó mọi người dân đều sống và làm việc tuân thủ theo hiến pháp, pháp luật. Chúng ta thường vẫn coi đây là đỉnh cao của việc quản lý quốc gia, quản lý xã hội.

Tuy nhiên nếu ta dành chút thời gian xem lại để hiểu thêm về các phương thức quản lý quốc gia của người xưa thì sẽ ngỡ ngàng khi phát hiện ra rằng ngay từ cách đây hàng nghìn năm, con người đã biết dùng luật pháp trị quốc. Càng bất ngờ hơn là ngoài sử dụng luật pháp, người xưa còn biết và đã áp dụng thành công nhiều phương pháp quản lý quốc gia với tư tưởng cao thượng hơn rất nhiều như: Hoàng Đạo vô vi; Đế Đạo lập đức; Vô vi nhi trị; Đạo gia trị quốc; Nho gia trị quốc...

Để giúp Quý độc giả tìm hiểu các phương pháp quản trị đất nước thời xưa cũng như cội nguồn của Đạo trị quốc, NTD Việt Nam xin giới thiệu loạt bài “Đại Đạo trị quốc”, qua đó hy vọng rằng thêm một góc nhìn từ quá khứ, Quý độc giả chúng ta sẽ có đánh giá bao quát hơn, mạch lạc hơn về trí tuệ cổ nhân vừa sâu sắc thâm trầm, vừa rộng lớn mênh mông một cách đáng kinh ngạc, đó là những tinh hoa giá trị văn hóa truyền thống Á Đông xưa mà ngày nay chúng ta nên kế thừa và tiếp tục phát huy.

Phần 2: Đế Đạo lập Đức

Thời kỳ Ngũ Đế là mở đầu cho nền văn minh Trung Hoa, khởi nguồn từ Hoàng Đế. Thực ra thời kỳ Ngũ Đế không phải là chỉ sự ra đời của 5 vị đế vương mà là thời kỳ lấy 5 vị đế vương làm đại biểu, gồm có: Hoàng Đế, Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Khốc, Nghiêu, Thuấn. Họ đều là đế vương thời kỳ Ngũ Đế... 

Sau này cùng với sự phát triển của văn minh xã hội và sự phong phú về đời sống vật chất, đạo đức nhân loại bắt đầu đi xuống, tâm hồn trở nên không thuần chân nữa, bị các loại tư tâm dục vọng nhồi nhét ô nhiễm. Con người bắt đầu trở nên khôn ngoan xảo trá, tranh đấu lẫn nhau. Như thế nhân loại dần dần trở nên gián cách với Đại Đạo tự nhiên, càng ngày càng rời xa Thần, Thần lực (còn gọi là Thần thông, người hiện nay gọi là công năng đặc dị) dần dần mất đi, môi trường thiên nhiên cũng dần dần trở nên xấu đi. Con người bắt đầu trở thành kẻ thù của tự nhiên vạn vật, họ đề phòng và gây tổn hại lẫn nhau, trạng thái sinh tồn dần dần trở nên thống khổ và gian nan.

Như thế nhân loại dần dần trở nên gián cách với Đại Đạo tự nhiên, càng ngày càng rời xa Thần, Thần lực (còn gọi là Thần thông, người hiện nay gọi là công năng đặc dị) dần dần mất đi, môi trường thiên nhiên cũng dần dần trở nên xấu đi.
Như thế nhân loại dần dần trở nên gián cách với Đại Đạo tự nhiên, càng ngày càng rời xa Thần, Thần lực dần dần mất đi, môi trường thiên nhiên cũng dần dần trở nên xấu đi. (Ảnh: Shutterstock).

Do đó Hoàng Đạo trong lịch sử dần dần sa sút. Trong sách Lạc Thư có viết: "Sau khi Hoàng Đạo sa sút, tiêu vong, Đế Đạo bắt đầu hình thành thịnh vượng " (6)

Thế là sau khi trải qua thời kỳ Tam Hoàng dài dằng dặc, nhân loại bước vào thời kỳ Ngũ Đế của lần văn minh lần này. 

Thời kỳ Ngũ Đế là mở đầu cho nền văn minh Trung Hoa, khởi nguồn từ Hoàng Đế. Thực ra thời kỳ Ngũ Đế không phải là chỉ sự ra đời của 5 vị đế vương mà là thời kỳ lấy 5 vị đế vương làm đại biểu, coi Hoàng Đế là thủy tổ của các dân tộc Trung Hoa, kết thúc thời Thuấn Đế, thời gian kéo dài khoảng gần nghìn năm. Hoàng Đế, Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Khốc, Nghiêu, Thuấn đều là đế vương thời kỳ Ngũ Đế. 

Nội hàm chữ Đế và Đế Đạo

Sách Thuyết Văn Giải Tự viết: "Chữ Đế trong từ hoàng đế (vua) đồng nghĩa với chữ Đế trong từ diệu đế (chân lý), ý nghĩa là có thể quan sát rõ chân lý của thế gian vạn vật, là danh xưng của quân vương thống trị thiên hạ". (7)

Phần Chân Pháp Thiên sách Quản Tử có viết: "Người có thể quan sát rõ, thể ngộ được Thiên Đạo gọi là Đế". (8)

Phần Thụy Pháp sách Lễ Ký có viết: "Người thuận theo Đạo của Trời Đất mà kiến lập nên Đức lớn như Trời Đất thì gọi là Đế". (9)

Sách Thượng Thư Đại Truyện có viết: "Đế là người thuận theo Thiên Đạo mà kiến lập đạo đức, thiết lập hình pháp...". (10)

Theo những luận thuật trên có thể thấy rằng, người quan sát trời đất vạn vật, từ đó tham ngộ ra Đại Đạo, đồng thời tuân theo Đại Đạo để kiến lập nên Đức, dùng Đức để giáo hóa bách tính thiên hạ thì gọi là Đế.

người quan sát trời đất vạn vật, từ đó tham ngộ ra Đại Đạo, đồng thời tuân theo Đại Đạo để kiến lập nên Đức, dùng Đức để giáo hóa bách tính thiên hạ thì gọi là Đế.
Người quan sát trời đất vạn vật, từ đó tham ngộ ra Đại Đạo, đồng thời tuân theo Đại Đạo để kiến lập nên Đức, dùng Đức để giáo hóa bách tính thiên hạ thì gọi là Đế. (Ảnh: Pexels).

Như trên đã nói, thời kỳ Tam Hoàng, nhân loại ở trạng thái thuần chân vô tà tiên thiên, không chịu bất kỳ sự ô nhiễm nào. "Hoàng" trực tiếp hiển dương Thiên Đạo để khai hóa mông muội, khiến nhân loại thời kỳ đầu tâm hồn thuần khiết và đơn giản, hành động tự nhiên theo bản tính trong Đạo. Hoàng thực thi vô vi nhi trị, thiên hạ thực hành, thi hành trong Đạo.

Trong tiến trình phát triển lâu dài của xã hội, tâm hồn con người dần dần trở nên không còn thuần chân nữa, bị các loại tư tâm dục vọng ô nhiễm, bắt đầu lừa dối, tranh đoạt lẫn nhau, trong xã hội tương ứng xuất hiện các tai họa như phạm tội, chiến tranh... Lúc này nhân loại đã rời xa, trái với Đại Đạo, không thể để mặc người dân hành động theo bản tính tự nhiên được nữa, cần phải kiến lập Đức để quy phạm hành vi, lời nói của người dân trong thiên hạ, dẫn dắt người dân quay trở lại với tiêu chuẩn của Đạo.

Lúc này "Đế" ứng vận sinh ra. Họ quan sát rõ thiên địa vạn vật, từ đó tham ngộ Đại Đạo, vì vậy kiến lập nên Đức, dùng Đức để quy phạm hành vi lời nói của người dân trong thiên hạ, hướng dẫn người dân trở về với Đạo để đạt đến mục tiêu cuối cùng là vô vi nhi trị. Đây chính là điều mà Lão Tử nói: "Đạo mất thì sau đó mới có Đức".

Sự khác nhau giữa Đạo và Đức

Nói một cách chính xác thì Đức là chuẩn mực được kiến lập nên dựa theo Đạo. Chu Dịch - cuốn sách cổ đại thần bí, bộ Thiên thư không chữ đã biểu đạt chính quan hệ đó: Thiên tượng biến hóa đối ứng dẫn đến sự biến hóa trong nhân gian. Đồng thời Chu Dịch còn triển hiện quá trình Thiên Đạo vận hành đối ứng sinh ra Đức: "Càn Đạo sinh Khôn Đức, thuận theo thì tốt lành, trái nghịch thì dữ (bất hạnh)" (nguyên văn: "Càn Đạo sinh Khôn Đức, thuận chi giản cát, nghịch chi giả hung").

Lý luận có thể khó lý giải, do đó lấy mấy ví dụ dưới đây để nói rõ.

Khi nhân loại thuần chân vô tà thì hoàn toàn không biết lừa dối là cái gì, không có bất kỳ tính toán mưu mô trí xảo nào, lời nói của con người là đáng tin, thiên hạ không có lừa dối. Thời đó trong tâm của con người hoàn toàn không có khái niệm "thành tín", bởi vì không có dối trá. Do đó với nhân loại thời bấy giờ mà nói chuyện thành tín thì hoàn toàn thừa. Điều này giống như trẻ nhỏ ngây thơ trong trắng, bé hoàn toàn không biết lừa dối. Nói chuyện thành tín với bé thì trái lại còn gây ô nhiễm cho tâm hồn bé. Đây chính là Đạo, tức con người trở về với trạng thái tiên thiên thuần chân vô tà nhất của sinh mệnh, tất cả đều làm theo bản tính tự nhiên. Khi đó Đạo là vô hình, bởi vì thiên hạ đều ở trong Đạo. Thế nên không ai cảm thấy, phát hiện ra sự tồn tại của Đạo, nó là cơ chế duy trì sự vận hành hài hoà của thiên địa vạn vật với thiên nhiên.

Thời đó trong tâm của con người hoàn toàn không có khái niệm "thành tín", bởi vì không có dối trá. Do đó với nhân loại thời bấy giờ mà nói chuyện thành tín thì hoàn toàn thừa. Điều này giống như trẻ nhỏ ngây thơ trong trắng, bé hoàn toàn không biết lừa dối.
Thời đó trong tâm của con người hoàn toàn không có khái niệm "thành tín", bởi vì không có dối trá. Điều này giống như trẻ nhỏ ngây thơ trong trắng, bé hoàn toàn không biết lừa dối. (Ảnh: Shutterstock).

Cùng với sự phát triển của nhân loại, tâm hồn con người dần dần trở nên không thuần chân nữa, bị các loại tư tâm dục vọng ô nhiễm, từ đó nảy sinh ra tính toán mưu mô trí xảo, đã xuất hiện lừa dối, tranh đấu... Khi đó thiên hạ đã lệch ra khỏi Đạo. Sự hài hòa và cân bằng trong thiên hạ đã bị phá vỡ, giữa các sinh mệnh đã bắt đầu tàn hại lẫn nhau đem đến các loại thống khổ và tai họa. Vì để thiên hạ quay trở lại với trạng thái hài hòa tốt đẹp thì ắt phải khiến sinh mệnh trở về với Đạo. Do đó phải có sinh mệnh có đại trí huệ từ trời đất vạn vật mà khai ngộ ra Đạo, tham ngộ ra bộ cơ chế khiến thiên địa vạn vật duy trì sự hài hòa và tốt đẹp, từ đó khiến Đạo hiển hiện hình hài để kiến lập tiêu chuẩn tham chiếu, khiến sinh mệnh trở về. Tiêu chuẩn tham chiếu được kiến lập nên này gọi là Đức. Sinh mệnh đại trí huệ tham ngộ ra Đạo từ trời đất vạn vật gọi là Đế.

Ví dụ, khi sinh mệnh rời xa Đạo, sinh ra lừa dối thì phá vỡ sự hài hòa của xã hội vốn có, lúc này sẽ tương ứng sinh ra một loại Đức là Thành Tín để quy chính sinh mệnh bị sai lệch, khiến sinh mệnh có thể trở về với Đạo. Như thế Đức dần dần được kiến lập nên.

Đức là tiêu chuẩn được kiến lập nên dựa theo Đạo, cũng có thể coi là một hình thức hiển hiện hình hài của Đạo ở nhân gian. Khi vạn vật trong thiên hạ đều ở trong Đạo thì không tồn tại khái niệm Đức này. Khi đó Đạo hoàn toàn vô hình. Sau khi sinh mệnh lệch khỏi Đạo, sự hài hòa tự nhiên bị phá vỡ thì mới có tham chiếu và so sánh, thì lúc đó Đạo mới được phát hiện ra, tham ngộ ra. Giống như không có khái niệm "ở trên" để tham chiếu so sánh thì không thể nào kiến lập được khái niệm "ở dưới", chúng là nhất thể đồng thời tồn tại.

Khi sinh mệnh lệch khỏi Đạo, phá vỡ sự hài hòa vốn có thì có tham chiếu và so sánh, lúc này Đạo được hiển hiện hình hài. Đế là người từ trời đất vạn vật tham ngộ ra bộ cơ chế hài hòa hoàn mỹ này, từ đó kiến lập nên tiêu chuẩn khiến sinh mệnh trở về với sự hài hòa, đó chính là Đức. Vì vậy khi sinh mệnh xa rời khỏi Đại Đạo, sinh ra lừa dối thì sẽ kiến lập nên thành tín, sinh ra ác thì sẽ kiến lập nên thiện, sinh ra tranh đấu thì sẽ kiến lập nên khiêm nhường…

Vì để thiên hạ quay trở lại với trạng thái hài hòa tốt đẹp thì ắt phải khiến sinh mệnh trở về với Đạo. Do đó phải có sinh mệnh có đại trí huệ từ trời đất vạn vật mà khai ngộ ra Đạo
Vì để thiên hạ quay trở lại với trạng thái hài hòa tốt đẹp thì ắt phải khiến sinh mệnh trở về với Đạo. Do đó phải có sinh mệnh có đại trí huệ từ trời đất vạn vật mà khai ngộ ra Đạo... (Ảnh: Pixabay).

Khi sinh mệnh thuần chân vô tà, tất cả đều hành xử theo bản tính tự nhiên, hành động đều ở trong Đạo, thiên hạ hoàn mỹ hài hòa, hoàn toàn không cần Đức để quy phạm hành vi ngôn hành, vì đó là thừa. Đó chính là Hoàng Đạo, giống như cảnh giới tột bậc mà  Khổng Tử nói những năm về già: "Làm theo những gì tâm muốn mà không vượt ra ngoài phép tắc" (nguyên văn: "tòng tâm sở dục nhi bất du củ").

Làm theo những gì tâm muốn mà không vượt ra ngoài phép tắc, thực ra chính là sau khi đã trở về trong Đạo, hết thảy hành vi theo bản tính tự nhiên. Đó là quá trình tu luyện cả một đời của Khổng Tử, không ngừng tu đức, cuối cùng trở về với Đạo. Nó nói rõ rằng Nho gia đi đến đỉnh điểm chính là quy về Đạo gia. Khi Đức đầy đủ và đạt đến vô hình thì sẽ quy về nhập Đạo.

Đế thông qua ngộ Đạo lập Đức, dẫn dắt người dân trong thiên hạ trở về với tiêu chuẩn của Đạo, cuối cùng thực hiện được vô vi nhi trị. Đó chính là vô vi nhi trị của hậu thiên, khác với vô vi nhi trị tiên thiên của thời kỳ Hoàng Đạo.

Theo tài liệu sử ghi chép, thời kỳ Ngũ Đế, vị đế vương cuối cùng tiếp cận đến vô vi nhi trị là Nghiêu Đế.

Khi vua Nghiêu tại vị, thiên hạ được trị sửa vô cùng tốt đẹp. Sách Cao Sĩ Truyện có ghi chép rằng: "Thời Nghiêu Đế, thiên hạ thái bình, hài hòa, cuộc sống người dân thoải mái tự tại, không lo không nghĩ, người già trẻ con đều vui vẻ tự nhiên, thiên hạ nơi nơi đều là cảnh tượng Tiên cảnh chốn nhân gian. Có một cụ già hơn 80 tuổi ở bên bờ ruộng vừa gõ nhịp xuống đất vừa hát, nhàn nhã vui vẻ. Thấy dáng vẻ vui vẻ không lo nghĩ của cụ già, người đi đường cảm thán rằng: Đây đều là đức lớn của Nghiêu Đế ban cho vậy".

Cụ già nghe thấy thế bèn hát rằng: "Mặt trời mọc thì làm, mặt trời lặn thì nghỉ, tự đào giếng để uống, tự cày ruộng để ăn, Đế có đức gì với ta đâu".

Đây chính là bài ca "Kích nhưỡng ca" (gõ nhịp xuống đất hát) nổi tiếng trong lịch sử, nó miêu tả cảnh tượng tuyệt đẹp như thế ngoại đào nguyên thời vua Nghiêu, ý cảnh xa xôi sâu sắc, cảnh sắc an hòa chất phác. Đây cũng chính là sự triển hiện thuần chân của phong thái và đức của người dân sau khi Nghiêu Đế trị sửa thiên hạ thái bình, tất cả đều thuận theo tự nhiên, giống như đế vương không hề tồn tại vậy.

Trung Hòa
Theo Lý Đạo Chân 

Chú thích:

  1. Sách Lạc Thư viết: "Hoàng Đạo khuyết cố Đế Đạo hưng".
  2. Sách Thuyết Văn Giải Tự viết: "Đế, đế dã. Vương thiên hạ chi hiệu dã".
  3. Phần Chân Pháp Thiên sách Quản Tử viết: "Sát Đạo giả Đế".
  4. Phần Thụy Pháp sách Lễ Ký viết: "Đức tượng thiên địa xưng Đế".
  5. Sách Thượng Thư Đại Truyện viết: "Thiên lập Ngũ Đế dĩ vi tương, tứ thời thi sinh, pháp độ minh sát, xuân hạ khánh thưởng, thu đông hình phạt, Đế giả nhiệm đức thiết hình, dĩ tắc tượng chi, ngôn kỳ năng hành Thiên Đạo, cử thác thẩm đế dã".