Cuộc chiến Israel - Palestine: Gà cùng một mẹ sao vẫn cứ hoài đá nhau?

Giúp NTDVN sửa lỗi

Vùng đất Israel - Palestine đang tranh chấp hiện nay còn được gọi là Vùng Đất Hứa, với Ngôi Đền Thiêng Jerusalem, là Thánh địa của cả 3 tôn giáo lớn là Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo. Tranh chấp lãnh thổ giữa người Do Thái và người A-rập hiện nay không chỉ đơn thuần từ khi thành lập nhà nước Israel sau Thế chiến thứ II, mà nó có cội nguồn lịch sử hàng ngàn năm.

Nhà nước Israel thành lập năm 1948, suốt từ thời điểm đó cho đến ngày nay, chiến tranh giữa người Do Thái và người A-rập vẫn xảy ra liên miên, hòa bình chỉ là những giờ phút mong manh ngắn ngủi. Hiện tại Israel đang có tranh chấp lãnh thổ quyết liệt với Palestine và Jordan, đặc biệt là các nhóm Hồi giáo cực đoan như Hamas, Hezbollah… Vùng đất này suốt gần 100 năm nay không ngừng khói lửa chiến tranh. Đặc biệt thành phố Jerusalem là Thánh địa của cả 3 tôn giáo lớn là Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo, và cũng là vùng đất tranh chấp mãnh liệt giữa người Do Thái và người Hồi giáo. Để hiểu rõ mâu thuẫn, và nguồn gốc xung đột, và có thể dự đoán tương lai vùng đất này thì cần phải xem lịch sử của vùng đất này cũng như lịch sử mâu thuẫn người Do Thái và người A-rập.

Gà cùng một mẹ

Theo Kinh Thánh, cả người Do Thái và người A-rập đều có ông tổ chung là Abraham. Khoảng 4000 năm trước, tộc người Do Thái dưới sự dẫn dắt của thủ lĩnh Abraham sinh sống ở vùng đất Ur (Lưỡng Hà) đứng trước nguy cơ bị vua Nimrod tiêu diệt. Abraham vâng lời Đức Chúa Trời rời bỏ quê hương ở vùng đất Ur (Lưỡng Hà), khởi hành đến Harran, và được Đức Chúa Trời báo mộng chỉ dẫn đi đến vùng đất Canaan (từ bờ sông Jordan đến bờ biển Địa Trung Hải, ngày nay bao gồm Liban, Israel, Palestine, phần phía Tây Jordan và Tây Nam Syria). Đức Chúa Trời cũng lập giao ước với Abraham (lúc đó có tên là Apram) rằng:Ta là Thiên Chúa toàn năng, và Ta lập Giao Ước với ngươi. Ngươi sẽ là tổ phụ của nhiều dân tộc, và để đánh dấu Giao Ước này, ngươi sẽ đổi tên thành Abraham (có nghĩa là “cha của nhiều dân tộc”). Ta sẽ giữ lời hứa, và xứ Canaan sẽ thuộc về ngươi và dòng dõi của ngươi đời đời; và Ta sẽ là Thiên Chúa của họ.” 

Thế nên xứ Canaan về sau được gọi là Vùng Đất Hứa, Abraham chấp nhận Giao Ước, và nguyện sẽ tôn thờ Đức Chúa Trời – Đức Jehovah – là Thiên Chúa duy nhất của vũ trụ. Đức Jehovah cũng cam kết nếu Abraham và hậu duệ giữ vững Giao Ước thì Đức Jehovah sẽ là Thiên Chúa (Đức Chúa Trời) của họ, và ban cho họ Vùng Đất Hứa.

Cuộc hành trình của Abraham từ thành Ur tới xứ Canaan (Phạm vi sử dụng cộng đồng)

Sau khi Abraham chết, quyền lãnh đạo được trao cho người con trai trưởng Isaac, là chủ nhân của Vùng Đất Hứa. Người Do Thái là dòng dõi của Isaac, là người kế thừa quyền lãnh đạo và cai quản Vùng Đất Hứa Canaan (tức vùng đất Israel hiện nay) của tổ tiên, và tôn thờ Đức Chúa Trời Jehovah duy nhất. Isaac sinh ra Jacob, Jacob (sau đổi tên là Israel) sinh ra 12 chi phái người Do Thái, đều là con của Israel (Jabob), nên từ đó còn được gọi là người Israel.

Tục tôn thờ Đức Chúa Trời của người Do Thái được kế thừa và phát triển, đến khoảng 3500 trước, sau khi Moses dẫn người Do Thái ra khỏi Ai Cập, được Đức Jehovah ban cho 10 điều răn ở núi Sinai và khắc trên 2 phiến đá. Sau đó dần hình thành tôn giáo, gọi là Do Thái giáo, nền tảng là Kinh Torah (một phần của Kinh Thánh Hebrew), thờ Đức Chúa Trời Jehovah, và tôn thờ Abraham là ông tổ sáng lập Do Thái giáo, tôn thờ Moses là Thầy, là Nhà Tiên tri.

Abraham còn có người con thứ là Ishmael. Ishmael sinh được mười hai con trai, sau này đều trở thành những ông hoàng của sa mạc. Người A-rập chính là hậu duệ của Ishmael. Người A-rập thờ ông tổ của họ là Abraham (tiếng A-rập đọc là Abrahim) và Ishmael. 

Khoảng 1400 năm trước, Muhammad nhận được mặc khải của Thiên Chúa qua Thiên Thần Gabriel, ông được coi là Sứ giả của Đức Chúa Trời, và là Nhà Tiên tri cuối cùng, là là người sáng lập ra Hồi giáo. Kinh Quran là cuốn sách được cho là lời chỉ dạy của Đức Chúa Trời cho con người thông qua Nhà Tiên tri Muhammad. Người Hồi giáo cho rằng Muhammad là Nhà Tiên tri cuối cùng, do đó Kinh Quran là những lời chỉ dạy cuối cùng của Đức Chúa Trời cho con người.

Kiếp nạn thứ nhất: Phải từ bỏ Vùng Đất Hứa thành những kẻ nô lệ

Sau khi được Đức Chúa Trời chỉ dẫn, Abraham đưa bộ tộc đến được Vùng Đất Hứa (vùng Israel ngày nay) và truyền lại quyền làm chủ vùng đất này cho con trai là Isaac, sau đó Isaac lại truyền lại cho con trai ông là Jacob. Trong Sách Sáng Thế có ghi một đoạn về lời hứa của Thiên Chúa đối với Jacob: "Khi mặt trời đã khuất, Jacob nằm chiêm bao thấy một cái thang bắc từ dưới đất, đầu đến tận trời, các thiên sứ của Đức Chúa Trời lên lên xuống xuống trên thang đó. Và Yehovah hiện ra trước mặt ông và nói: "Ta là Yehovah, Chúa của Abraham tổ phụ ngươi và cũng là Chúa của Isaac. Ta ở cùng ngươi và gìn giữ ngươi. Nhờ ngươi mọi dân tộc trên thế gian sẽ được chúc phúc. Ta sẽ không bỏ rơi ngươi, trái lại, Ta sẽ hoàn tất những gì Ta đã hứa với ngươi". (Sáng thế ký 28,11-15)

Sau này, những gì Jacob thấy trong mộng đều thành sự thật. Sau này, một lần vị tổ phụ thứ 3 của người Do Thái Jacob nằm mơ thấy mình chiến đấu với Đức Chúa Trời, sau đó đổi tên là Israel, nghĩa là “Người chiến đấu với Đức Chúa Trời”. Kể từ đó, người Do Thái được gọi là Bnei Yisrael , nghĩa là “Những người con của Israel”.

Jacob và Rachel, tranh của William Dyce (Phạm vi sử dụng cộng đồng)

Một người mà nằm mơ thấy mình chiến đấu với Thiên Chúa của mình thì ắt hẳn sẽ phải sợ phát khiếp. Nếu một người trong lòng luôn thành kính với vị Thần bảo hộ của mình, luôn chú ý làm theo những lời dạy của Thần thì chắc chắn không thể có giấc mơ “phản nghịch” như vậy. Điều này cho thấy, lòng thành kính đối với Đức Chúa Trời được truyền từ đời ông Abraham, qua đời cha Isaac, đến đời con Jacob đã bị mai một rất nhiều rồi. Nó cũng thể hiện các con dân của Thiên Chúa đã sinh lòng ngạo mạn, bất kính đối với Ngài. Giấc mộng đó chính là để cảnh tỉnh Jacob và các con dân của Ngài phải nhìn vào cái tâm của mình, xem các hành vi và việc làm của mình có trái với những lời răn của Ngài hay không, có trái với Giao Ước không, từ đó quy chính cái tâm, sửa chữa lỗi lầm, thì Thiên Chúa từ bi vẫn sẽ bảo hộ và ban phúc cho họ.

Nhưng Jacob và cả bộ lạc của ông không những không để ý đến lời cảnh cáo đó của Thiên Chúa, mà còn cảm thấy tự hào, vui mừng. Jacob còn đổi tên thành Israel, nghĩa là “Người chiến đấu với Đức Chúa Trời”. Thế là từ đó, vùng đất hứa Canaan phì nhiêu màu mỡ liên tiếp gặp thiên tai hạn hán, đất đai khô cằn, cây cối tiêu điều, người dân đói khổ. Thiên tai và dị tượng chính là lời cảnh cáo của Thiên Chúa đối với con dân của Ngài, để giúp họ cảnh tỉnh hối lỗi, quay về chính Đạo, phụng thờ Thiên Chúa. 

Tuy nhiên, khi con người kiêu ngạo thì không thể nhận ra lỗi lầm của mình, kết quả là vùng toàn thể gia tộc của Jacob phải rời bỏ vùng đất hứa Canaan mà Thiên Chúa đã ban cho. Họ lại phải lang thang tìm miền đất mới, cuối cùng đến vùng châu thổ sông Nile trù phú của Ai Cập. Ban đầu họ chỉ nghĩ rằng đi tị nạn chỉ một đôi vụ mùa, qua cơn hạn hán đói khổ rồi quay về quê cha đất tổ. Thế nhưng họ đã phải ở lại Ai Cập kéo dài tới 400 năm, và gia tộc Jacob phát triển thành hàng trăm ngàn người. 

Người Ai Cập lo sợ phát triển của người Do Thái có thể gây tổn hại đến Đế chế Ai Cập. Thế là các Pharaoh bắt đầu ngược đãi người Do Thái, bóc lột họ như nô lệ, ép họ phải đi lao dịch nặng nhọc, và độc ác nhất là ra lệnh dìm chết tất cả những bé trai Do Thái mới lọt lòng nhằm dần dần tiêu diệt dân Do Thái.

Thiên Chúa cứu vớt con dân Do Thái

Người Do Thái lâm vào cảnh nô lệ khổ cực, và đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt toàn bộ bộ lạc thì Đức Chúa Trời từ bi ra tay cứu với con dân của Ngài.

Một đứa trẻ thoát chết khỏi lệnh dìm chết các bé trai Do Thái nhờ một cơ duyên, được công chúa cứu và nhận làm con nuôi, đặt tên là Moses. Sau này Moses lớn lên, do phạm tội phải trốn đến Sinai. Tại đó Moses nhìn thấy một bụi gai đang bốc cháy nhưng không lụi tàn, vì tò mò ông đến gần để quan sát kỹ hơn; tại đây Thiên Chúa phán bảo với Moses từ trong bụi gai cháy và mặc khải cho ông Danh của Ngài là Đấng Tự hữu Hằng hữu. Thiên Chúa phán bảo Moses trở về Ai Cập để giải cứu đồng bào của ông khỏi ách nô lệ, và ban quyền năng cho Moses.

Moses dẫn dắt dân chúng đi về hướng Đông, khởi đầu một cuộc hành trình dài trở về Vùng Đất Hứa Canaan. Đoàn người đến bờ biển Đỏ thì binh lính Ai Cập đuổi theo để săn đuổi những kẻ nô lệ vừa được phóng thích. Khi đoàn người đang khiếp đảm thì Thiên Chúa khiến nước phân rẽ, làm cho đáy biển lộ ra để dân Do Thái đi qua như trên đất cạn. Khi đạo quân Ai Cập đuổi theo, Thiên Chúa khiến nước lấp phủ đáy biển trở lại, đạo quân với chiến xa, kỵ binh và bộ binh bị chôn vùi trong biển. Khi đến Sinai, Moses lên trên núi Sinai để nhận lãnh giáo huấn và luật pháp của Thiên Chúa.

Moses, tranh của José de Ribera (1638) (Phạm vi sử dụng cộng đồng)

Nhưng Vùng Đất Hứa Canaan giờ đây đã thuộc về sắc tộc khác, họ xây thành lũy kiên cố, vùng đất trù phú, giàu mạnh. Những người Do Thái thấy vậy thì sợ hãi khóc lóc nằng nặc đòi quay trở lại Ai Cập làm nô lệ. Moses thấy người Do Thái phản bội lại lời dạy của Thiên Chúa, sợ Ngài nổi giận nên đã cầu xin Ngài tha lỗi cho những đứa con tội lỗi, xin đừng tiêu diệt họ. Thiên Chúa chấp nhận lời thỉnh cầu của Moses, chỉ trừng phạt họ để họ phải lang thang trong sa mạc 40 năm cho đến khi những kẻ phản loạn này chết ở đó, con cháu của họ sẽ là những người mang trách nhiệm chiếm lấy xứ Canaan. 

Suốt 40 năm trời thử thách đức tin của con dân, sau khi trải qua vô số kiếp nạn, cuối cùng người Do Thái cũng đã trở về được Vùng Đất Hứa thuận lợi, nhưng người thủ lĩnh tài năng của họ là Moses đã chết trên bờ sông Jordan ngay trước khi đoàn người tiến vào Canaan.

Trước khi chết, Moses đã trao quyền lãnh đạo bộ tộc cho Joshua. Người Do Thái vào Canaan sinh sôi phát triển thành 12 chi tộc, và dần dần phát triển thành vương quốc hùng cường, với những vị vua vĩ đại như Saul, David, Solomon. Đặc biệt thời vua Solomon, biên giới của đế quốc Solomon rộng lớn trải dài từ sông Nile đến sông Euphrates (Lưỡng Hà). Cũng trong thời gian này, tức cách ngày nay gần 3000 năm, Ngôi Đền Jerusalem đã được khởi công xây dựng, hoàn thành, và trở thành một kỳ quan thế giới, là niềm tự hào của người Do Thái.

Kiếp nạn thứ 2: Mất nước và bị lưu đày

Sau thời thịnh trị của vua Solomon, người Do Thái bắt đầu hưởng thụ và tham lam, chia bè kéo phái chiếm lợi riêng cho các chi phái của mình. Sau rất nhiều năm đấu tranh lục đục, các vùng đất rộng lớn của đế quốc Solomon bị thu hẹp về Vùng Đất Hứa Canaan, sau đó lại bị chia rẽ thành 2 vương quốc: Israel ở phương Bắc, và Judah ở phương Nam.

Người Do Thái càng ngày càng không tuân thủ Giao Ước với Thiên Chúa, họ càng ngày càng tự tư, tham lam và chia rẽ. Cuối cùng, khoảng 2700 năm trước, vương quốc Israel ở phương Bắc bị đế quốc Tân Assyria vùng Lưỡng Hà thôn tính. Người Do Thái bị trục xuất khỏi vùng đất của mình và người Assyria tràn đến định cư thay thế. Còn vương quốc Judah ở phương Nam bị đế quốc Tân Babylon vùng Lưỡng Hà thôn tính. Cũng chung số phận với người anh em Israel, người Do Thái ở Judah cũng bị người Babylon trục xuất và lưu đày, Ngôi Đền Jerusalem bị tàn phá. 

Mô hình Đền thờ cũ của vua Solomon (nguồi wikipedia)

Kết quả của sự bất trung với Giao Ước của người Do Thái, việc thờ phụng Đức Chúa Trời của họ không còn xuất phát từ cái tâm thuần tịnh thành kính nữa, mà chỉ còn là hình thức, hoặc là để cầu xin thăng quan phát tài, cầu xin vợ đẹp con khôn, cầu xin tai qua nạn khỏi… dẫn đến tấn bi kịch mất nước nhà tan, cả dân tộc là những con dân của Thiên Chúa đã bị trở thành kẻ lưu đày sống trong đau khổ.

Thiên Chúa lại ra tay cứu vớt

Cũng may, vẫn còn những nhà tiên tri, những giáo sĩ Do Thái vẫn còn tỉnh táo nhắc nhở dân Do Thái hãy bình tâm tín thác vào Thiên Chúa: Thiên Chúa là đá tảng của sự tin cậy. Một vị tiên tri Do Thái giáo vào thế kỷ 6 đã ghi lại rằng thượng đế của người Babylon Marduk đã không thể đánh bại được Đức Jehovah; và lịch sử vẫn thuộc về vương quốc của Ngài.

Khổ nạn khảo nghiệm và thử thách đức tin của người Do Thái vào Thiên Chúa của họ. Khi họ trong khổ nạn buông bỏ lòng tham, biết sám hối, và thành tâm cầu nguyện Thiên Chúa thì kỳ tích sẽ xuất hiện.

Cách ngày nay khoảng 2500, đế quốc Ba Tư chinh phục Babylon, vua Ba Tư là Cyrus đã quyết định trả lại tự do cho người Do Thái đang sống ở Babylon, cho phép họ quay trở lại quê cha đất tổ Judah. Sau khi trở về, người Do Thái bắt tay xây dựng lại Ngôi Đền Jerusalem, và được gọi là Ngôi Đền Thứ Hai.

Bản đồ vương quốc Israel thời vua Saul và David (Nguồn Wikipedia)

Sau đó, vào khoảng 2300 năm trước, đế chế Macedonia do Alexander Đại Đế chinh phục đế quốc Ba Tư, mở rộng lãnh thổ ra khắp châu Âu, châu Á và châu Phi. Tuy nhiên người Do Thái vẫn được hưởng các quyền tự do, trong đó có tự do tín ngưỡng, nên cuộc sống của họ vẫn khá yên lành.

Sau khi Alexander Đại Đế chết, đế chế Macedonia bị phân chia. Khoảng 2200 năm trước, đế chế Seleucid người Syria chiếm vùng Judah, lúc này được gọi là Judae theo cách gọi của người Hy Lạp và La Mã. Người Syria áp đặt nhiều biện pháp nhằm đàn áp tôn giáo và việc thực hành tôn giáo của người Do Thái, khiến người Do Thái vùng lên khởi nghĩa và chiếm được Judae, lúc đó đang là một tỉnh của đế chế Seleucid, và lập nên triều đại Hasmoneans, khẳng định tín ngưỡng Do Thái và loại bỏ ảnh hưởng của các tín ngưỡng Hy Lạp.



BÀI CHỌN LỌC

Cuộc chiến Israel - Palestine: Gà cùng một mẹ sao vẫn cứ hoài đá nhau?