Chuyện Phật gia: Huyền sử Đường Tăng

Bình luận Tường Hòa • 11:30, 17/04/20

Giúp NTDVN sửa lỗi

Có người nói: Chuyện bốn thầy trò Đường Tăng trong "Tây du ký" trải qua muôn ngàn gian khổ, cuối cùng đến được Tây Thiên, tu thành chính quả chỉ là sự hư cấu trong tiểu thuyết. Nhưng thực tế, hành trình mà vị sư Đường Huyền Trang chân thực từng trải qua trên đường đi thỉnh kinh cũng truyền kỳ và gian nan không kém gì "Tây du ký"...

Đường Tăng thực sự trong lịch sử vào thời cổ đại khi giao thông chưa phát triển, không quản nguy hiểm tính mạng, chỉ dựa vào cái tâm chí thành và nghị lực đáng kinh ngạc, trải qua cõi chết, một mình vượt trên 2 vạn 5 nghìn dặm đường mới đến được Ấn Độ, lấy được Kinh Phật. Quá trình Đường Tăng đi Tây Thiên thỉnh kinh thực chất cũng là một quá trình tu luyện.

1. 13 tuổi phá lệ làm độ tăng

Đường Tăng cũng được gọi là Đường Tam Tạng, tên tục là Trần Vĩ, người huyện Câu Thị, Lạc Châu, Hà Nam (huyện Yển Sư tỉnh Hà Nam ngày nay). Ông sinh năm Khai Hoàng thứ 20 đời Tùy Văn Đế (năm 600), cũng có thuyết nói ông sinh năm Nhân Thọ thứ 2 (năm 602), và có thuyết nói năm Khai Hoàng thứ 16 (năm 596), mất năm Lân Đức thứ nhất (năm 664). Sau khi xuất gia, ông được đặt Pháp danh là Huyền Trang, do đó người ta cũng gọi ông là Pháp sư Huyền Trang.

Phụ thân của Trần Vĩ dốc lòng học Nho học, kinh thuật. Trần Vĩ có 4 anh em, anh hai xuất gia từ nhỏ, Pháp danh là Trường Tiệp, trú ở chùa Tịnh Thổ, Lạc Dương. Huyền Trang đứng thứ 4, từ nhỏ thiên tính thông minh dĩnh ngộ, nghi biểu phi phàm, 8 tuổi thọ nghiệp từ người cha, chuyên cần học tập không mệt mỏi. Khi phụ thân giảng sách đến chuyện Khổng Dung tránh ngồi, Trần Vĩ bỗng đứng lên. Phụ thân hỏi nguyên do, Trần Vĩ trả lời rằng: "Khổng Dung thấy bề trên thì tránh ngồi. Nay cha giảng giải kinh cho con, con đâu dám ngồi?". Phụ thân rất ngợi khen. Thuở nhỏ Trần Vĩ đã có tố chất đặc biệt, không chơi với những đứa trẻ nghịch ngợm, không nghe những tời tà vạy siểm nịnh, thường theo anh hai là Pháp sư Trường Tiệp học các kinh điển Phật giáo.

Thuở nhỏ Trần Vĩ đã có tố chất đặc biệt, không chơi với những đứa trẻ nghịch ngợm, thường theo anh hai là Pháp sư Trường Tiệp học các kinh điển Phật giáo.
Thuở nhỏ Trần Vĩ đã có tố chất đặc biệt, không chơi với những đứa trẻ nghịch ngợm, thường theo anh hai là Pháp sư Trường Tiệp học các kinh điển Phật giáo. (Ảnh: baike.baidu.com)

Thời Tùy Đường, Phật giáo thịnh hành, chính quyền quy định chế độ thi chọn tăng xuất gia rất nghiêm ngặt. Người muốn xuất gia học Phật đều do chính quyền kiểm tra và thống nhất thi cử, người thi đỗ mới được xuất gia làm tăng, gọi là "độ tăng". Năm Đại Nghiệp thứ 10 đời Tùy Dương Đế, chính quyền thông cáo độ tăng 10 người, khi đó Huyền Trang chỉ mới 13 tuổi, không phù hợp về lứa tuổi độ tăng theo quy định, nên không được vào trường thi. Huyền Trang rất thất vọng, cứ loanh quanh ở ngoài trường thi không muốn ra về. Quan chủ khảo Đại lý khanh Trịnh Thiện Quả là một tín đồ Phật giáo, nghe được chuyện này bèn cho vời vào gặp mặt. Trịnh Thiện Quả thấy cậu thiếu niên này tuổi nhỏ mà lại nho nhã, khác hoàn toàn so với người thường, bèn hỏi tại sao xuất gia. Huyền Trang trả lời rằng: "Chí hướng xa thì theo Như Lai, gần thì theo Pháp để lại". Tuổi non nớt mà khẩu khí rất lớn khiến khảo quan kinh ngạc tấm tắc khen ngợi. Vì vậy quan chủ khảo đã cho phép đặc biệt để xuất gia, phá lệ tuyển chọn, đồng thời nói với mọi người xung quanh rằng: "Tụng kinh thì dễ đạt, nhưng phong cách cây trúc thì hiếm có, Nếu độ cậu bé này, ắt sẽ thành bậc đại tài của Phật môn"

2. Để lấy kinh đã chịu thập tử nhất sinh

Pháp sư Huyền Trang trải qua một thời gian tham phỏng học tập, cảm thấy nhiều năm nay những điều nghe được trong các bài giảng ở các nơi thì các gia các phái thuyết giảng khác nhau, nội dung cũng có khác biệt, vì vậy cảm thấy không biết theo kinh sách nào, nên đã quyết tâm đi Tây Trúc lấy kinh.

Năm Trinh Quán thứ nhất đời Đường (năm 627), Huyền Trang quyết định đi Tây Trúc thỉnh kinh, Nhưng đương thời nhà Đường mới kiến lập, biên cương không yên ổn, lệnh cấm xuất cảnh rất nghiêm ngặt. Hai lần ông chính thức xin đóng dấu cho phép đi nhưng đều không có được giấy phép. Muốn đi sang Tây Trúc, trừ vượt biên trái phép ra thì không còn phương cách nào nữa. Năm đó mất mùa, triều đình cho phép dân chúng đi các nơi để tự mưu sinh, Huyền Trang bèn thừa cơ ra khỏi thành Trường An đi về phía Tây, từ Tây An đi qua Tần Châu, Lan Châu, sau đó đến Lương Châu, và tìm được một người Hồ có võ nghệ là Thạch Bàn Đà làm người dẫn đường, ngày nghỉ đêm đi, lén vượt Ngọc Môn Quan. Nhưng sau khi vượt quan, Thạch Bàn Đà không chịu nổi nỗi khổ sở vất vả dọc đường, nên đã từ chối và bỏ đi, và có chỉ cho Huyền Trang biết ở ngoài Ngọc Môn Quan này còn có mấy chỗ có trạm gác phòng thủ, dặn Huyền Trang phải cẩn thận hành sự.

Trải qua một thời gian học tập nghe Pháp, Huyền Trang cảm thấy không có sự khác biệt nhiều, bối rối chưa biết làm sao, nên ông muốn đi Tây Trúc thỉnh kinh.
Trải qua một thời gian học tập nghe Pháp, Huyền Trang cảm thấy không có sự khác biệt nhiều, bối rối chưa biết làm sao, nên ông muốn đi Tây Trúc thỉnh kinh. (Ảnh: baike.baidu.com)

Thạch Bàn Đà bỏ đi không lâu thì binh lính đi tuần phát hiện bắt giữ và tra hỏi Huyền Trang. Cũng may những người này cũng là tín đồ Phật giáo, nghe nói Huyền Trang đi lấy kinh, ý chí kiên định, bèn thả cho ông đi. Từ đó Huyền Trang một mình mạo hiểm, đơn độc lên đường, đội trăng sao đi ba ngày ba đêm mà vẫn chưa vượt qua được khu vực sa mạc Gobi rộng 800 dặm.

Lúc này người mệt nhọc, ngựa ngã vật, và do khát nước quá nên ông đã hôn mê đi. Bỗng nhiên cơn gió lạnh khiến Huyền Trang tỉnh dậy, và lại tiếp tục tiến lên. Thật may mắn là kỳ tích xuất hiện, ở giữa sa mạc hoang vu xuất hiện một ốc đảo xanh. Huyền Trang nghe thấy tiếng nước suối như gặp được cứu tinh, sinh mệnh được kéo dài. Lịch trình gian khổ trên sa mạc rất khó mà dùng lời lẽ, câu chữ diễn tả nổi. Chỉ dẫn một câu trong "Tây Vực ký" - tác phẩm chép theo lời kể của Huyền Trang, rằng: "Trên trời không có chim bay, dưới đất không có thú chạy, cây cỏ không mọc, tuyệt không dấu tích con người. lúc thì cát sụt đá lăn, lúc thì mưa lớn hơi nước ngùn ngùn, lúc thì không ăn không uống, ngất đi sống lại. Lúc thì thấy xương khô kiếm gãy, di tích chiến trường xưa. Lúc thì những hình ảnh ma quỷ hung ác kinh sợ..." Qua đó cũng đủ thấy chuyến đi trong sa mạc này là thập tử nhất sinh rồi.

Huyền Trang vượt qua sa mạc Gobi thì đến nước Cao Xương. Quốc vương Khúc Văn Thái là tín đồ Phật giáo thuần thành, biết được việc của Huyền Trang, ông liền sai sứ giả nghênh đón. Gặp Huyền Trang, quốc vương như gặp được chí bảo, cung kính hành lễ, nhận Huyền Trang làm huynh đệ khác họ. Quốc vương còn cố gắng giữ Huyền Trang ở lại Cao Xương, còn dùng lời "nếu không muốn ở lại thì quyết sẽ đưa trở lại Trung Quốc" để uy hiếp Huyền Trang. Huyền Trang vẫn tuyệt thực kháng nghị, kiên quyết không muốn ở lại. Cuối cùng đã khiến quốc vương cảm động, đồng ý thả ông đi. Đồng thời còn sai 2, 3 chục người hộ tống, chuẩn bị hành trang và ban thưởng cho Huyền Trang rất nhiều ngựa và của cải quý báu. 

Lòng kiên định của Huyền Trang đã khiến quốc vương cảm động, đồng ý thả ông đi, còn sai hàng chục người hộ tống, chuẩn bị hành trang và ban thưởng cho ông rất nhiều ngựa và của cải.
Lòng kiên định của Huyền Trang đã khiến quốc vương cảm động, đồng ý thả ông đi, còn sai hàng chục người hộ tống, chuẩn bị hành trang và ban thưởng cho ông rất nhiều ngựa và của cải. (Ảnh: ntdtv.com)

Quốc vương đích thân viết thư đến các nước trên đường, thông báo xin cho phép xuất cảnh và biệt đãi Huyền Trang. Thế là Huyền Trang men theo dãy Thiên Sơn Nam Lộc đi về phía Tây, đi qua cao nguyên Tây Vực thần bí, trải qua Afghanistan, đến nước Ca Thấp Di La (Kasmira ngày nay) ở Tây Bắc Ấn Độ.

Sau đó, Huyền Trang lại phải vượt qua những dãy núi cao quanh năm tuyết phủ trắng xóa, vượt qua đại sa mạc không một bóng người, dắt ngựa đi trên núi mùa đông giá lạnh, đi xuyên qua những con đường mòn khúc khuỷu trên vách núi, chỉ bất cẩn một chút là ngã rơi xuống vực sâu ngàn trượng bên dưới, thịt nát xương tan. Thương nhân đồng hành, chốc chốc có người chết lạnh trên núi tuyết, hoặc nát xương dưới vực sâu, hoặc chôn mình trong hố tuyết. Trong bản du ký "Tây Vực ký", Huyền Trang viết: "Ngay cả bản thân tôi cũng không dám nhìn xuống đáy vực, bởi vì bên dưới có những thi thể chết cứng hàng nghìn năm không tan nát, nhiều không đếm xuể". Trong lịch trình gian nan này, cái gọi là hiểm cảnh thực sự kể ra không hết. Trải qua hành trình 7 ngày 7 đêm, cuối cùng vượt qua đỉnh Tuyết Sơn băng giá, rồi lại tiếp tục tiến lên, là đến địa giới Ấn Độ. 

Trải qua hành trình 7 ngày 7 đêm, cuối cùng vượt qua đỉnh Tuyết Sơn băng giá, rồi lại tiếp tục tiến lên, là đến địa giới Ấn Độ. 
Trải qua hành trình 7 ngày 7 đêm, cuối cùng vượt qua đỉnh Tuyết Sơn băng giá, rồi lại tiếp tục tiến lên, là đến địa giới Ấn Độ. (Ảnh: baike.baidu.com)

3. Bồ Tát điểm hóa, cao tăng truyền thụ

Huyền Trang trải qua hai năm vào sinh ra tử, trên đường đi Tây Trúc. Đi qua 110 quốc gia, cuối cùng vào năm Trinh Quán thứ 3 đã đến Tây Bắc Ấn Độ, tiến vào nước Ca Thấp Di La, Kiền Đà La... Ông liền nghiên cứu các kinh điển tiểu thừa từ các luận sư tiểu thừa. Để nắm bắt tốt hơn lý luận Phật giáo, Huyền Trang còn nghiên cứu triết học Vệ Đà từ các học giả Bà La Môn giáo, chuyên tâm học tập chữ Phạn, để nghiên cứu kinh điển chữ Phạn. Ở nơi này, ông đã sống 2, 3 năm, sau đó từ Bắc Ấn Độ men theo sông đi về phía Đông xuống miền Trung Ấn Độ.

Huyền Trang trải qua hai năm vào sinh ra tử, đi qua 110 quốc gia, cuối cùng vào năm Trinh Quán thứ 3 đã đến Tây Bắc Ấn Độ, tiến vào nước Ca Thấp Di La, Kiền Đà La...
Huyền Trang trải qua hai năm vào sinh ra tử, đi qua 110 quốc gia, cuối cùng vào năm Trinh Quán thứ 3 đã đến Tây Bắc Ấn Độ, tiến vào nước Ca Thấp Di La, Kiền Đà La... (Ảnh: baike.baidu.com)

Khi đi thuyền qua sông Hằng, ông gặp một toán cướp. Bọn cướp thấy ông mặt mũi khôi ngô tuấn tú, nghi biểu phi phàm thì muốn giết ông để tế Thiên Thần, cho rằng là kính Trời để được ban phúc. Trong lúc nguy cấp, bỗng một trận cuồng phong nổi lên, sấm sét vang rền, cát đá bay mù mịt, trời đất tối sầm, lũ cướp sợ hãi quá mặt cắt không ra máu. Chúng cho rằng đã xúc phạm cao tăng khiến Trời nổi giận, nên không dám ra tay. 

Sau đó chúng hỏi ra mới biết là Tam Tạng nước Đại Đường đến Tây Thiên lấy kinh, thế là chúng liền quỳ xuống van xin sám hối, cải tà quy chính. Tin tức này không cánh mà bay, khiến danh tiếng của Huyền Trang truyền khắp chốn xa gần, ông được người Ấn Độ rất sùng kính.

Chùa Na Lạn Đà là ngôi chùa Phật nổi tiếng ở miền Trung Ấn Độ, cũng là học phủ Phật giáo tối cao Ấn Độ, có 1.3 triệu người cư trú, đương thời những cao tăng học giả nổi tiếng tới đây rất nhiều. Khi Huyền Trang vào chùa, bốn đại đức chùa Na Lạn Đà ra nghênh đón, hơn 200 tăng nhân và hơn 1000 thí chủ tay cầm lọng và hương, tán thán vây quanh nghênh đón. Huyền Trang bái Giới Hiền làm thầy. Luận sư trụ trì Giới Hiền đã trên trăm tuổi, là lãnh tụ của Phật giáo toàn Ấn Độ, đặc biệt là sao Thái đẩu của Duy thức học, được quốc vương rất tôn trọng. Ông tuy trí tuệ cao thâm nhưng vì thân mắc chứng bệnh kỳ lạ, lúc nào cũng đau đớn muốn sống không được mà cầu chết cũng chẳng xong.

Khi Huyền Trang vào chùa, bốn đại đức chùa Na Lạn Đà ra nghênh đón, hơn 200 tăng nhân và hơn 1000 thí chủ tay cầm lọng và hương, tán thán vây quanh nghênh đón.
Khi Huyền Trang vào chùa, bốn đại đức chùa Na Lạn Đà ra nghênh đón, hơn 200 tăng nhân và hơn 1000 thí chủ tay cầm lọng và hương, tán thán vây quanh nghênh đón. (Ảnh: ntdtv.com)

Một đêm, bỗng Giới Hiền mộng thấy 3 vị Thánh giả, một vị là Văn Thù Bồ Tát màu vàng kim, một vị là Quán Âm Bồ Tát màu trắng bạc, còn một vị là Phổ Hiền Bồ Tát màu thủy tinh. Phổ Hiền Bồ Tát nói với ông rằng: "Đời trước con đã làm quốc vương ở nơi này, vì sát thương quá nhiều sinh linh, đời này chịu quả báo bệnh tật đau đớn này. Tuy là đau khổ khó chịu nhưng chớ tìm cái chết. Ba năm sau, sẽ có một tăng nhân Trung Quốc đến Ấn Độ cầu Pháp, con hãy dốc sức truyền thụ Duy thức học cho ông ta, để đại Pháp được lưu truyền ở Trung Thổ. Nghiệp đó sẽ được tiêu trừ, bệnh tật cũng lập tức hết". 

Sau giấc mộng đó, luận sư Giới Hiền vô cùng mong đợi Đường Tăng đến. Sau này quả nhiên Huyền Trang đến chùa Na Lạn Đà cầu Pháp, chứng minh sự việc trong mộng là có thực. Giới Hiền vô cùng vui mừng, bèn đem sở học cả đời mình truyền thụ cho Huyền Trang, rồi lại để ông ra ngoài tham phỏng minh sư mấy năm.

Giới Hiền vô cùng vui mừng, bèn đem sở học cả đời mình truyền thụ cho Huyền Trang, rồi lại để ông ra ngoài tham phỏng minh sư mấy năm.
Giới Hiền vô cùng vui mừng, bèn đem sở học cả đời mình truyền thụ cho Huyền Trang, rồi lại để ông ra ngoài tham phỏng minh sư mấy năm. (Ảnh: Epoch Times)

Pháp sư Huyền Trang đi các nơi ở Ấn Độ du học, lần lượt tham phỏng kéo dài 17 năm. Đặc biệt là ở chùa Na Lạn Đà, nơi các học giả đương thời tề tựu đông đảo, Huyền Trang đã học tập 5 năm, vì vậy ông rất muốn về nước hoằng dương những sở đắc. Thế là tháng Giêng năm Trinh Quán thứ 19 (năm 645), trải qua bôn ba đường trường, cuối cùng Huyền Trang cũng đã trở về Trường An. Trong thành Trường An, văn võ bá quan ra đầy đường nghênh đón, vạn người reo vui,  chúc mừng, cảnh tượng hoành tráng chưa từng có.

Huyền Trang trở về Trường An, bên trong thành, văn võ bá quan ra đầy đường nghênh đón, vạn người reo vui,  chúc mừng, cảnh tượng hoành tráng chưa từng có.
Huyền Trang trở về Trường An, bên trong thành, văn võ bá quan ra đầy đường nghênh đón, vạn người reo vui,  chúc mừng, cảnh tượng hoành tráng chưa từng có. (Ảnh: Epoch Times)

Trải nghiệm phi phàm trong chuyến đi Tây Trúc của Huyền Trang khiến Đường Thái Tông rất coi trọng. Thái Tông hội kiến Huyền Trang ở Lạc Dương, yêu cầu ông viết những điều tai nghe mắt thấy và trải qua, viết Tây Vực truyện, để người đời sau tham khảo học tập. Bộ sách này chính là "Đại Đường Tam Tạng Tây Vực ký" mà hiện nay còn lưu truyền. Cả bộ sách gồm 12 quyển, đã ghi chép những điều mà Huyền Trang đích thân tai nghe mắt thấy trên đường đi qua 110 quốc gia và 28 vùng lãnh thổ khác mà ông được trải nghiệm, gồm tình hình phong tục tập quán các khu vực, địa lý núi sông, khí hậu sản vật, văn hóa chính trị... bộ sách đã trở thành tư liệu lịch sử trân quý.

Bắt đầu từ năm Trinh Quán thứ 19 (năm 645), Huyền Trang chủ trì dịch kinh. Trong 19 năm đến năm 663, tổng cộng đã dịch được hơn 1000 cuốn kinh các loại. Đồng thời ông còn dịch trước tác triết học cổ đại Trung Quốc "Lão Tử Đạo đức kinh" sang tiếng Phạn, truyền bá sang Ấn Độ. Sau khi hoàn thành dịch kinh được hai năm - tức vào tháng 2 năm 664, Huyền Trang viên tịch ở chùa Ngọc Hoa, Đồng Xuyên, di thể được chuyển đến an táng ở Trường An theo Thánh chỉ. Ngày an táng Pháp sư Huyền Trang, trong gần 500 dặm khu vực phụ cận kinh thành, hàng triệu người đưa tiễn, ban đêm, người ngủ túc trực bên mộ Huyền Trang lên đến hơn 3 vạn người.

Tường Hòa
Theo Secret China



BÀI CHỌN LỌC

Chuyện Phật gia: Huyền sử Đường Tăng