'Bói chữ': Khi nào chính quyền Trung Quốc diệt vong?

Giúp NTDVN sửa lỗi

Người xưa thường dùng phép "chiết tự", hay nói nôm na là "bói chữ", "đoán chữ", từ kết cấu các bộ thủ chữ Hán mà luận ra vận mệnh của cá nhân, gia tộc, tổ chức, quốc gia...

Chữ Hán có nội hàm bác đại tinh thâm, mỗi chữ đều có hàm nghĩa sâu xa. Từ khi Thương Hiệt sáng tạo ra chữ, cùng với sự thay đổi các triều đại, hình dạng chữ viết cũng đã phát triển, và ý nghĩa sử dụng của các chữ cũng trở nên phong phú hơn, nhưng bản chất vẫn được giữ. Tuy nhiên, khi Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đơn giản hóa chữ Hán, thì đã đảo lộn rất nhiều hàm nghĩa ban đầu của chữ Hán. Sự thay đổi này có mối quan hệ không thể tách rời với các tiêu chuẩn đạo đức của xã hội, tư tưởng biến dị của con người, cùng các nhân tố khác. Trong cõi vô hình đó cũng có Thiên ý, và sự xuất hiện của chữ giản thể cũng phản ánh số phận của chính ĐCSTQ.

Tiếng Trung giản thể “Cộng sản đảng” ẩn chứa số mệnh

Khi ĐCSTQ thiết lập chữ giản thể, nó đã trực tiếp làm bại hoại chữ Hán, và tăng thêm nhiều hàm nghĩa phụ diện. Ví dụ, mọi người đều biết: "Chữ Thân 親 (người thân) bị giản hóa bỏ mất chữ Kiến 見 (gặp mặt) thành Thân 亲; chữ Ái 愛 (yêu) giản hóa bỏ chữ Tâm 心 (tâm, tim) thành Ái 爱; chữ Sản 產 (sản xuất, sinh sản) giản hóa bỏ chữ Sinh 生(sinh) thành Sản 产; chữ Xưởng 廠 (xưởng, nhà máy) giản hóa bỏ trống không thành Xưởng 厂; chữ Vận 運 (vận chuyển) bị giản hóa bỏ chữ Xa 車 (xe) thành Vận 运; chữ Đạo 導 (dẫn đường) bị giản hóa bỏ chữ Đạo 道 (đạo, con đường) thành Đạo 导...”.

Chữ giản thể của ĐCSTQ phản ánh số phận của chính ĐCSTQ như thế nào? Bài viết này xin được thử phân tích về ba chữ "Cộng sản đảng" như sau.

Trong cõi vô hình đó cũng có Thiên ý, và sự xuất hiện của chữ giản thể cũng phản ánh số phận của chính ĐCSTQ.
Trong cõi vô hình đó cũng có Thiên ý, và sự xuất hiện của chữ giản thể cũng phản ánh số phận của chính ĐCSTQ. (Pixabay)

Đầu tiên, chúng ta hãy nhìn vào từ “共” (cộng). Chữ 共 mà chúng ta thấy bây giờ là chữ viết thông tục được dùng trong thẻ tre trúc thời Hán, không phải chữ do ĐCSTQ giản lược. Khi tách chữ "共" ra, nó chính là "Chấp Nhất Bát 卄 一 八" hoặc "Chấp Nhất Bát  廿一八" (Chấp 卄 và  Chấp 廿 giống nhau, cả hai đều chỉ "20"). Do đó, chữ Cộng “共” có nghĩa là 21 và 8.

Nhìn tiếp sang chữ Sản “产” (sản). Trước khi ĐCSTQ đơn giản hóa từ này, nó được viết là Sản “產”, ý là Dinh "生” (sinh), ý phụ nữ sinh con. Chữ Sản “产”bị giản hóa đi, ĐCSTQ loại bỏ  chữ Sinh "生” (sinh) và có nghĩa là "khi sinh ra là chết", cũng có thể nói rằng thời điểm sinh ra và thời điểm chết là như nhau. Sản “产”(sản)  còn có nghĩa là “hủy diệt”, bởi vì “产” - sinh ra thứ không nên “sống” (trên đời).

Chữ cổ của từ Đảng “党” (đảng) là Đảng “黨”, Trong “Thuyết Văn” viết: “Đảng là không tươi mới. Theo nghĩa Hắc “黑” (đen tối) âm theo chữ Thượng”. Chữ Đảng 黨 gồm chữ Thượng 尚 (ưu chuộng) và chữ Hắc  “黑” (đen tối), nghĩa là: Đảng ưa chuộng chuyện hắc ám, làm điều mờ ám, đen tối, bí mật.

Dòng thứ 395 của “Mã Vương Đối bạch thư - Lão Tử giáp bản quyển hậu cổ dật thư” viết: “Lập đảng bên dưới, phân quyền với chủ”. Nghĩa là bề tôi lập bè kết đảng phân chia quyền lực của quân vương. Vì vậy, “黨” mang ý nghĩa kết bè lập đảng nhằm mục đích tư lợi, nên người xưa cho rằng “kẻ quân tử không kết bè lập đảng”.

Thời cổ đại cũng có từ "đảng" "党", nhưng nó đặc biệt dùng để chỉ nhánh "đảng hạng" của dân tộc Khương, chủ yếu sống ở Tây Hạ thời cổ đại, vì vậy từ "đảng""党" có hàm ý là "ngoại tộc tây phương". Khi ĐCSTQ giản thể chữ Hán, nghĩ rằng ý nghĩa Đảng “黨” nghe không tốt, vì vậy mượn từ Đảng "党" trong “党项” thay cho Đảng “黨”. Nhưng nó chính là ứng với ẩn ý “ngoại tộc tây phương”, mà ĐCSTQ bắt nguồn từ Marx và Lênin du nhập vào.

ĐCSTQ bắt nguồn từ Marx và Lênin du nhập vào.
ĐCSTQ bắt nguồn từ Marx và Lênin du nhập vào. (Getty)

Từ "党" được tách thành 2 chữ Thượng 尚 (ưa chuộng, mong muốn) và Nhi 儿 (trẻ con, người). Theo "Thuyết văn", Thượng "尚" có nghĩa là mang ý  hy vọng, và cũng có nghĩa là sự chồng chất và tích lũy tăng lên. Chữ Nhi "儿" ở dưới từ Đảng “党”vốn là chữ “人” (người) không đầu, cũng có thể được coi là chữ “兒”(trẻ con) không có đầu. Vậy thì từ "党" hàm ý tụ tập những người không có đầu não để thành đảng", tức là từ "党” (đảng) có hàm ý là "lừa dối và xúi giục những người không có đầu não tham gia vào đảng, cũng như một đám đông tay sai. Vừa đúng đây là mô tả chân thực việc ĐCSTQ lôi kéo người gia nhập vào nó.

Cũng vì chuyển từ chữ Đảng "黨" thành chữ Đảng giản thể "党" là để che đậy âm mưu đen tối, nên Đảng "党" vẫn có nghĩa là "kết bè lập đảng vì tư lợi". So với Đảng "黨", chữ Đảng giản thể “党” còn tồi tệ hơn nhiều.

Tựu chung lại, từ giản thể "Cộng sản đảng" có nghĩa là "tà linh của phương Tây, tà ác của ĐCSTQ, được sinh ra vào tháng 8 năm 21 (1921) và bị tiêu diệt vào tháng 8 năm 21 (2021)".

Trung Quốc Cộng sản đảng vong (hình in trên vé vào thăm thắng cảnh "Tàng Tự Thạch" ở thị trấn Chưởng Bố, huyện Bình Đường, tỉnh Quý Châu)
Trung Quốc Cộng sản đảng vong (hình in trên vé vào thăm thắng cảnh "Tàng Tự Thạch" ở thị trấn Chưởng Bố, huyện Bình Đường, tỉnh Quý Châu)

Hãy xem sự "trùng hợp" về ngày thành lập ĐCSTQ:

Ngày thành lập của ĐCSTQ thực tế không phải là ngày 1 tháng 7 năm 1921 mà là ngày 1 hoặc 2 tháng 8 năm 1921. Bản thân ĐCSTQ sau khi kiểm tra đã phát hiện ra rằng cuộc họp đầu tiên của họ bắt đầu vào ngày 23 tháng 7 năm 1921 và ngày bế mạc tình cờ đúng vào ngày thành lập là ngày 1 hoặc 2 tháng 8. Bạn đọc có thể tham khảo để kiểm chứng.

Trong lịch sử, không có sự việc gì là ngẫu nhiên. Người phương Đông nói về Thiên ý và số phận, phương Tây cũng có cách nói này. Ví dụ, trong “Phúc âm Luca” 12:7, nói rằng ngay cả mái tóc cũng có số. Vậy vận mệnh sụp đổ của ĐCSTQ ẩn giấu ở đâu?

"Tập Cận Bình" - 3 chữ ẩn chứa số mệnh của cộng sản đảng

Chỉ cần nhìn vào tên của ông Tập Cận Bình, nhà lãnh đạo cuối cùng của ĐCSTQ.

Nếu coi 5.000 năm văn minh như một màn kịch lớn thì ông Tập cũng phải đóng một vai trò quan trọng trong đó. Tên của ông đồng âm với "Hí Cận Bình" (chữ Tập đồng âm với chữ Hí (kịch) trong tiếng Trung). Vì vậy, sự xuất hiện của ông ấy dự báo rằng màn kịch lớn sắp kết thúc. Làm thế nào biết khi nào nó kết thúc? Chữ "平" (Bình) được tách thành "干 (tách ra thành Nhị Thập Nhất 二、十 và 一, tức số 2, 10 và 1)" và  chữ Bát 八 ngược  (số 8 ngược), nghĩa là "21 và 8". Điều này phù hợp với nội hàm của 3 chữ "Đảng Cộng sản" đã nói ở trên. Sự sụp đổ của ĐCSTQ thực sự có thể là vào tháng 8 năm 2021.

Vì vậy, có vẻ như đại dịch lây lan từ Vũ Hán vào năm 2020 và bùng phát dữ dội một lần nữa vào năm 2021 nhất định nhắm vào ĐCSTQ và những người đi theo nó. Nếu đại dịch đào thải tất cả những người đi theo ĐCSTQ, thì ĐCSTQ có còn tồn tại được không?



BÀI CHỌN LỌC

'Bói chữ': Khi nào chính quyền Trung Quốc diệt vong?