Bí mật toán mệnh (P-10): Có người vốn tin vận mệnh, sau lại không tin là vì sao?

Bình luận Tường Hòa • 19:30, 25/06/20

Bạn tin vận mệnh, nhưng vận mệnh lại trêu đùa bạn; Bạn dốc sức cầu tài, nhưng cuối cùng kết quả phá gia bại sản. Thế là có người từ đó không còn tin vào vận mệnh nữa.

Có những người tin vào vận mệnh, và hy vọng thông qua toán mệnh để chỉ đạo mình phát tài. Việc này cũng không có gì sai trái cả, cầu tài là lẽ thường tình của con người, ai chẳng muốn dựa vào toán mệnh để phát tài, tránh hao tài, tránh vận hạn. Nhưng rất nhiều lúc sự tình lại trái với mong đợi: Bạn tin vận mệnh, nhưng vận mệnh lại trêu đùa bạn; Bạn dốc sức cầu tài, nhưng cuối cùng kết quả phá gia bại sản. Thế là có người từ đó thề là không bao giờ tin vào vận mệnh nữa.

Vậy vấn đề này rốt cuộc là thế nào? Có phải vận mệnh là Thiên định không? Tại sao tin vào vận mệnh mà lại bị vận mệnh lừa? Một nguyên nhân thường thấy nhất trong đó là: Thầy toán mệnh tính sai mệnh. Không phải vận mệnh lừa bạn mà là thầy toán mệnh lừa bạn. Đương nhiên không hẳn là thầy toán mệnh đó rắp tâm lừa bạn, ông ấy cũng cố gắng tính đúng cho người ta để còn có danh tiếng, phát tài. Nhưng mệnh lý thì dễ học mà khó tinh thông, thầy toán mệnh cũng là người thường, không phải sứ giả do Thượng Thiên phái xuống, do đó ông ấy toán mệnh cho người ta thì khó tránh khỏi sai sót, mà bạn chính là người bị tính sai đó (cho dù tỷ lệ rất nhỏ vẫn có sai sót). Kết quả là sự việc trái với mong đợi, bởi vì vận phá tài lại tính thành vận phát tài. Mà bạn lại hoàn toàn tin tưởng thầy toán mệnh, dốc toàn bộ gia sản để 'phát tài' lớn, thế thì không thân bại danh liệt mới là lạ.

Kết quả là sự việc trái với mong đợi, bởi vì vận phá tài lại tính thành vận phát tài.
Kết quả là sự việc trái với mong đợi, bởi vì vận phá tài lại tính thành vận phát tài. (Ảnh: Shuttersrock)

Nói về toán mệnh theo giờ sinh thì mọi người đều biết là thiên can ngày sinh đại biểu cho bản thân, sau đó so sánh thiên can, địa chi của giờ, ngày, tháng, năm sinh, thông qua phân tích lý tương sinh tương khắc; ngũ hành kim mộc thủy hỏa thổ của chúng, và quan hệ sinh khắc, chế hóa, hình xung của thiên can địa chi, từ đó rút ra được ngũ hành có lợi cho bản thân (ngũ hành thiên can của ngày sinh), đây chính là Hỷ dụng Thần của mệnh này, còn phía đối lập với Hỷ dụng Thần thì chính là Kỵ Thần. Sau đó căn cứ thẻ Hỷ dụng Thần và Kỵ Thần mà phán đoán hung cát.

Ví dụ tính ra một mệnh hỷ Mộc, Hỏa, sau này gặp đại vận có Mộc có Hỏa, hoặc lưu niên có lợi thì những mưu cầu có thể thành công (trong mệnh chú định sự việc trong phạm vi đáng có thì có thể thành công). Phía đối lập với Mộc Hỏa là Kim Thủy (Kim khắc Mộc, Thủy khắc Hỏa), gặp đại vận Kim Thủy hoặc lưu niên bất lợi thì sẽ bị phá tài, trở ngại, thị phi, phiền não, tổn thương, bệnh tật, bị phản bội…

Nhưng nếu thầy toán mệnh tính nhầm Dụng Thần, vốn là mệnh hỷ Mộc Hỏa, kỵ Kim Thủy, nhưng thầy toán mệnh đã phân tích sai mức độ mạnh yếu, nóng lạnh của nhật chủ, lại cho rằng là hỷ Kim Thủy, kỵ Mộc Hỏa, cho rằng vào đại vận hoặc lưu niên có Kim có Thủy là có lợi. Người này tin theo lời thầy, vào đại vận hoặc lưu niên có Kim có Thủy dốc vốn đầu tư lớn, kết quả thực tế là đã đầu tư lớn vào đại vận hoặc lưu niên kỵ Thần, có nghĩa là đã dốc tiền tài ném xuống cái hố không đáy rồi. Sau khi tất cả đều bị phá sản rồi thì chẳng trách người này vốn tin vận mệnh đã trở thành người hoàn toàn không tin vận mệnh. Lấy ví dụ dưới đây để nói rõ thêm.

Giờ Nhật chủ Tháng Năm Mệnh nam
Mậu Thổ Bính Hỏa Đinh Hỏa Đinh Hỏa Can
Tý Thủy Thân Kim Mùi Thổ Hợi Thủy Chi

Người này có nhật can của ngày sinh là Bính Hỏa, do đó thuộc mệnh Bính Hỏa. Sinh vào tháng cuối cùng của mùa hè, tháng 6 (âm), thuộc tháng Mùi táo Thổ. Mùi lại là dư khí của Hỏa, do đó vừa sinh ra đã là Hoa viêm Thổ táo.

Trong sách mệnh có viết: Mệnh Bính Hỏa sinh tháng 6, Hỏa viêm Thổ táo, trước Đại thử thì suy cùng lý với tháng 5. Mệnh này sinh 8 ngày trước tiết Đại thử, Kim Thủy chưa tiến khí, thế là coi như người sinh ở tháng 5 để tính. Tháng 5 (Ngọ), Hỏa khí làm chủ, viêm uy không gì cản nổi. Người không hiểu mệnh lý cũng có thể tưởng tượng là bạn đang ở giữa mùa hè, đi trên mặt đất mặt trời chói chang trên đầu, thì sẽ có cảm giác gì? Lúc này bạn cần gì nhất? Chẳng phải tốt nhất là ngồi dưới bóng cây nghỉ mát một chút, uống cốc nước đá, hoặc ra biển ngụp lặn dưới làn nước mát. Do đó về tiên thiên là hỷ Kim Thủy để điều hòa, thanh nhiệt, giải tỏa nóng nực.

Nhưng lại xem 7 chữ còn lại, thiên can lại xuất hiện Bính, Đinh Hỏa, cộng thêm nhật can Bính Hỏa, tức 3 hàng Hỏa, tương đương với giữa mùa hè lại xuất hiện 2 mặt trời (hai Bính Hỏa) và một ngọn đuốc lớn (một Đinh Hỏa) cùng chiếu, càng nóng nực vô cùng, chỉ mong có Hậu Nghệ bắn hạ một mặt trời xuống. Do đó cho rằng mệnh này hỷ Kim, Thủy, thấp Thổ là dụng Thần, kỵ Mộc, Hỏa.

Hãy xem nhật chủ Bính Hỏa tự ngồi Thân Kim lệch tài vị, thời chi là Tý Thủy và niên chi là Hợi Thủy. Kim sinh Thủy vi dụng, Mậu Thổ thực Thần dẫn thống khí Hỏa Kim, trở nên thân mạnh (Hỏa vượng), còn Hỏa sinh Thổ (phát huy tài năng), Thổ sinh Kim (kiếm được tiền tài), Kim sinh Thủy (đem về chức vị), thế là cho rằng đây là mệnh có đủ danh và lợi.

Thế là khuyên người ấy ở đại vận và lưu niên Kim, Thủy sẽ có lợi. Năm người đó 43 tuổi là đại vận Nhâm Thủy, thích hợp Nhâm Thủy, Giáp Kim trong đó và lưu niên Quý Thủy, Dậu Kim, đại vận và lưu niên đều là Kim, Thủy, thế là đi khắp nơi huy động tiền, thế chấp nhà cửa, tài sản, muốn đặt hết vào canh bạc này. Không biết có phải là cái tâm cầu tài khẩn thiết, nóng vội thành công hay không mà kết quả bị mắc lừa, bị người ta lừa một vố lớn, tất cả tiền tài đầu tư đều trôi theo dòng nước, không còn lại thứ gì, phải thuê chung cư ở. Thế là người này thề rằng, không tin vận mệnh nữa, không tin toán mệnh nữa.

Không biết có phải là cái tâm cầu tài khẩn thiết, nóng vội thành công hay không mà kết quả bị mắc lừa, bị người ta lừa một vố lớn, tất cả tiền tài đầu tư đều trôi theo dòng nước, không còn lại thứ gì,
Không biết có phải là cái tâm cầu tài khẩn thiết, nóng vội thành công hay không mà kết quả bị mắc lừa, bị người ta lừa một vố lớn, tất cả tiền tài đầu tư đều trôi theo dòng nước, không còn lại thứ gì. (Ảnh: Pixels.com)

Có thể có bạn đọc hiểu mệnh lý sẽ nói, đại vận Nhâm Thủy ở thiên can, tọa ở Dần Mộc, chỉ có 3 phần sức Thủy, sức mạnh không đủ, do đó mới đầu tư thất bại. 

Sau này người đó đến năm 53 tuổi làm vận tải thủy ở miền Bắc, thân thể xuất hiện tình trạng bất lợi, mắc bệnh vô phương cứu chữa, thân thể càng ngày càng suy yếu. Đến vận Canh Kim, Tý Thủy, Kim Thủy đều đến, thân thể suy yếu đến mức suýt biến thành người tàn tật, còn tiền tài, sự nghiệp càng không khởi sắc, phải dựa vào tiền trợ cấp cứu tế chữa bệnh của nhà nước. Có thể thấy đại vận Kim Hỏa bất lợi đối với ông ấy. Tại sao lại như vậy?

Xem xét lại giờ sinh của người này

Bính Hỏa sinh tháng 6, Hỏa viêm Thổ táo, tuy là sinh trước tiết Đại thử, suy lý giống tháng 5, nhưng rốt cuộc Mùi trung Thổ là bản khí, Hỏa là dư khí, khác với người sinh đúng tháng 5 là ở đất Ngọ Hỏa đế vượng. Bính Hỏa gặp Thổ thì có ý Hỏa tối, Hỏa khí dần trầm lắng, do đó không thể nói là thân mạnh được. Tra bảng lịch trình 10 thiên can sinh vượng tử tuyệt, Bính Hóa gặp Mùi Thổ là suy vị, chỉ vật cực tất phản, dường như người này bắt đầu xuống dốc.

Lại xem thiên can 3 hàng Hỏa (1 Bính Hỏa, 2 Đinh Hỏa), dường như Hỏa thế lớn mạnh, thực ra do địa chi không có cái gốc rễ mạnh là Mộc, Hỏa (không thấy Dần Mão Mộc, Tỵ Ngọ Hỏa), 3 hàng Hỏa này hết cỡ cũng chỉ ngang với dư khí của một Hỏa địa chi mà thôi. Sách "Uyên Hải Tử Bình bình chú" có viết: Thiên can có 1 tỉ khiên không bằng trong chi có một mộ khố. Có 2 tỉ khiên không bằng có 1 dư khí. Có 3 tỉ khiên không bằng có một trường sinh, lộc nhận. Vì vậy mệnh này chỉ là có 2 tỉ khiên (2 Đinh Hỏa) thôi.

Lại xem lực lượng đối lập với Mộc Hỏa là Kim, Thủy, Thổ, địa chi có 1 Thân Kim, là lâm quan Kim, gốc rễ mạnh của đế vượng. 2 Thủy (Hợi Thủy và Tí Thủy), cũng là lâm quan Thủy, gốc rễ mạnh của đế vượng. 3 gốc rễ Kim Thủy mạnh này (địa chi) đã đủ sánh với 1 Mùi Thổ (dư khí Hỏa). Có nghĩa là nhật chủ Bính Hỏa trong mệnh này "bất đắc địa" (địa chi không chiếm ưu thế).

Trong giờ sinh bát tự tổng cộng có 2 Thổ, 2 Thủy, 1 Kim, đối với 3 Hỏa, 5 đối với 3, nhật chủ Bính Hỏa về số lượng đã không chiếm ưu thế, do đó mới nói là "bất đắc địa".

Sinh tháng 6, trước Đại thử, suy lý như tháng 5, tức là tính là Bính Hỏa "đắc thời", nhưng lại "thất địa", "thất thế", do đó coi như thân nhược để xem xét. Bởi vì nhật chủ có "đắc thời, đắc địa, đắc thế" hay không, nếu trong 3 cái chiếm 2 thì thông thường có thể coi là thân mạnh mà luận. Chỉ chiếm 1 cái, còn đối phương chiếm 2 cái, thế thì coi là thân nhược mà luận.

Thông qua phân tích và luận thuật như trên, có thể thấy mệnh nhật chủ Bính Hỏa này vẫn thuộc thân nhược, đại vận và lưu niên hỷ Mộc, Hỏa; kỵ Kim, Thủy, Thổ. Đó chính là tại sao đầu tư vào năm Nhâm Thân, Quý Dậu - Kim Thủy trong đại vận Nhâm Thủy đã thất bại.

Tường Hòa

Theo Thái Nguyên - Epoch Times



Bài cùng chuyên đề