Bảy lần bắt bảy lần thả: Gia Cát Lượng lấy đức phục nhân, bình định Nam Trung

Giúp NTDVN sửa lỗi

Gia Cát Lượng bảy lần bắt bảy lần thả Mạnh Hoạch, trong lần thứ tư, Mạnh Hoạch cưỡi trên một con trâu đỏ thẫm, thống lĩnh Man binh hò hét xông về hướng doanh trại quân Thục, kết quả đã trúng kế của Gia Cát Lượng, toàn quân sập bẫy tan tác.

Trong Long Trung đối sách, Gia Cát Lượng đã vì Lưu Bị mà lập kế hoạch Bắc phạt Trung Nguyên, phục hưng nhà Hán. Sau khi Lưu Bị thác cô, Gia Cát Lượng tiếp tục phò tá hậu chúa Lưu Thiện lúc này mới 17 tuổi, ông đảm nhận chức Thừa tướng gánh vác trọng trách trong triều đình. 

Trong Tiền xuất sư biểu, Gia Cát Lượng viết: “Nay Bắc định Trung Nguyên, thần xin đem hết lòng khuyển mã, trừ sạch gian ác, phục hưng triều Hán, về lại cố đô.” 

Điều này cho thấy Gia Cát Lượng nhất mực “cúc cung tận tụy” báo đáp tiên đế Lưu Bị và trung thành tuyệt đối với Hậu chúa Lưu Thiện.

Tuy nhiên, Nam Trung ở hậu phương Thục quốc vẫn chưa bình định, chưa thần phục. Nam Trung trong thời Tam Quốc chủ yếu đề cập đến miền nam Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam và một số nơi khác. Có các dân tộc thiểu số sinh sống ở đây, vào thời nhà Hán, họ được gọi chung là Tây Nam Di.

Năm Chương Vũ thứ nhất (năm 212), Lưu Bị phong Lý Khôi làm Lai Hàng đô đốc, Sử trì tiết lãnh Giao Châu Thứ sử, đặt trụ sở tại huyện Bình Di (nay là thành phố Tất Tiết, tỉnh Quý Châu), cai quản sự vụ tại Nam Trung. “Lai Hàng” có nghĩa là chiêu mời và hàng phục.

Năm Kiến An thứ 19 (năm 214), khi Lưu Bị bình Thục, lập ra Lai Hàng đô đốc cai quản các quận ở Nam Trung, bổ nhiệm tướng quân An Viễn và Đặng Phương (người quận Nam) làm Thái thú quận Chu Đề và đô đốc Chu Hàng.

Đô đốc Lai Hàng cai trị huyện Nam Xương (nay là huyện Trấn Hùng, tỉnh Vân Nam), sau khi Thục Hán thành lập thì cải cách chính sách cai quản huyện Bình Di (nay là thành phố Tất Tiết, tỉnh Quý Châu).

Bảy lần bắt bảy lần thả: Gia Cát Lượng lấy đức phục nhân, bình định Nam Trung
Trong Tiền xuất sư biểu, Gia Cát Lượng viết: “Nay Bắc định Trung Nguyên, thần xin đem hết lòng khuyển mã, trừ sạch gian ác, phục hưng triều Hán, về lại cố đô.” (Ảnh: Wikipedia)

Các bộ tộc Di bạo loạn Nam Trung

Sau khi Lưu Bị qua đời, lãnh tụ tộc Tẩu là Cao Định dẫn đầu các bộ tộc lại lộng hành, đánh phá thành trì, và xưng vương ở Việt Tây. Quận thừa Tương Ca là Chu Bao chiếm quận làm phản. Cường hào ở Ích Châu là Ung Khải (hậu duệ Hợp hương hầu Ung Xỉ) cũng dấy binh nổi dậy ở Kiến Ninh, giết chết Thái thú, chiếm quận Ích Châu, và mưu đồ chiếm đoạt quận Vĩnh Xương. Ích Châu và Vĩnh Xương là hai quận quan trọng về kinh tế của nước Thục, và là nơi giao lưu văn hóa kinh tế mật thiết giữa người địa phương với người Hán. Một cường hào nữa ở Nam Trung là Mạnh Hoạch cũng làm phản.

Gia Cát Lượng phái Trương Duệ thay chức Thái thú, nhưng cũng bị Ung Khải bắt và đem nộp sang Đông Ngô. Tôn Quyền sai Thái thú Giao Chỉ là Sĩ Nhiếp phong Ung Khải làm Thái thú Vĩnh Xương. 

Gia Cát Lượng đã cử Đặng Chi đi sứ Đông Ngô, cắt đứt ngoại viện của Ung Khải, lại cử Thường Phòng đi khôi phục quyền cai trị Nam Trung. Thường Phòng tra khảo rồi giết quan chủ bạ quận Tang Ca, nói Chu Bao, khi ấy là Thái thú ở Tang Ca, có ý hưởng ứng Ung Khải. Thế là Chu Bao đã giết Thường Phòng, rồi vu cáo Thường Phòng mưu phản. 

Ung Khải liên minh với Cao Định, tấn công Vĩnh Xương. Lã Khải đóng cửa thành chống cự. Ung Khải không đánh được, thấy thế yếu dần, bèn liên hệ với Đầu mục ở quận Ích Châu là Mạnh Hoạch. 

Mạnh Hoạch là nhân vật có tiếng tăm và uy tín trong khu vực các dân tộc thiểu số thời ấy. Để triển khai thực hiện mưu đồ của Ung Khải, Mạnh Hoạch đã tung tin trong dân tộc thiểu số rằng nhà Thục Hán sẽ bắt họ cống nạp những thứ quý hiếm khó tìm. Do Mạnh Hoạch kích động người Di nên phong trào chống đối ngày càng mạnh mẽ, quân nổi dậy ngày càng đông và lan truyền khắp vùng Nam Trung.

Trước tình hình bạo loạn liên tiếp diễn ra ở Nam Trung như vậy, Gia Cát Lượng không thể không tiến hành Nam chinh, thanh trừ hậu hoạn, chuẩn bị ráo riết cho chiến dịch Bắc phạt, đồng thời khai thông nguồn tài nguyên quân sự.

Các bộ tộc Di bạo loạn Nam Trung
Gia Cát Lượng không thể không tiến hành Nam chinh, thanh trừ hậu hoạn. (Ảnh: Epoch Times)

Gia Cát Lượng lấy đức phục nhân, công tâm vi thượng

Trưởng sử Vương Liên đã khuyên can rằng: “Vùng đất ấy khô cằn, dịch bệnh lan tràn, tiêu điều xơ xác, đi là chuyện mạo hiểm.” Gia Cát Lượng xét thấy Nam Trung là việc trọng đại, người khác khó đảm nhiệm nổi, nên ông vẫn quyết định tự mình xuất chinh.

Vào tháng Ba năm Kiến Hưng thứ 3 (năm 225), khi Gia Cát Lượng xuất quân thì Tham quân Mã Tốc đến đưa tiễn. Gia Cát Lượng hỏi ông về kế sách thì Mã Tốc thưa rằng: “Địa thế vùng Nam Trung rất hiểm yếu, cách trở, từ lâu đã không phục tùng triều đình, cho dù bây giờ ta dùng vũ lực đánh bại họ thì khi đại quân rút đi, họ lại tiếp tục làm phản, cho nên đạo lý dùng binh nên là đánh vào lòng người mới là thượng sách còn đánh vào thành lũy là hạ sách, chiến tranh tâm lý là thượng sách, chiến tranh binh đao là hạ sách, mong rằng thừa tướng chớ dựa vào vũ lực quá nhiều, hãy nghĩ cách chinh phục lòng người là chính.” (Theo Tam Quốc Chí-Mã Tốc truyện ghi chép).

Điều này hoàn toàn trùng hợp với chính sách an ủi vỗ về, không thảo phạt, giải quyết bằng phương thức hòa bình của Gia Cát Lượng.

Gia Cát Lượng chia quân làm ba đường. Mã Trung đi về phía Đông theo đường mòn Tứ Xuyên dẫn quân đánh Chu Bao ở Tang Ca. Lý Khôi đánh Ích Châu. Cánh quân chủ lực phía Tây dưới sự chỉ huy của Gia Cát Lượng xuất phát từ An Thượng đi theo đường thủy tiến vào vùng nổi loạn Việt Tây.

Khi quân Hán vẫn còn trên đường thì Ung Khải đã bị thuộc hạ là Cao Định giết. Bên cạnh đó, Cao Định đã cho quân đào hào đắp lũy phòng thủ tại Hán Nguyên, Diêm Nguyên, Chiêu Giác và các nơi khác. Gia Cát Lượng cố ý chần chừ không tiến quân. Khi Cao Định tập trung quân từ các nơi về một chỗ, Gia Cát Lượng mới đánh một trận quyết định, tiêu diệt hết quân nổi loạn, giết chết Cao Định. 

Gia Cát Lượng lấy đức phục nhân, công tâm vi thượng
Gia Cát Lượng mới đánh một trận quyết định, tiêu diệt hết quân nổi loạn, giết chết Cao Định. (Ảnh: Pngtree.com)

Mạnh Hoạch thay thế Ung Khải trở thành thủ lĩnh quân nổi dậy, dẫn tàn dư của Ung Khải chạy về Ích Châu, kết hợp với các bộ lạc phía Nam vốn thù hận người Hán.

Trong lúc đó cánh quân phía Đông cũng đã đánh bại Chu Bao, giải quyết cơ bản cuộc bạo loạn ở hai phía Đông và Tây. Gia Cát Lượng chỉ huy cả ba cánh quân thừa thắng truy kích thẳng vào căn cứ của Mạnh Hoạch ở Ích Châu.

Vào tháng Năm, đạo quân của Gia Cát Lượng hành quân vượt qua vùng rừng núi hiểm trở không một dấu chân người, vượt qua sông Kim Sa hiểm trở đến gần được Ích Châu. 

Gia Cát Lượng nhận thấy uy tín và ảnh hưởng sâu rộng của Mạnh Hoạch ở vùng Nam Trung, cũng vì muốn giải quyết thật tốt mối quan hệ giữa các dân tộc thiểu số vùng này với triều đình Thục Hán nên ông quyết định đánh vào lòng người, coi đó là chiến thuật chủ đạo. Gia Cát Lượng hạ lệnh cho quân Thục khi đánh nhau với Mạnh Hoạch, chỉ được phép bắt sống, không được giết chết hoặc làm bị thương.

Lần này, Gia Cát Lượng không thực thi nghiêm khắc như trước, trái lại vận dụng một chính sách khoan dung “vô tiền khoáng hậu” trong lịch sử chiến tranh.



BÀI CHỌN LỌC

Bảy lần bắt bảy lần thả: Gia Cát Lượng lấy đức phục nhân, bình định Nam Trung