Ấu Học Quỳnh Lâm - Bài 4: Thần Tuyết là Đằng Lục

Giúp NTDVN sửa lỗi

Ngày xưa, trẻ em được học cuốn “Ấu Học Quỳnh Lâm” nên hiểu biết được rất nhiều về Thần thoại và tên các vị Thần. Thời nay, người lớn phải thông qua đọc rất nhiều sách, mới gặt hái được những tri thức quảng đại như thế.

(Xem lại Bài 1Bài 2; Bài 3;)

Nguyên văn chữ Hán

雲師係是豐隆,雪神乃為滕六。欻火、謝仙,俱掌雷火;飛廉、箕伯,悉是風神。列缺乃電之神,望舒是月之禦。甘霖、甘澍,俱指時雨;玄穹、彼蒼,悉稱上天。

Hán Việt

Vân Sư hệ thị Phong Long, Tuyết Thần nãi vi Đằng Lục. Hốt Hoả, Tạ Tiên, câu chưởng lôi hoả; Phi Liêm, Cơ Bá, tất thị Phong Thần. Liệt Khuyết nãi điện chi Thần, Vọng Thư thị nguyệt chi ngự. Can lâm, can chú, câu chỉ thời vũ; huyền khung, bỉ thương, tất xưng thượng thiên. 

Bính âm

Yún shī xì shì fēng lóng, xuě shén nǎi wèi téng liù. Xū huǒ, xiè xiān, jù zhǎng léi huǒ; fēi lián, jī bó, xī shì fēng shén. Liè quē nǎi diàn zhī shén, wàng shū shì yuè zhī yù. Gān lín, gān shù, jù zhǐ shí yǔ; xuán qióng, bǐ cāng, xī chēng shàng tiān

Giải thích từ ngữ

(1) 雲師  Vân Sư: Thần Mây.
(2) 滕六  Đằng Lục: Thần tuyết. Bởi vì bông tuyết chủ yếu là sáu cánh hoa, do đó có tên như thế.
(3) 欻火 Hốt Hoả: là tên của 1 vị Thần phụ trách sấm chớp và lửa. 欻 Hốt: rung lắc.
(4) 飛廉 Phi Liêm: là tên của con chim Thần. Vì nó có thể gọi gió, nên thế nhân còn dùng để gọi tên Thần Gió.
(5)  箕伯 Cơ Bá: Cơ, Cơ Tinh (sao Cơ, sao Ky), có thể tạo gió, vì vậy nó cũng được gọi là Thần Gió.
(6)  悉 Tất: đều, tất cả.
(7)  列缺  Liệt Khuyết: Vết nứt trên bầu trời. Sét đánh thủng trời, như muốn xé toạc ra, nên dùng từ này để gọi tên Thần Sét.
(8)  望舒  Vọng Thư: Trong thần thoại tương truyền rằng Vọng Thư là người đánh xe cho Thần Mặt Trăng (Nguyệt Thần). “Sở Từ - Ly Tao”: "Phía trước Vọng Thư đánh xe đi trước, phía sau Phi Liêm đi theo". Cả hai đều có nghĩa là chỉ mặt trăng.

Dịch nghĩa

Thế nhân gọi Thần Mây là Phong Long, Thần Tuyết là Đằng Lục. Hốt Hỏa và Tạ Tiên đều là những vị Thần phụ trách sấm sét, trong khi Phi Liêm và Cơ Bách là những vị Thần Gió. Liệt Khuyết là Thần Sét, Vọng Thư là Thần đánh xe trên cung trăng. Cam lâm và cam chú đều là chỉ cơn mưa đúng lúc. Huyền khung và bỉ thương đều là tên gọi chung cho trời.

Giải thích

Những câu chuyện Thần thoại thời cổ đại đều được ghi lưu lại là vì có thật, mục đích là để lưu lại cho người đời sau. Vì thế, phương Đông và phương Tây đều có lưu truyền lại rất nhiều câu chuyện Thần thoại.

Bài trước và bài này đều nói cho trẻ nhỏ hiện tượng về thiên văn học, hết thảy mọi thứ đều có Thần chi phối. Chúng ta đều cần phải ghi nhớ tên của các vị Thần, để sau này khi đọc sách mà gặp thuật ngữ tương tự thì dễ dàng minh bạch ý nghĩa trong tên của họ. Người ta thường nói, trên đầu 3 thước có Thần linh, trẻ em từ nhỏ đã khắc cốt câu này, chớ làm điều xấu để không thẹn với lòng. Hành vi của con người nhất định phải có ranh giới đạo đức.

Đối với các Thần gió, mưa, sấm và chớp, núi, sông và biển, chúng ta đều đã nghe qua. Tuy nhiên, bởi vì giáo dục văn hoá truyền thống bị tiêu mất, nên có rất nhiều vị Thần chúng ta đều không biết đến. Ví dụ, như Thần Tuyết, đã  cảm thấy không quen biết rồi. Ngày xưa, trẻ em được học cuốn “Ấu Học Quỳnh Lâm” nên hiểu biết được rất nhiều về Thần thoại và tên các vị Thần. Thời nay, người lớn chúng ta phải thông qua đọc lại sách này mới thu được những tri rộng lớn.

Ví dụ về “Đằng Lục", mọi người sẽ hỏi, tại sao Thần Tuyết lại được gọi là “Đằng Lục"? Thật ra, bông tuyết ban đầu được người xưa gọi là "lục xuất" (sáu cánh). "Hàn Thi Ngoại Truyện" có ghi chép: "Các loại hoa đa phần có 5 cánh, riêng hoa tuyết có sáu 6 cánh" (Nghệ Văn Loại Tụ Quyển 2 "Thiên hạ”). Do đó, 6 (lục) là mô tả về sự xuất hiện của 6 cánh hoa trong tuyết. Ngoài ra, 6 là con số cực âm, tuyết là bản chất của âm, và tuyết được đặt là 6, vô luận là hình thái hay quan niệm vũ trụ của cổ nhân đều là như thế. Không phải ngẫu nhiên mà nó có thuộc tính âm nên sinh ra trạng thái âm, hoa cỏ cây cối đa phần là do dương khí sinh ra, có 5 cánh, cũng phù hợp với số dương, hợp với lý tự nhiên.

Trước thời Đường, "lục xuất" thường được thấy trong các bài văn hát. Ví dụ, trong bài "Vịnh tuyết thi" của Trần Từ Lăng, có câu "Tam nông hỉ doanh xích, lục xuất vũ sùng hoa" (Nông dân khắp nơi tràn ngập niềm vui, bông tuyết nhảy múa khắp nơi tràn đầy hoa). Qua câu này cho thấy rằng, lục xuất là tên của hoa tuyết thời cổ đại, cũng như Thần Tuyết là có liên quan đến số 6.

Vậy tại sao Thần Tuyết có họ Đằng? Đằng vốn là một nước chư hầu nhỏ ở phương Đông vào thời nhà Chu, vua Đằng Văn Công rất nổi tiếng thời bấy giờ, trong chương "Mạnh Tử", có mô tả nhiều sự tích về ông. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Đằng Văn Công và Thần Tuyết bắt nguồn từ cuốn sách "Mạnh Tử Ngoại Thư". Trong sách có ghi lại rằng: "Sau khi Đằng Văn Công qua đời, có một trận tuyết lớn ập xuống khiến việc tổ chức tang lễ không được thuận lợi. Huệ Tử nói rằng, điều này là do Đằng Văn Công muốn ở lại một thời gian để an ủi giang sơn xã tắc, vì vậy để tuyết rơi dày đặc mục đích là để trì hoãn việc tang lễ. Do đó, mọi người nghĩ rằng, ông có thể điều khiển được tuyết, nên người đời gọi ông là Thần Tuyết. Bởi vì hoa tuyết được gọi là "lục xuất", vì vậy người đời sau cũng gọi Thần Tuyết là “Đằng Lục”.

Sau thời nhà Tống, "Đằng Lục" trở thành một từ được sử dụng phổ biến trong các thơ ca. Chẳng hạn như, tác phẩm "Niệm Nô Kiều -Tuyết" của Trần Úc thời Nam Tống: "Một ba một tị, siếp thời gian, tố xuất mạn thiên mạn địa. Bất luận cao đê tịnh thượng hạ, bình bạch đô giáo nhất lệ. Cổ động đằng lục, chiêu yêu tốn nhị, nhất nhiệm trương uy thế. Thức tha bất phá, chỉ kim đạo thị tường thuỵ”.

Có nghĩa là: “Không mũi không miệng, trong chốc lát, bông tuyết khắp trời đất, bất kể núi non, núi sâu, các hẻm núi, khắp nơi đều phủ một lớp tuyết trắng xóa, bông tuyết ơi hãy cổ vũ cho Đằng Lục (Thần Tuyết). Lại mời thêm các vị Tốn Nhị (Thần Gió), phô trương  thanh thế, lạm dụng oai phong, người ta vẫn chưa biết được bản lai diện mục của nó, còn cho rắng nó là khí may mắn cát tường". Từ khúc rõ ràng là vịnh tuyết, nhưng thực tế là mượn việc vịnh tuyết lạm dụng uy quyền, không e dè kiêng nể, để chế nhạo Giả Tự Đạo, tể tướng của triều đại Nam Tống lúc bấy giờ.

Tuy rằng, bài văn tả cảnh gió tuyết, mây khắp nơi nhưng không thấy từ hoa tuyết ở đâu. Tuy nhiên, nếu ai không biết “Đằng Lục” là ám chỉ Thần Tuyết thì e rằng các bạn sẽ không hiểu nổi đây đang nói về cái gì. Điều này cho thấy được tầm quan trọng của việc học cuốn “Ấu Học Quỳnh Lâm”.

Kể chuyện

Truyền thuyết về Thần Gió

Trung Quốc là một lãnh thổ rộng lớn, môi trường sống ở các vùng cũng khác nhau, Thần Gió ở trung tâm cuộc sống của các dân tộc khác nhau, có phong cách và Thần tính khác nhau. Từ thời Chu đến thời Xuân Thu và Chiến Quốc, các quốc gia phía bắc Trung Quốc tôn Thần gió là "Phong Bá", Thần Gió còn được gọi với 1 cái tên khác là "Phong Sư". Tương truyền, Cơ Tinh (Ky Tinh) là một trong 28 ngôi sao, khi “Cơ Tinh" di chuyển, một cơn gió mạnh sẽ nổi lên.

“Kỳ" là một trong những ngôi sao lớn nhất ở thời Trung Quốc cổ đại, “Kỳ túc” là một trong 28 ngôi sao (Phạm vi công cộng)
“Kỳ" là một trong những ngôi sao lớn nhất ở thời Trung Quốc cổ đại, “Kỳ túc” là một trong 28 ngôi sao (Phạm vi công cộng)

Tuy nhiên, miền nam nước Chu lại đặt tên Thần Gió là "Phi Liêm", trong cuốn “Sở Từ - Ly Tao": "Phía trước Vọng Thư đánh xe đi trước, phía sau Phi Liêm đi theo", họ tin rằng Phi Liêm là tên của Thần Gió. Về sau, Thần Gió hai phương nam bắc hòa vào nhau thành một. Vào thời nhà Hán, “Phong Bá, Cơ Tinh và Phi Liêm" được coi là cùng một người, đều chỉ Thần Gió, người có năng lực cai quản gió.

Về ngoại hình của thần gió Phi Liêm, một số người cho rằng ông là một loài chim Thần, hoặc một con thú có cánh lông dài, một số người còn cho rằng, ông có "thân hươu, đầu như chim công, có sừng, đuôi rắn và vân báo."

Theo "Sơn Hải Kinh‧ - Bắc Sơn Kinh", có một con vật tên là Sơn Hồn ở núi Ngục Pháp. Sơn Hồn đi nhanh như gió, vì vậy, mọi người nghĩ rằng, khi Sơn Hồn xuất hiện, sẽ có gió nổi lên.

"Sơn Hải Kinh" có đề cập đến một vị Thần Gió khác tên là “Ngu Cường", là cháu trai của Hoàng Đế. Trong “Sơn Hải Kinh ‧ Đại Hoang Đông Kinh": "Hoàng Đế sinh ra Ngu Quách, và Ngu Quách  sinh ra Ngu Kinh". Ngu Kinh này chính là Ngu Cường. Trong cuốn “Sơn Hải Kinh‧ Hải Ngoại Bắc Kinh”: “Phía bắc là Ngu Cường, mặt người thân chim.” Thần gió Ngu Cường cũng là Thần Biển. Khi xuất hiện với diện mạoThần Gió thì ông có hình dạng mặt người, thân chim, trên tai có đeo hai con rắn lục, ở dưới chân cũng có hai con rắn lục; khi xuất hiện ở vị thế Thần Biển thì ông có hình dạng là đầu người thân cá, bàn tay bàn chân, cưỡi hai con rồng. Mỗi khi đến mùa đông, Ngu Cường di chuyển từ Biển Bắc đến Biển Nam, từ một con cá thành một con chim, và từ một vị Thần Biển biến thành một vị Thần Gió.

Ngoài ra, Phong Di hoặc Thập Bát Di trong các cuốn sách như: “U Quái Lục", “Dậu Dương Tạp Trở" , và Mạnh Bà trong sách “Tiềm Xác Loại Thư"  cũng đều là các vị Thần Gió. 

Huy Hải
Theo Epochtimes

Văn hoá Giáo dục


BÀI CÙNG CHUYÊN ĐỀ

BÀI CHỌN LỌC

Ấu Học Quỳnh Lâm - Bài 4: Thần Tuyết là Đằng Lục