Ấu Học Quỳnh Lâm - Bài 30: Hai vua Viêm Hoàng khai sáng văn minh

Giúp NTDVN sửa lỗi

Nền văn minh của dân tộc Trung Hoa khởi thủy từ Viêm Đế và Hoàng Đế đã lưu lại cho con người các phương diện văn hóa từ Đạo trị quốc đến quy chính cách sống của trăm họ. Hoàng Đế chú trọng dùng Đức trị quốc, coi là nguyên lý quan trọng nhất nên đã lập ra chức quan Cửu đức gồm chín hạng để giáo hóa dân chúng gồm có: Hiếu, từ, văn, tín, ngôn, trung, cung, dũng, nghĩa.

Nguyên văn chữ Hán

曆日是神農所為,甲子乃大撓所作。算數作於隸首,律呂造自伶倫。甲胄、舟車,系軒轅之創始;權量衡度,亦軒轅之立規。

Hán Việt

Lịch nhật thị Thần nông sở vi, Giáp Tý nãi Đại Nạo sở tác. Toán số tác vu Lệ Thủ. Luật lữ tạo tự Linh Luân. Giáp trụ, chu xa hệ Hiên Viên chi sáng thủy. Quyền lượng hoành độ diệc Hiên Viên chi lập quy.

Bính âm

Lì rì shì shénnóng suǒwéi, jiǎzǐ nǎi dà náo suǒzuò. Suànshù zuò yú lì shǒu, lǜlǚ zào zì líng lún. Jiǎzhòu, zhōuchē, xì xuānyuán zhī chuàngshǐ; quán liàng héng dù, yì xuānyuán zhī lì guī.

Giải thích từ ngữ

(1)曆日 Lịch nhật: tức lịch pháp. Phương pháp căn cứ thiên tượng để tính ra năm tháng ngày.
(2)神農 Thần Nông: tức Viêm Đế, một trong Ngũ Đế.
(3)甲子 Giáp Tý: Giáp là đứng đầu 10 Thiên can, Tý đứng đầu 12 Địa chi. Thiên can phối hợp Địa chi, khởi đầu là Giáp Tý, dùng để tính năm, một chu kỳ là 60 năm, gọi là một Giáp (Tý).
(4)乃 Nãi: là.
(5)大撓 Đại Nạo: sử quan của Hoàng Đế.
(6)算數 Toán số: số Toán học.
   (7)隶首 Lệ Thủ: một vị quan của Hoàng Đế, là tổ của họ Lệ.
(8)律吕 Lữ luật: “lục luật”, “lục lữ” là các loại nhạc khí cổ đại.
(9)伶倫 Linh Luân: nhạc sư của Hoàng Đế.
(10)甲胄 Giáp trụ: Áo giáp và mũ trụ của chiến sĩ thời cổ đại.
  (11)系 Hệ: là.
(12)轩辕 Hiên Viên: tức là Hoàng Đế.
(13)权 Quyền: trọng lượng, cũng chỉ kích thước.
(14)量 Lượng: dụng cụ tính toán dung lượng thời cổ, gồm có thặng, đấu, hộc..v.v
(15)衡 Hoành: cái cân, cũng chỉ quy mô.
(16)度 Độ: đơn vị đo độ dài như phân, thốn…

Dịch nghĩa

Lịch pháp do Viêm Đế tạo ra. Đại Nạo dùng Thiên can địa chi phối hợp làm ra phương pháp tính năm là Giáp Tý. Toán học do Lệ Thủ tạo ra. Các nhạc khí Lục Lữ, Lục Luật do Linh Luân tạo thành. Áo giáp mũ trụ, xe thuyền bắt đầu từ Hoàng Đế. Các tiêu chuẩn cân đo cũng do Hoàng Đế quy định.

Đọc sách bút đàm

Hoàng Đế kiến tạo cơ sở của nền văn minh

Người Trung Quốc từ thời cổ đã xưng là con cháu Viêm Hoàng. Bài học này trực tiếp giảng đến nền văn minh của dân tộc Trung Hoa khởi thủy từ Viêm Đế và Hoàng Đế đã lưu lại cho con người các phương diện văn hóa từ Đạo trị quốc đến quy chính cách sống của trăm họ.

Hoàng Đế
Hoàng Đế (Miền cộng đồng)

Có thể nói rằng tổ tiên loài người cổ đại là Nữ Oa và Phục Hy trong Tam Hoàng, họ đã tạo ra những đặc điểm và bản chất của nền văn hóa Thần truyền là Thiên nhân hợp nhất, để mọi nền văn hóa có thể tìm thấy cội nguồn của mình. Thông qua Tiên Thiên Dịch Lý của Phục Hy, chúng ta có thể hiểu được Đạo của Ngũ hành thiên địa, Âm Dương, gốc rễ của văn hóa Trung Hoa. Sau đó đến thời đại Hoàng đế trong Ngũ Đế, [Hoàng Đế] dựa trên nguồn gốc đó, bắt đầu tạo ra hệ thống văn hóa cơ sở từ việc trị quốc đến sinh hoạt thường nhật của các tầng lớp nhân dân. Ngoài ra, các kỹ thuật và chế độ quy phạm cụ thể khác nhau cũng được xác định tương ứng. Hơn nữa, vì để đảm bảo sự sinh tồn cơ bản mà Viêm Đế đã tạo ra những nền tảng văn hóa của nông nghiệp, y học Trung Hoa (Thần Nông bản thảo kinh) và Trà đạo. Do đó, hai vị Đế là Viêm Hoàng được coi là Thủy tổ của văn minh Trung Hoa.

Có thể nói rằng, hai vị Đế Viêm Hoàng, đặc biệt là Hoàng Đế, đã định ra chế độ tỉnh điền, hương lý, phân chia đất đai thành chín châu và đô thành, hoạch định quan viên và thể chế. Hoàng Đế đã cho ghi chép lại lời nói và hành vi của quân vương, các sự kiện lịch sử và ông cũng định ra chế độ dùng sử quan quan sát thiên tượng. Hoàng Đế chú trọng dùng Đức trị quốc, coi là nguyên lý quan trọng nhất nên đã lập ra chức quan Cửu đức, lấy 9 đức hạnh để giáo hóa dân chúng, gồm có: Hiếu, từ, văn, tín, ngôn, trung, cung, dũng, nghĩa. Ông xếp Hiếu hàng đầu, cho thấy đây là vị vua đầu tiên dùng Hiếu trị quốc, còn có Đế Thuấn dùng thân làm tấm gương hiếu đạo chuẩn mực.

Từ đây có thể thấy tư tưởng văn hóa của Nho gia là từ thời Hoàng Đế lưu lại. Đến cả âm nhạc và các hệ thống văn hóa khác liên quan đến việc trị quốc, các quy định cân đo như số học, trọng lượng và phương tiện xe thuyền cần thiết cho giao thông vận tải, giao dịch kinh tế, kỹ thuật, v.v., cách sản xuất và quy định quần áo (việc tạo ra Hán phục). Cũng như sự ra đời của nền y học cổ truyền Trung Quốc (“Hoàng đế nội kinh” đã trở thành tị tổ của y học Trung Quốc) v.v., hầu hết tất cả các hệ thống văn hóa hữu hình của nhân loại đều tạo ra trong thời kỳ Hoàng Đế. Điều đó có nghĩa là văn hóa Kinh Dịch, Bát Quái do Thần truyền lại từ sau thời đại Phục Hy đã được [Hoàng Đế] tiếp tục cụ thể hóa thành các hệ thống nhân văn và kiến ​​thức kỹ thuật khác nhau mà con người có thể hiểu và sử dụng.

Không dừng lại ở đó, Hoàng Đế dần thăng hoa từ dĩ Đức trị quốc đến Vô vi nhi trị. Ông mộng thấy thế giới của Thần là Hoa Tư Quốc, từ đó ngộ Đạo, thăng hoa cảnh giới trị quốc, thực thi thiên hạ đại đồng, đạt đến mức trong nước cơ hồ như không còn triều đình và quân vương tồn tại, nhà nhà ngủ không cần đóng cửa, nhân dân có đạo đức cao thượng, khắp nơi gần như trạng thái nửa Thần, có thể câu thông với Thiên thượng. Hoàng đế trị vì trăm năm, sau đó bay lên trời với các quan của mình bằng một con rồng. Thần thoại Hoa Tư Quốc và văn hóa tu luyện đã được truyền lại cho đến ngày nay. Hoàng Đế đã sáng tác bài hát cổ “Hoa Tư Dẫn” như một minh chứng cho chí hướng tu Đạo to lớn của mình.

Các dân tộc thiểu số cũng là con cháu Viêm Hoàng

Trong thời kỳ Ngũ Đế, văn hóa không chỉ liên quan đến Hoàng Đế, mà còn có Chuyên Húc (cháu nội của Hoàng đế) với Đế Thuấn (hậu duệ của Chuyên Húc). Trong thời Ngũ Đế, tất cả quân vương từ Hoàng Đế đến Đế Thuấn đều quan tâm đến việc thiện nhượng, tuyển người hiền năng có đức độ để nhường ngôi. Phần lớn đều không trực tiếp truyền cho con của mình, nhưng kỳ thực đều là con cháu của Hoàng Đế sau đó đã phát triển ra khắp thiên hạ. Ba triều đại Hạ Thương Chu đều là con cháu Hoàng Đế. Theo Sơn Hải Kinh viết thì cả tộc Khuyển Nhung, Bắc Địch cho đến Man Di các dân tộc đều là hậu duệ của Hoàng Đế.

Chuyên Húc là một nhân vật lịch sử của Trung Quốc, là một trong Ngũ Đế
Chuyên Húc là một nhân vật lịch sử của Trung Quốc, là một trong Ngũ Đế (Miền cộng đồng)

Ngoài hậu nhân của Hoàng Đế ra, còn có hậu đại của Viêm Đế, gồm cả con cháu của Xi Vưu. Xi Vưu vốn họ Khương, là hậu duệ của Viêm Đế. Sau khi Hoàng Đế diệt Xi Vưu, ông đã đem hết những người lương thiện trong tộc Cửu Lê đến đất Trâu Đồ. Còn những người hung tàn bạo ngược thì đày đến miền giá lạnh phương Bắc. Những người đó ngày nay là tổ tiên của tộc họ Trâu, Đồ Chư, Xi, Lê trong Hán tộc.

Hậu duệ của Xi Vưu còn lại lưu lạc khắp nơi chính là tộc Tam Miêu. Sau đó con cháu họ làm loạn nên bị Đại Vũ diệt. Những người còn lại trong bộ tộc sau này chính là tộc Khương, một bộ phận lánh về phương nam, sau thành tổ tiên của các dân tộc Miêu, Dao của Trung Quốc. Đó là lý do vì sao mà đến nay các dân tộc Miêu Dao vẫn coi Xi Vưu như tổ tiên và tiến hành cúng bái.

Sử Ký chép: “Hoàng Đế dẹp loạn, trục xuất bộ tộc Huân Dục ra phía bắc, sau phát triển thành các bộ lạc Hung Nô”.

Vì thế, khi khảo cứu về nguồn gốc tổ tông của tất cả các dân tộc trên đại lục Trung Hoa đều là huyết mạch của Viêm Hoàng hai vị Đế. Cho dù là người Hán, hay các dân tộc thiểu số biên cương do con cháu vô đức của các vị Ngũ Đế hình thành, họ thực sự là cùng một tổ tiên. Hậu duệ của Viêm Hoàng, gọi chung là dân tộc Trung Hoa, hay còn gọi là  dân tộc Hoa Hạ.

Kể chuyện 

Tương truyền, lúc Hoàng Đế đại chiến với Xi Vưu tại Trác Lộc, vì lo dân chúng khổ do chiến tranh và mong muốn bình trị nên Hoàng Đế đã trai giới tắm gội tế Trời Đất. Trời cảm động nên giáng xuống 10 Thiên can là Giáp Ất Bính Đinh Mậu Kỷ Canh Tân Nhâm Quý cùng 12 Địa chi là Tí Sửu Dần Mão Thìn Tỵ Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi. Hoàng Đế lấy 10 Thiên can hình tròn tượng cho Trời, lấy 12 Địa chi hình vuông tượng cho Đất, sau đó lệnh cho Đại Nạo chế định ra Giáp Tý phối hợp giữa Can và Chi. Thiên can đứng đầu, sau đó đến Địa chi, Thiên can khởi từ Giáp, Địa chi khởi từ Tý hợp thành bộ Lục thập Giáp Tý (còn gọi là Lục Thập Hoa Giáp), tiện cho việc tính toán năm tháng ngày giờ.

Sau khi Hoàng Đế đánh bại Xi Vưu và thống nhất thiên hạ, để tiện cho việc giao thông giữa các vùng miền Hoàng Đế đã chế tạo ra xe thuyền, còn chế tạo ra nồi nấu ăn và trò chơi đá cầu. Ngài còn lệnh cho Lôi Công và Kỳ Bá viết sách y dùng trị bệnh. Vì để giữ trật tự xã hội và định ra các chế độ đo đạc công bằng, Hoàng Đế đã chế ra hệ thống cân đo, thống nhất các giao dịch theo một tiêu chuẩn, làm cho hoạt động kinh tế ổn định. Theo thư tịch cổ “Ngũ Đế chi thế” thì Hoàng Đế tạo ra hệ thống cân đo, đưa vào sử dụng dụng cụ đo lường năm lượng làm lợi cho dân chúng. Thiếu Hạo Thị lập nên chức quan phụ trách cân đo. Ngu Thuấn mỗi năm tuần thú khắp thiên hạ để quy chuẩn cách cân đo, làm cho dân tin tưởng.

Hoàng Đế lệnh cho Linh Luân chế tạo nhạc luật, định ra thập nhị luật, lục luật, lục lữ, thập nhị âm giai. Linh Luân tìm ra một thanh trúc vừa ý ở vùng núi phía Tây làm ra một thanh sáo trúc (còn gọi là địch). Khi ông đang thổi thanh sáo trúc của mình thì đột nhiên có vài con phượng hoàng hạ xuống gần đó để thưởng thức tiếng sáo. Con phượng trống cất tiếng hót trước, tiếng hót đầu tiên của nó giống y như tiếng sáo trúc mà Linh Luân vừa thổi. Sau đó nó hót tiếp 5 tiếng nữa. Linh Luân nhanh chóng chặt thêm năm cây trúc có thể phát ra âm thanh giống như thế. Linh Luân sắp xếp 12 cây sáo theo thứ tự của âm thanh, và hoàn thành Thập Nhị Luật. Để bảo tồn vĩnh viễn 12 âm luật này, Hoàng Đế đã ra lệnh đúc mười hai chuông đồng có thể thể hiện chính xác tiếng sáo, sau đó, thang âm của tất cả các nhạc cụ phải phù hợp với chuông đồng.

Minh Bảo
Theo Epochtimes

Văn hoá Giáo dục


BÀI CÙNG CHUYÊN ĐỀ

BÀI CHỌN LỌC

Ấu Học Quỳnh Lâm - Bài 30: Hai vua Viêm Hoàng khai sáng văn minh