"Ấu Học Quỳnh Lâm" làm một cuốn sách giáo khoa hàng đầu được xuất bản vào cuối triều đại nhà Minh, đầu triều đại nhà Thanh, và lưu truyền khá phổ biến ở Việt Nam. Bên cạnh cuốn “Tăng Quảng Hiền Văn", thì cuốn “Ấu Học Quỳnh Lâm” thường được người dân thời bấy giờ chọn đọc nhất. Điều này cho thấy tầm quan trọng của cuốn sách với nền giáo dục đương thời.

Ngày Mậu thứ 5 cúng Thần Đất

Nguyên văn chữ Hán

五戊雞豚宴社,處處飲治聾之酒;七夕牛女渡河,家家穿乞巧之針。

Hán Việt

Ngũ mậu kê đồn yến xã, xứ xứ ấm trị lung chi tửu; thất tịch ngưu nữ độ hà, gia gia xuyên khất xảo chi châm.

Bính âm

Wǔ wù jī tún yàn shè, chù chù yǐn zhì lóng zhī jiǔ; qī xì niú nǚ dù hé, jiā jiā chuān qǐ qiǎo zhī zhēn.

Giải nghĩa từ ngữ

(1) 五戊 Ngũ Mậu: Ngày Mậu thứ năm sau lập Xuân hoặc lập Thu, được gọi là Xuân xã, Thu xã.
(2) 豚 Đồn : Lợn con, nói chung là chỉ lợn.
(3) 宴 Yến: Mời ăn tiệc, yến tiệc.
(4) 社 Xã: Xã nhật, chỉ Xuân Xã, Thu Xã (tức cúng Thần Đất (Xã) vaf0 mùa xuân và mùa thu).
(5) 治聋之酒 Trị lung chi tửu: Tương truyền uống rượu ngày cúng Thần Đất (Xã nhật) có thể trị bệnh điếc.
(6) 七夕 Thất tịch: Tối mùng bảy tháng bảy  Âm lịch.
(7) 牛 Ngưu: Ngưu Lang - Chàng trai chăn trâu.
(8) 女 Nữ: Chức Nữ - Cô gái dệt vải.
(9) 针 Châm: Kim.

Bản dịch tham khảo

Vào ngày cúng Thần Đất mùa Xuân và mùa Thu, nhà nhà đều cúng gà, lợn cho Thần Thổ Địa, mời tiệc khách, và uống rượu cúng Thần có thể chữa bệnh điếc. Đêm mùng Bảy tháng Bảy, Ngưu Lang Chức Nữ vượt sông để gặp nhau, những người phụ nữ đều đứng trước mặt trăng xỏ chỉ ngũ sắc vào kim  lỗ (cũng có thể 5 lỗ hoặc 9 lỗ), để cầu xin có được kỹ xảo dệt vải thêu hoa.

Đọc sách bút đàm

1. Về 5 ngày Mậu

Thời cổ đại, người ta dùng mười thiên can và mười hai địa chi ghép lại với nhau để chỉ năm, tháng, ngày, giờ. Có mười thiên can là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỉ, Canh, Tân, Nhâm, Quý; và mười hai địa chi là: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.

Cũng như biểu thị năm, can chi ghi ngày cũng là “thiên can" phía trước, bắt đầu bằng “Giáp”, “địa chi” ở phía sau, bắt đầu bằng “Tý”, phối hợp lẫn nhau. Lần lượt như Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần v.v. Can chi bắt đầu là Giáp Tý, bởi vì thiên can so với địa chi ít hơn hai cái, mới có thể phối hợp lẫn nhau. Nếu như dùng chữ cuối cùng là Quý Hợi (tức là Thiên can cuối cùng là Quý và địa chi cuối cùng là Hợi phối hợp với nhau), phải trải qua sáu mươi ngày, như vậy cứ sáu mươi ngày là một chu kỳ một Giáp Tý. Ngày Mậu thứ 5 sau Lập Xuân tức là bắt đầu từ ngày Lập Xuân, đến ngày thứ năm mà thiên can là Mậu phối hợp với các địa chi để ghi ngày. Sau ngày Lập Thu cũng tính như vậy.

2. Về ngày cúng Thần Đất (Xã nhật)

"Xã" là vị Thần Thổ Địa. Người xưa gọi Trời là Hoàng Thiên, Đất là Hậu Thổ, nên có cách gọi là Hoàng Thiên  Hậu Thổ cùng nhau sinh ra và nuôi dưỡng sinh mệnh, do đó mọi người sùng kính Thiên Địa. Mọi người cho rằng, đất đai là có Thần cai quản, như Đất Mẹ. Do đó, vào thời Tiên Tần có hoạt động cúng bái Thần Thổ Địa, ngày cúng được gọi là “Xã nhật”. Thời đó, ngày cúng Thần Đất không có ngày cố định.

Vào thời nhà Đường, nhà Tống, Xã nhật được cố định lại, hai lần một năm. Đó cũng là ngày Mậu thứ 5 say ngày Lập Xuân hoặc Lập Thu gọi là Xuân Xã hoặc Thu Xã mà trong bài nói đến. Ngày Xuân Xã đúng dịp vạn vật sinh sôi phát triển, phù hợp với mùa trồng trọt và gieo giống, chủ yếu là cầu ngũ cốc,  cầu Xã Thần (Thần Đất) ban phúc và ngũ cốc bội thu. Vì vậy, ngày cúng Thần Đất Xuân Xã mục đích là để cầu Thần phù hộ.  Ngày Thu Xã là mùa thu hoạch. Để báo đáp Thần, sau khi thu hoạch mùa màng bội thu thì báo tin mừng với Xã Thần, mục đích là để đáp tạ Xã Thần, bày tỏ lòng cảm tạ đối với Thần Thổ Địa.

Vào ngày cúng Thần Đất (Xã nhật), mọi người tập trung trong các đền thờ Xã Thần và bày ra rất nhiều thức ăn để cúng, đại khái như có rượu Xã, thịt Xã, gạo Xã, mỳ Xã, bánh Xã và cháo Xã. Các nơi khác nhau đều có đặc điểm riêng, cúng xong mọi người cùng hưởng thức ăn.

Rượu Xã là rượu dùng để cúng tế, theo truyền thuyết uống rượu Xã chữa được bệnh điếc nên mọi người không say không về.

Thịt Xã là loại thịt dùng để tế lễ, tế Thần xong, thịt được chia cho các hộ gia đình tham gia tế lễ. Phân chia thịt Xã là mọi người nghĩ rằng là Thần đang ban phúc cho chúng ta. Chính vì vậy, trong thơ của Lục Du, “Xã nhục” có viết câu rằng: “Tuý quy hoài dư nhục, triêm di biến chư tôn”. Nghĩa là, ông đem thịt dư về nhà chia cho con cháu, để cả nhà cảm nhận được sự ân huệ của Thần.

Cơm Xã là cơm dùng để cúng Thần. Làm cơm trước, sau đó thái thịt lợn, cừu, cật, phổi, bụng, bánh bèo, dưa, gừng, thái thành từng lát mỏng, trộn ngũ vị hương rồi rải lên trên cơm. Dùng vỏ quả bầu đựng rồi tặng cho nhau.

Thông qua các hoạt động cúng Thần, người dân không bao giờ quên ơn Thần khi thưởng thức những món ăn phong phú. Đời đời sẽ có tấm lòng cảm ân, không bao giờ cuồng vọng kiêu ngạo và phá hoại trật tự của thiên nhiên.

Kể chuyện

Tương truyền về Thất tịch

Mùng Bảy tháng Bảy Âm lịch là Thất tịch, còn có tên là Ngật Xảo tiết, Thất Xảo tiết hoặc Thất Thư Đán, là một trong những ngày lễ truyền thống Trung Quốc. Ngày lễ này và truyền thuyết Ngưu Lang Chức Nữ có quan hệ mật thiết với nhau.

Ngưu Lang Chức Nữ đã xuất hiện từ rất sớm trong "Kinh Thi - Tiểu Nhã":

"Hoặc dĩ kỳ tửu, bất nhận kỳ tương, sao sao bội tuỳ, bất nhận kỳ trường. Duy thiên hữu hán, giám diệc hữu quang; giao bỉ Chức Nữ, chung nhật thất tương, tuy tắc thất tương, bất thành phục chương; nghễ bỉ Khiên Ngưu, bất nhận phục tương. Đông hữu Khải Minh, Tây hữu Trường Canh, hữu cứu thiên tất, tái thi chi hành".

Dịch nghĩa:

"Người dân tộc phương Đông coi là mỹ tửu thì người dân tộc phương Tây không cho là rượu ngon. Tặng người phương Đông ngọc bội lung linh, người phương Tây không cho là ngọc quý. Ngửa mặt ngóng trông sông Ngân Hà rực rỡ trời xa, tỏa ánh sáng lấp lánh như tấm gương sáng. Chỉ thấy chòm sao Chức Nữ như chiếc đỉnh 3 chân, cả ngày đêm 7 lần dịch chuyển bận rộn. 

Tuy một ngày một đêm 7 lần dịch chuyển bận rộn, nhưng cuối cùng cũng không thể dệt thành áng văn chương mỹ lệ. Lại xem chòm sao Khiên Ngưu rực sáng kia, cũng không giống trâu kéo xe dưới nhân gian. Bất kể là sao Khải Minh ở phương Đông, sao Trường Canh ở phương Tây lấp lánh, hay là sao Thiên Tất như chiếc phiên tre cong dài, nghiêng nghiêng vẹo vẹo đứng bên bờ sông Ngân Hà"

Ngưu Lang Chức Nữ thời đó là chỉ các chòm sao trên trời.

Vào thời Tây Hán, Ngưu Lang Chức Nữ được miêu tả là hai vị Thần. Ban Cố từng có đoạn miêu tả: "Lâm hồ côn minh chi trì, tả khiên ngưu nhi hữu chức nữ, tự vân hán chi vô nhai"

Nghĩa là: "Ở gần ao Côn Minh, anh chàng bên phải chăn bò, cô nàng bên trái dệt vải, sông Ngân Hà như vô bờ"

Mãi đến về sau có bài “cổ thơ thập cửu thủ” thời Đông Hán, giữa Chàng trai chăn bò và Cô gái dệt vải mới thêm câu chuyện tình ái. Thời Nam và Bắc triều, Nhậm Phảng mô tả trong "Thuật Dị Ký": "Đại hà chi Đông, hữu mỹ nữ lệ nhân, nãi thiên đế chi tử, cơ trữ nữ công, niên niên lão dịch, chức thành vân vụ quyên kiêm chi y, tân khổ thù vô hoan duyệt, dung mạo bất hạ chỉnh lý, thiên đế liên kỳ độc xử, gia dữ hà Tây khiên ngưu vi thê, tự thử tức phế chức nhâm chi công, tham hoan bất quy. Đế nộ, trách quy hà Đông, nhất năm nhất độ tương hội".

Nghĩa là: "Phía Đông con sông lớn có một mỹ nhân, là con của Thiên Đế, làm công việc dệt vải, làm lụng vất vả năm này qua năm khác, dệt nên những bộ y phục lụa như mây, vất vả khổ cực không có niềm vui, không có thời gian rỗi chỉnh trang dung nhan. Thiên Đế thương xót cô đơn độc một mình, bèn gả cho anh chàng chăn trâu bên bờ Tây con sông. Từ đó cô bỏ bê công việc dệt vải, vui vẻ lưu luyến không trở về. Thiên Đế nổi giận, phạt đưa về bờ Đông con sông, mỗi năm chỉ được gặp nhau một lần".

Có thể thấy câu chuyện truyền thuyết Ngưu Lang Chức Nữ đã thành hình.

Tương truyền từ thời xa xưa Thiên thượng và nhân gian chỉ cách biệt với một con sông Ngân Hà rất nông. Chức Nữ là vị Tiên nữ xinh đẹp trên trời, cô có đôi tay tinh xảo, có thể dệt những bộ quần áo thiên biến vạn hoá. Ở nhân gian có một chàng trai tốt bụng tên là Ngưu Lang, vì cha mẹ mất sớm, nên sống với anh rể. Người chị dâu đối xử rất thô bạo, thậm chí còn xúi giục hai anh em ly tán, chiếm hết tài sản gia đình, chỉ chia cho người em một con trâu già. Con trâu già này hóa ra là ngôi sao Kim Ngưu trên bầu trời, vì phạm luật nên bị giáng hạ làm trâu. Ngưu Lang tốt bụng siêng năng, chăm chỉ chăm sóc con trâu già rất tốt nên trâu quyết định giúp anh. Dưới sự hướng dẫn của trâu, Ngưu Lang đã gặp được Chức Nữ, và lấy cô làm vợ. Sau khi hai người kết hôn, hai người hạ sinh một hai người con, lại tiếp tục cuộc sống nam thì đi cày, nữ thì dệt vải. Chẳng bao lâu, con trâu già trung thành chết, trước khi chết, trâu dặn Ngưu Lang rằng: "Sau khi tôi chết, hãy lột lấy da, phòng khi gặp khó khăn".

Thiên Đế rất tức giận khi biết Chức Nữ tự tiện hạ phàm kết hôn với Ngưu Lang, Ngài liền phái Vương Mẫu Nương Nương hạ phàm dẫn Chức Nữ hồi thiên. Trong lúc lo lắng, Ngưu Lang dùng một chiếc giỏ đặt hai con lên, và khoác lên mình tấm da trâu rồi vội vàng đuổi theo Vương Mẫu và Chức Nữ. Thấy Ngưu Lang đuổi kịp, Vương Mẫu dùng chiếc kim châm kẹp tóc vạch một con sông Thiên Hà lớn. Thế là từ đó trở đi, hai người cách nhau ở hai bên dải Ngân Hà. Ngưu Lang và hai con đứng bên sông khóc, tiếng khóc đã làm kinh động đến Thiên Đế, nên Ngài cho phép họ cứ tới mùng Bảy tháng Bảy được gặp nhau một lần.

Tương thuyết, hàng năm có vô số con chim hỉ thước bay lên trời, bắc thành cây cầu để gia đình Ngưu Lang Chức Nữ qua sông gặp nhau.

Huy Hải

Theo Epochtime