Phụ nữ tầm soát ung thư vú sớm ở độ tuổi 40, lợi hay hại? Câu trả lời: Không có lợi, vì sao?

Bình luận Thiện Đức • 14:09, 27/02/21

Giúp NTDVN sửa lỗi

Một nghiên cứu gần đây cho thấy, tầm soát ung thư vú sớm ở phụ nữ độ tuổi 40 có thể không có lợi, vì nhiều lý do, trong đó phần nhiều là gây tổn thương tâm lý và điều trị quá mức. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn có quyền lựa chọn nên hay không tầm soát ung thư vú sớm.

Trong một nghiên cứu gần đây được công bố trên tạp chí The Lancet Oncology, các nhà khoa học đã phân tích hiệu quả của việc tầm soát ung thư vú ở Anh. Họ đã kết luận rằng chụp nhũ ảnh nên bắt đầu ở tuổi 40 hoặc 41 có thể giảm tỷ lệ tử vong do ung thư vú. Điều này hoàn toàn trái ngược với Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh (NHS) khuyến nghị, độ tuổi phụ nữ nên chụp nhũ ảnh là 50 tuổi.

Chụp nhũ ảnh ở độ tuổi 40 có thực sự giúp giảm tử vong do ung thư vú?

Một nghiên cứu năm 2010 cho thấy, việc sàng lọc sớm ở độ tuổi 40 hoặc 41-48 có đến 18,1%  dương tính giả nghĩa là có 18,1% phụ nữ không có bệnh như xét nghiệm lại cho kết quả dương tính. Điều này đã dẫn đến xét nghiệm tế bào học, sinh thiết và phẫu thuật không cần thiết ở những phụ nữ này. Mặc dù, nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ tử vong giảm có ý nghĩa thống kê trong 10 năm đầu tiên.

Mặt khác, các chuyên gia phát hiện dữ liệu từ nghiên cứu trên tạp chí The Lancet Oncology không có sự khác biệt về mặt thống kê. Thậm chí, chính các tác giả còn lưu ý, “số trường hợp tử vong không đổi”. 

Các tác giả cũng thừa nhận rằng “sau hơn 10 năm theo dõi, không quan sát thấy sự giảm đáng kể nào” và “nhìn chung, không có sự khác biệt đáng kể nào” về số ca tử vong do ung thư vú - đúng như những gì họ bị chỉ trích.

Góc khuất của việc tầm soát sớm ung thư vú ở độ tuổi 40

Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, 73% phụ nữ trên 45 tuổi đã được chụp nhũ ảnh trong vòng hai năm qua, chiếm một số lượng lớn phụ nữ. Chỉ tính đến tháng 7/2019, đã có 61,91 triệu phụ nữ từ 40 đến 70 tuổi ở Mỹ đã được chụp nhũ ảnh.  

Giả sử loại những phụ nữ ở tuổi 70 không chụp nhũ ảnh, thì còn có thể có 45,19 triệu phụ nữ đã chụp nhũ ảnh trong hai năm qua. Khi tính chi phí trung bình của một lần chụp nhũ ảnh là 100 đô la, tổng doanh thu tạo ra có thể gần 4,5 tỷ đô la. Một doanh thu không nhỏ.

Đây có thể là một lời giải thích cho lý do tại sao phụ nữ tiếp tục nhận được khuyến nghị kiểm tra nhũ ảnh. Mặc dù, thiếu bằng chứng cho thấy, nhũ ảnh có thể giúp giảm tỷ lệ tử vong, thậm chí có bằng chứng nhũ ảnh có thể gây hại trên thực tế.

Không có câu trả lời nào từ nghiên cứu mới về chụp nhũ ảnh sớm

Thử nghiệm UK Age được thiết kế để so sánh chụp nhũ ảnh hàng năm ở những phụ nữ bắt đầu làm xét nghiệm này ở tuổi 40 với những người bắt đầu ở tuổi 50, có giúp giảm tỷ lệ tử vong do ung thư vú không. Kết quả đầu tiên của cuộc thử nghiệm được công bố trên tạp chí The Lancet vào năm 2015 sau 17 năm theo dõi.

Nghiên cứu đã thu hút 160.921 phụ nữ từ tháng 10/1990 đến tháng 9/1997 tham gia. Trong số đó, có 53.883 phụ nữ tham gia nhóm can thiệp, được chụp nhũ ảnh gần như hàng năm cho đến khi 48 tuổi. Trong khi, 106.953 phụ nữ khác trong nhóm chứng chỉ được chăm sóc y tế bình thường, không ai trong số được chụp nhũ ảnh cho đến khi ít nhất 50 tuổi.

Kết quả cho thấy, tính đến ngày 28 tháng 2 năm 2017, những phụ nữ được theo dõi trung bình là 22,8 năm. Trong thời gian này, các nhà nghiên cứu kết luận tỷ lệ tử vong do ung thư vú giảm không giảm đáng kể những phụ nữ được theo dõi chụp nhũ ảnh trong 10 năm so với nhóm chụp nhũ ảnh lần đầu sau 50 tuổi.

Không phải chuyên gia nào cũng giải thích kết quả giống nhau. Một bài báo được xuất bản trên BMJ, có tiêu đề “Ung thư vú: Nghiên cứu khẳng định phụ nữ tầm soát ở độ tuổi 40 đã cứu sống họ”. 

Tuy nhiên, cùng nghiên cứu trên, một bài báo đăng trên The Lancet, tác giả lại kết luận khác:

Không có sự khác biệt về tỷ lệ tử vong do ung thư vú được tìm thấy giữa nhóm bắt đầu kiểm tra nhũ ảnh hàng năm ở tuổi 39-41 cho đến khi họ tham gia Chương trình Kiểm tra Vú của Dịch vụ Y tế Quốc gia (NHS) ở tuổi 50-52 và nhóm không làm nhũ ảnh cho đến khi họ tham gia Chương trình Kiểm tra Vú của NHS. ”

“… Nhìn chung nhóm can thiệp không có giảm tỷ lệ tử vong hơn so với nhóm chứng vào cuối thời gian theo dõi.”

Một khía cạnh đáng ngạc nhiên trong báo cáo của Duffy và các đồng nghiệp, không có chẩn đoán ung thư vú quá mức ở cả hai nhóm được sàng lọc khi từ 50 tuổi trở lên. Bởi vì chẩn đoán quá mức dường như gia tăng theo độ tuổi, có thể chẩn đoán quá mức xảy ra ở cả hai nhóm sau 50 tuổi, nhưng không thể phát hiện được vì do thiết kế của thử nghiệm ”.

Sàng lọc phụ nữ không có triệu chứng ung thư vú không giúp cứu sống họ

Phản hồi thứ ba cho bài báo nghiên cứu này, cũng được xuất bản trên BMJ, được viết bởi Hazel Thornton, giảng viên thỉnh giảng danh dự, khoa sức khỏe tại Đại học Leicester. Trong đó, bà Hazel Thornton cũng phát hiện, các số liệu thống kê không hỗ trợ cho kết luận. 

Bà Hazel Thornton là một người lên án việc kiểm tra quá mức và giải thích lý do tại sao trong lời khai của mình trước Ủy ban Y tế Hạ viện Vương quốc Anh về các dịch vụ ung thư vú với tư cách là nhân chứng vào năm 1995.

Bà Hazel Thornton từng được hỏi tại sao lại cho rằng Chương trình Kiểm tra Vú của NHS là “một công việc tốn kém cho nhóm phụ nữ không có triệu chứng… tạo ra cho họ ảnh hưởng lớn về tâm lý và thể chất”. 

Phần nào câu trả lời của bà là vì nó “chỉ tập trung vào những phụ nữ được hưởng lợi, hay nói cách khác, một sinh mạng được cứu sống, nhưng nó bỏ qua hàng trăm phụ nữ phải chịu đựng quá trình này. Trong một số trường hợp, họ bị tổn hại tâm lý vì điều đó. Đó là sự không cân đối, không cân xứng và theo tôi, cần phải xem xét lại trong thời điểm hiện tại ”.

Những nhà phê bình cho rằng, những lập luận như bà Thornton, đánh giá quá mức tác hại tiềm ẩn liên quan đến việc tầm soát ung thư vú quá mức. Tuy nhiên, các lập luận của họ không có câu trả lời cho những nghiên cứu đã chứng minh việc tầm soát và chẩn đoán quá mức ung thư vú là một vấn đề ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảm xúc và kinh tế của những phụ nữ bị tầm soát.

Vào năm 2014, báo BMJ đã công bố kết quả theo dõi 25 năm từ Nghiên cứu Sàng lọc ung thư Vú Quốc gia Canada, trong đó các nhà nghiên cứu phát hiện ra 22% các trường hợp ung thư vú được sàng lọc là chẩn đoán quá mức nghĩa là có 22% phụ nữ bình thường nhưng được chẩn đoán ung thư vú. 

Họ kết luận: “Chụp nhũ ảnh hàng năm ở phụ nữ 40-59 tuổi không làm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư vú ngay cả khi nó được cung cấp miễn phí”.

Trong một đánh giá tổng quan của Cochrane về phân tích hiệu quả của chụp nhũ ảnh tầm soát ung thư vú, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy 8 thử nghiệm lâm sàng đáp ứng các tiêu chí đánh giá, bao gồm 600.000 phụ nữ từ 39 đến 74 tuổi. 

Sau khi phân tích dữ liệu, họ phát hiện như điều bà Thornton đã chứng thực, trong 2.000 phụ nữ được sàng lọc trong hơn 10 năm, cứ 1 người tránh được tử vong vì ung thư vú thì có 10 người sẽ được điều trị không cần thiết. Ngoài ra, hơn 200 phụ nữ sẽ trải qua tâm lý đau khổ và không chắc chắn trong nhiều năm sau khi nhận được kết quả dương tính giả.

Tương tự, một nghiên cứu đoàn hệ được công bố trong Biên niên sử về Y học Nội khoa đã thu hút những người tham gia ở Đan Mạch từ năm 1980 đến 2010. Họ cũng phát hiện ra việc sàng lọc không làm giảm tỷ lệ mắc ung thư. Đồng thời, kết luận rằng có khả năng "một trong ba trường hợp chẩn đoán ung thư vú và các trường hợp ung thư biểu mô ống dẫn được chẩn đoán ở phụ nữ được sàng lọc là chẩn đoán quá mức (làm gia tăng tỷ lệ 48,3%). ”

Chẩn đoán quá mức, điều trị quá mức và sàng lọc quá mức

Vào năm 2012, Tạp chí Y học New England đã công bố một bài nghiên cứu của hai nhà khoa học đã xem xét các xu hướng dữ liệu trong hơn 30 năm về tỷ lệ mắc ung thư vú giai đoạn sớm và giai đoạn cuối ở phụ nữ từ 40 tuổi trở lên. Những gì họ tìm thấy đã gây ra một số tranh cãi, khiến một trong hai tác giả phải sản xuất một đoạn video ngắn để giải thích kết quả.

Kỳ vọng của các bác sĩ, tìm ra các trường hợp ung thư vú giai đoạn sớm nhiều hơn, giúp giảm số lượng phụ nữ mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối. Tuy nhiên, nghiên cứu lại cho thấy, có một số lượng lớn phụ nữ được chẩn đoán quá mức, và “việc sàng lọc chỉ có thể làm giảm một lượng nhỏ đến tỷ lệ tử vong do ung thư vú”.

Trong video, tác giả đã cho biết gần "một nửa số trường hợp ung thư vú được phát hiện trên màn hình đại diện cho chẩn đoán quá mức." Tác hại của việc chẩn đoán quá mức không chỉ dừng lại ở nỗi đau khổ tâm lý mà nó gây ra cho một người phụ nữ và gia đình của cô ấy. Mà còn dẫn đến điều trị quá mức và thường bắt đầu bằng việc sinh thiết.

Loại sinh thiết phổ biến nhất cho ung thư vú là sinh thiết bằng kim. Bác sĩ có thể lựa chọn giữa chọc hút bằng kim nhỏ (FNA) hoặc sinh thiết bằng kim lớn cho mô vú. Theo Hiệp hội Ung thư Mỹ, sinh thiết kim lớn là loại được ưa thích khi nghi ngờ ung thư vú vì nó loại bỏ nhiều mô hơn FNA mà không cần phẫu thuật.

Tuy nhiên, nghiên cứu được công bố trên tạp chí của họ vào năm 2017 lại kết luận rằng sinh thiết kim lớn làm tăng nguy cơ di căn xa (sự lây lan của ung thư đến các cơ quan khác) từ 5 đến 15 năm sau khi ung thư vú được chẩn đoán. Điều này xảy ra với tỷ lệ cao hơn ở phụ nữ trải qua FNA. Một nghiên cứu thứ hai được công bố trước đó đã kết luận cả hai loại sinh thiết đều khiến một phụ nữ có nguy cơ bị di căn, kết luận:

“Thao tác khối u nguyên vẹn bằng FNA hoặc sinh thiết kim lớn có liên quan đến sự gia tăng tỷ lệ di căn hạch, có lẽ một phần do sự phá vỡ cơ học của khối u bởi kim.”

Chụp nhũ ảnh dương tính giả đã tiêu tốn của Hoa Kỳ 4 tỷ đô la mỗi năm khi việc điều trị bắt đầu sau một chẩn đoán sai, bao gồm cả hóa trị và cắt bỏ vú, chỉ để phát hiện ra khối u là lành tính. Điều này đặt lên vai người phụ nữ và gia đình cô ấy một gánh nặng lớn về cảm xúc, tinh thần và tài chính.

Bản thân việc chụp nhũ ảnh có rủi ro tiềm ẩn. Nó sử dụng  bức xạ ion hóa với liều lượng tương đối cao, góp phần vào sự phát triển của ung thư vú. Trong một nghiên cứu năm 2016, các tác giả viết, "Bức xạ ion hóa được sử dụng trong chụp nhũ ảnh tia X liều thấp có thể liên quan đến nguy cơ sinh ung thư do bức xạ."

Theo một nghiên cứu, việc tầm soát hàng năm bằng chụp nhũ ảnh trên phụ nữ từ 40 đến 80 tuổi có liên quan đến nguy cơ gia tăng ung thư gây ra suốt đời và tỷ lệ tử vong do ung thư vú là 20 đến 25 trường hợp trên 100.000 lần chụp X quang tuyến vú. Nói cách khác, cứ 100.000 phụ nữ được chụp nhũ ảnh hàng năm, thì sẽ có từ 20 đến 25 trường hợp tử vong do ung thư vú trong suốt cuộc đời của họ.

Bạn hoàn toàn có quyền lựa chọn

Mặc dù chụp nhũ ảnh thường được khuyến khích nhất, nhưng phụ nữ còn có những lựa chọn khác cho chẩn đoán mà không bị tác hại của tia X. Đồng thời, phụ nữ cũng cần được cung cấp thông tin để đưa ra quyết định sáng suốt cho sự lựa chọn của mình. Các lựa chọn khác có khả năng an toàn hơn bao gồm tự khám vú và khám lâm sàng, nhiệt kế tuyến vú, siêu âm và MRI.

Nhiệt kế tuyến vú và siêu âm không sử dụng bức xạ và có thể phát hiện những bất thường mà nhũ ảnh có thể bỏ sót, đặc biệt ở những phụ nữ có mô vú dày. Mặc dù có hiệu quả, những thử nghiệm này có thể khó tiếp cận ở Hoa Kỳ.

Mặt khác, cũng cần hiểu việc tầm soát không ngăn ngừa ung thư vú. Thay vào đó, chúng ta cần phòng ngừa bằng cách lựa chọn lối sống lành mạnh, tránh các chất độc và chú ý đến các yếu tố dinh dưỡng nhất định. Vitamin D là một yếu tố dinh dưỡng quan trọng có thể làm giảm nguy cơ ung thư vú.

Điều quan trọng là bạn phải biết mức độ vitamin D của mình, rất quan trọng đối với một số tình trạng sức khỏe và tối ưu hóa nó để bảo vệ sức khỏe của chính bạn. 

Y học thông thường có thể khiến phụ nữ tin rằng chỉ cần làm xét nghiệm hàng năm sẽ bảo vệ họ khỏi ung thư vú. Tuy nhiên, thực hiện một lối sống lành mạnh và lựa chọn sàng lọc thích hợp có thể giúp giúp bạn tránh được cạm bẫy và nguy cơ không cần thiết.

Tiến sĩ Joseph Mercola là người sáng lập Mercola.com. Một bác sĩ chỉnh hình, tác giả bán chạy nhất và nhận nhiều giải thưởng trong lĩnh vực sức khỏe tự nhiên, tầm nhìn chính của ông là thay đổi mô hình y tế hiện đại bằng cách cung cấp cho mọi người nguồn tài nguyên quý giá để giúp họ kiểm soát sức khỏe của mình. Bài báo này ban đầu được xuất bản trên Mercola.com, vui lòng truy cập để biết các liên kết nghiên cứu.

Thiện Đức

Theo ET tiếng Anh



BÀI CHỌN LỌC

Phụ nữ tầm soát ung thư vú sớm ở độ tuổi 40, lợi hay hại? Câu trả lời: Không có lợi, vì sao?