Tín dụng đổ vào BĐS cao hơn nhiều tốc độ tăng tín dụng bình quân - Các ngân hàng muốn NHNN bỏ chính sách 'xin - cho' tín dụng

Bình luận Thanh Đoàn - Tâm Chính • 11:44, 29/06/21

Giúp NTDVN sửa lỗi

Trong bối cảnh nền kinh tế tiêu trầm vì Covid-19, tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm không suy giảm so với kỳ vọng, ở mức 5,1% so với cuối năm 2020. Tuy nhiên, tín dụng đổ vào khu vực BĐS có tốc độ cao hơn nhiều tăng tín dụng của cả nền kinh tế trong khi nợ xấu mở rộng nhanh hơn, tiềm ẩn rủi ro cao hơn. Trong bối cảnh đó, NHNN chưa đồng ý mở room tín dụng hay nghĩ tới việc từ bỏ chính sách bị chỉ trích là "xin - cho" này.

Ngày 21/06, thông tin kết quả hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2021, NHNN cho biết tính đến 15/06/2021, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 5,1% so với cuối năm 2020 (cùng kỳ năm 2020 tăng 2,26%). Dự kiến đến cuối tháng 6 tăng trưởng tín dụng có thể đạt khoảng 5,5 – 6%.

Từ đầu năm, NHNN đề ra 3 kịch bản tăng trưởng tín dụng cho năm 2021

  • Kịch bản 1, nếu việc tiêm vaccine đại trà và dịch Covid-19 được kiểm soát, tín dụng sẽ tăng 12% đến 13%, có thể đạt 14%.
  • Kịch bản 2, dịch kéo dài đến tháng 6, các biện pháp giãn cách xã hội vẫn được thực hiện, thời gian tiêm vaccine kéo dài, tín dụng có thể tăng từ 10% đến 12%.
  • Kịch bản 3, dịch kéo dài đến hết năm, tăng trưởng tín dụng khoảng 7% đến 8%.

Với diễn biến nền kinh tế như hiện tại, NHNN đang hướng tới kịch bản tăng trưởng tín dụng ở mức khoảng 12%, nhưng sẽ điều chỉnh linh hoạt. Với mức tín dụng 5,1% ở thời điểm giữa tháng 6, theo NHNN, mục tiêu tăng trưởng tín dụng 12% vào cuối năm nay sẽ đạt được, thậm chí nếu thuận lợi có thể mở rộng tín dụng cao hơn con số này.

Từ đầu năm, NHNN đã giao xong chỉ tiêu tín dụng lần một đến các TCTD trong hệ thống. Nhóm “BIG4” gồm Agribank, BIDV, VietinBank được cấp “room” năm nay 6,5-7,5%, riêng Vietcombank được giao 10,5%. Hạn mức của một số NHTMCP như VIB, ACB, Sacombank được giao là 8,5-9,5%; MB, VPBank, Techcombank là 10,5-12%. Có thể thấy, mặt bằng “room” tín dụng được NHNN cấp cho các TCTD thấp hơn tổng thể các năm trước.

Năm nay, nhiều ngân hàng khác cũng dự kiến “xài” hết ít nhất 2/3 room tín dụng được cấp trong cả năm và đã nộp đơn lên NHNN kiến nghị được nới room tín dụng. Ngay từ tháng 04/2021, nhiều ngân hàng buộc phải hạn chế giải ngân vì đã tiệm cận hạn mức tăng trưởng tín dụng được giao như MSB, MB, Sacombank... Hiện đã có khoảng 10 NHTM đã gửi đề nghị xin NHNN sớm nới “room”.

Câu hỏi đặt ra là, tín dụng tăng gần 5% trong 5 tháng đầu năm trong bối cảnh nền kinh tế vẫn chịu ảnh hưởng khá nặng nề của dịch bệnh liệu có bất bình thường? Có hay không hiện tượng vốn chảy vào chứng khoán, bất động sản, hay ngân hàng bắt tay doanh nghiệp cho vay đảo nợ?

Tín dụng chảy vào bất động sản đã tăng ít nhất 15% so cùng kỳ

Thực tế, GDP 6 tháng đầu năm tăng 5,68% so cùng kỳ, tương tín dụng tăng 5,1% là hợp lý so với cấu trúc tài chính hiện tại của nền kinh tế. Tuy nhiên, chất lượng tín dụng là vấn đề lớn nhất. Hiện nay, tín dụng BĐS tăng mạnh, khối nợ xấu đang mở rộng và tiềm ẩn nhiều rủi ro trong hệ thống.

Đồ Thị, Tăng Trưởng, Tài Chính, Lợi Nhuận, Cổ Tức
Hiện nay, tín dụng BĐS tăng mạnh, khối nợ xấu đang mở rộng và tiềm ẩn nhiều rủi ro trong hệ thống. (Ảnh: Pixabay)

Tín dụng bất động sản tại các ngân hàng có xu hướng tăng nhanh thời gian qua liên tục được cảnh báo. Mới nhất, vào ngày 15/6/2021, HSBC đưa ra đánh giá, dịch bệnh Covid-19 diễn biến kéo dài đã phủ bóng lên những rủi ro ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, mà với Việt Nam, đó là ngành bất động sản, bởi lẽ bất động sản thường đóng góp 5-15% cho tăng trưởng GDP của ASEAN và tỷ lệ này ở Việt Nam là khoảng 8%, trong khi hệ lụy từ “bong bóng” nhà đất giai đoạn 2007-2012 đến nay vẫn là gánh nặng với hệ thống ngân hàng. Hiện tại, ngành ngân hàng đã gượng dậy, nhưng dư nợ bất động sản vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Trong hệ thống hiện tồn tại ngân hàng thương mại có tỷ lệ dư nợ cho vay BĐS trên 50% tổng dư nợ. Đây là một dấu hiệu rất xấu và bất thường.

Trước thực tế trên, Ngân hàng Nhà nước phải thận trọng trong việc cân bằng giữa hạn chế tín dụng đổ vào bất động sản với nỗ lực giảm thiểu rủi ro trước mắt do đại dịch Covid-19 đối với ngành này. Các số liệu thống kê cho thấy, tăng trưởng tín dụng trong lĩnh vực bất động sản trong tháng 1 và tháng 2/2021 đã vượt ngưỡng mục tiêu 12% của Ngân hàng Nhà nước. Đến giữa tháng 4/2021, tổng tăng trưởng tín dụng lĩnh vực này đạt trên 15% so với cùng kỳ năm ngoái. Như vậy, tính chung 6 tháng đầu năm 2021, dòng vốn chảy vào thị trường BĐS tăng cao hơn nhiều tốc độ tăng tín dụng của toàn nền kinh tế.

“Tín dụng cũng chưa thể đi vào sản xuất - kinh doanh bình thường như giai đoạn 2017 - 2018 bởi hoạt động của nhiều doanh nghiệp đang bị tắc, thu hút vốn FDI cũng đang chậm lại. Vì vậy, tín dụng hiện nay, ngoài chảy vào hoạt động sản xuất - kinh doanh, thì một phần vẫn chảy sang các doanh nghiệp kẹt nợ, phải vay để trả nợ”, ông Hiển nhận định.

Nợ xấu đang mở rộng mạnh mẽ sau khủng hoảng

TS. Cấn Văn Lực, chuyên gia tài chính - ngân hàng cho biết, trong tổng số nợ cơ cấu lại 357.000 tỷ đồng hiện tại, có khoảng 1/3 là tiềm ẩn nợ xấu, tức là có thể biến thành nợ xấu khi hết thời hạn tái cơ cấu. Đến cuối năm nay, các ngân hàng bắt buộc trích lập dự phòng rủi ro cho phần tín dụng tiềm ẩn nợ xấu theo Thông tư 03/2021/TT-NHNN vào khoảng 40.000-44.000 tỷ đồng và khoản này sẽ được trừ vào lợi nhuận nên các ngân hàng sẽ khó giữ mức tăng trưởng lợi nhuận cao 20-30% như những năm trước.

TS. Cấn Văn Lực đánh giá nợ xấu của hệ thống ngân hàng có thể tăng lên mức 2,5-3% vào cuối năm 2021 và việc trích lập dự phòng rủi ro có thể kéo dài trong 3 năm theo Thông tư 03/2021. Khi chất lượng tài sản xấu đi buộc ngân hàng phải tăng dự phòng rủi ro và điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới lợi nhuận.

Báo cáo tại phiên họp mở rộng của Thường trực Ủy ban Kinh tế ngày 10/6/2021, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Đào Minh Tú cho biết, nếu cộng tất cả các khoản nợ xấu nội bảng, nợ xấu bán cho VAMC chưa được xử lý, nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu… thì con số này vào khoảng 3,43-3,84%, còn tính toán theo Thông tư 01/2020 và Thông tư 03/2021 thì tổng số nợ xấu trong hệ thống vào khoảng 4,56-4,98%.

nếu cộng tất cả các khoản nợ xấu nội bảng, nợ xấu bán cho VAMC chưa được xử lý, nợ tiềm ẩn trở thành nợ xấu… thì con số này vào khoảng 3,43-3,84%, còn tính toán theo Thông tư 01/2020 và Thông tư 03/2021 thì tổng số nợ xấu trong hệ thống vào khoảng 4,56-4,98%.

NHNN vẫn chưa đồng ý bỏ trần tín dụng

Về lý thuyết, NHNN có rất nhiều công cụ quản lý an toàn trong hoạt động tín dụng của các NHTM. NHTW các nền kinh tế tự do hầu hết đều sử dụng các công cụ như hệ số an toàn vốn, LTD (dư nợ tín dụng/vốn huy động), chỉ số thanh khoản, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn, trọng số gắn với từng nhóm tài sản của NHTM trong tính toán tài sản có rủi ro (trong tính toán CAR)... để giảm dòng tín dụng chảy vào các thị trường có rủi ro và đảm bảo các NHTM hoạt động trong khuôn khổ an toàn, lạnh mạnh hơn. Mỗi ngân hàng tự điều chỉnh tăng trưởng tín dụng theo khả năng kinh doanh của mình.

Các ngân hàng được cho là cạn room và phải "chờ đèn xanh" từ phía NHNN, điều này khiến cho các ngân hàng thấy nặng phong cách xin - cho, và đề xuất cho họ được tự quyết định cho vay theo cung - cầu thị trường.

Không chỉ các chuyên gia trong nước, Moody’s từng nhận định hiệu quả chính sách tiền tệ của Việt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực do NHNN kiểm soát thông qua đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cho từng ngân hàng và đặt trần lãi suất cho vay và tiền gửi. Tương tự, IMF cũng cho rằng Việt Nam nên dỡ bỏ dần trần tăng trưởng tín dụng; đồng thời, nới lỏng quy định về trần lãi suất huy động và cho vay nhằm cải thiện tính hiệu quả chính sách tiền tệ theo cơ chế thị trường.

Phản hồi lại ý kiến này, NHNN vẫn cho rằng trong tương lai, NHNN có thể xem xét bỏ cơ chế trần tín dụng như hiện nay với điều kiện vốn trung, dài hạn chủ yếu huy động qua thị trường tài chính, chứng khoán, thị trường vốn chứ không phải qua thị trường tiền tệ; các NH không phải huy động vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn như hiện nay.

Theo NHNN, ở thời điểm hiện tại, yêu cầu quan trọng của Chính phủ đang là ổn định vĩ mô, trước hết phải ổn định thị trường tài chính tiền tệ. Hạn mức tín dụng đang là một trong những công cụ hiệu quả để NHNN bình ổn thị trường tiền tệ. Kinh tế Việt Nam đang dựa chủ yếu vào tín dụng (bằng khoảng 140% GDP), nếu không kiểm soát giới hạn tăng trưởng tín dụng của từng ngân hàng, khả năng nợ xấu sẽ tăng không thể lường được, gây ra những bất ổn vĩ mô.

Tuy nhiên, việc thiếu một hệ thống giám sát độc lập, hiệu quả hoạt động của các NHTM và hoạt động giám sát của NHNN còn yếu cũng giải thích phần nào cho các quyết định chính sách thuần túy xin - cho, thiếu vắng hơi thở của thị trường.

Thanh Đoàn - Tâm Chính



BÀI CHỌN LỌC

Tín dụng đổ vào BĐS cao hơn nhiều tốc độ tăng tín dụng bình quân - Các ngân hàng muốn NHNN bỏ chính sách 'xin - cho' tín dụng