Phần 4: Dấu hiệu trước khủng hoảng: Giải cứu ngân hàng, doanh nghiệp trên quy mô lớn

Với sự xuất hiện bất thường của dịch bệnh, từ gia súc, gia cầm cho tới dịch viêm phổi Vũ Hán, bong bóng tài sản, tín dụng, nợ xấu có nguy cơ phát nổ bắt đầu từ Trung Quốc đang lan rộng ra các nền kinh tế khác vốn bất ổn trên một đống nợ cao kỷ lục. Rất có thể một cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu lớn và khốc liệt đang cận kề…

Về cơ bản, mỗi cuộc khủng hoảng trong quá khứ xảy ra đều liên quan đến ít nhất 1 trong 4 dấu hiệu dưới đây, trong khi những cuộc khủng hoảng lớn sẽ xuất hiện đầy đủ cả 4 dấu hiệu này: (i) bong bóng giá tài sản; (ii) quy mô nợ lớn và khả năng trả nợ suy giảm (bất cân đối tài chính); (iii) rủi ro nội tại trong khối tài sản đầu tư của các ngân hàng thương mại (NHTM) toàn cầu; (iv) can thiệp của chính phủ nhằm giải cứu ngân hàng, thanh khoản.

Cả bốn dấu hiệu khủng hoảng kinh tế toàn cầu không những xuất hiện mà còn được tích tụ ở mức rủi ro rất cao trước cả đại dịch viêm phổi Vũ Hán. Trong Phần 1, dấu hiệu về bong bóng bất động sản tại Trung Quốc và bong bóng quỹ ETF trên thị trường chứng khoán (TTCK) đều đã tích tụ suốt 1 thập kỷ qua, rủi ro tích tụ ngày một nghiêm trọng trong 5 năm gần đây. Trong Phần 2, dấu hiệu về quy mô nợ, mất khả năng trả nợ thể hiện ở: nợ khu vực công và tư toàn cầu liên tiếp đạt kỷ lục kể từ năm 2016 đến nay, IMF dự báo doanh nghiệp mất khả năng trả nợ 19 nghìn tỷ từ giữa năm 2019, làn sóng vỡ nợ của doanh nghiệp Trung Quốc liên tiếp đạt kỷ lục trong 2 năm 2018-2019 cho thấy “bóng ma” khủng hoảng cận kề dù có đại dịch viêm phổi Vũ Hán hay không. Trong Phần 3, dấu hiệu rủi ro nội tại trong khối tài sản đầu tư của các ông lớn - ngân hàng thương mại toàn cầu - đang dần bộc lộ.

Nhiều chính phủ giải cứu hệ thống tài chính ngân hàng trước khi đại dịch viêm phổi Vũ Hán xuất hiện 

Khi chính phủ muốn can thiệp sâu hơn vào nền kinh tế thị trường, họ sử dụng công cụ của mình thông qua hệ thống ngân hàng, hướng đến mục tiêu duy trì sự tăng trưởng kinh tế thông qua điều phối hệ thống ngân hàng, chủ yếu là để chạy theo mục tiêu tăng trưởng - vốn là tiêu chí đánh giá sự thành bại của mỗi chính phủ và chính trị gia.

Ngân hàng được xem là người đi vay và cho vay cuối cùng của nền kinh tế. Do đó, các tổ chức trong ngành tài chính không giống như các công ty khác, “sức khỏe” của ngân hàng mang tính quyết định đối với “sức khỏe tài chính” của nền kinh tế. Hệ thống ngân hàng cung cấp nguồn tài trợ mà tất cả các doanh nghiệp, người lao động… hay nói đơn giản chính là “phần còn lại của nền kinh tế” đều dựa vào đó. Điều này có nghĩa là nếu hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính đóng băng, không hoạt động hoặc không thể cung vốn thì khi đó suy thoái kinh tế và khủng hoảng sẽ là điều tất yếu. Tất cả các ngành công nghiệp đều được đan xen sâu sắc với hệ thống ngân hàng, thông qua một mạng lưới các khoản nợ và nghĩa vụ.

Do đó, để tránh rủi ro hệ thống và khiến mọi thứ trở nên tồi tệ hơn trước các cuộc khủng hoảng, đồng thời tránh làm “lung lay” quyền lực chính trị của giới cầm quyền, chính phủ sẽ phải có biện pháp “giải cứu” ngành ngân hàng và các doanh nghiệp lớn, có tác động “trọng yếu” tới an ninh tài chính quốc gia. 

Theo The New York Times, rủi ro hệ thống này đã khiến chính quyền của Tổng thống Bush, Tổng thống Obama và Fed phải tiến hành các hoạt động “giải cứu” hệ thống tài chính, ngân hàng trong cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 2008, 2009. Fed đã cấp tổng khoản vay lên tới 1,3 nghìn tỷ USD vào tháng 3/2009, trong cả chương trình thanh khoản khẩn cấp và chương trình giải cứu ngân hàng Bear Stearns, American International Group và một số tổ chức tài chính khác; cũng như đầu tư tiền vào các điều khoản có lợi cho hàng trăm ngân hàng.

Tương tự như vậy, khi nền kinh tế “rơi tự do” vào những năm 2008 và 2009, ngành công nghiệp ô tô đứng trước bờ vực thẳm. Điều đáng sợ là nếu những tập đoàn hàng đầu như General Motors, Chrysler và Ford sụp đổ, sẽ kéo theo hệ lụy là hàng ngàn nhà cung cấp có nguy cơ sụp đổ theo, và hàng triệu nhân công có khả năng mất việc, điều này sẽ gây ra tình trạng bất ổn cho nền kinh tế vốn trong thời kỳ suy thoái nghiêm trọng. Do đó, chính quyền Obama đã chỉ đạo các khoản tiền từ ngân hàng nhằm cứu trợ cho các khoản vay, giúp G.M. và Chrysler thông qua tái cấu trúc khoản vay. Bản chất của tái cấu trúc khoản vay là giãn nợ, tăng hoặc giảm nợ, hoặc không hạch toán nợ xấu đã phát sinh, đảm bảo doanh nghiệp không phải thực thi nghĩa vụ của họ theo cam kết cũ, mà tạo ra một cam kết mới với chuẩn mực an toàn thấp hơn nhiều lần cam kết cũ cho bên nhận nợ. 

Theo tờ Economic Times của Ấn Độ, những thất bại như trên có thể dễ dàng gây ra những cơn ác mộng chính trị. Nếu thủ tướng Modi và Đảng Bharatiya Janata của ông thành công trong việc điều hướng những “quả mìn” tiềm năng này, thì có nghĩa là Đảng cầm quyền của ông chưa phải trả giá đắt về chính trị. Tuy nhiên, điều đó có thể thay đổi. Nếu phần lớn công chúng vào ngày mai bắt đầu tin rằng tiền của họ vào ngân hàng là không an toàn, thì cuối cùng có thể tạo ra sự hoảng loạn với tỷ lệ lớn.

Nhìn chung, các chính phủ đều sẽ “hành động” trước khi thị trường tài chính có nguy cơ “đổ vỡ”. Và thời điểm “giải cứu” ngành ngân hàng, công nghiệp, chính là dấu hiệu rõ ràng nhất trước mọi cuộc khủng hoảng.

Sự đan xen về ‘sức khỏe tài chính’ của chính phủ và của các ngân hàng tạo ra mối nguy hại cho nền kinh tế trước bất kỳ cuộc khủng hoảng nào.

Ý - mắt xích tài chính rủi ro nhất trước khủng hoảng

Ý, một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của dịch viêm phổi Vũ Hán, đang phải đối mặt với nguy cơ suy giảm mạnh hoạt động kinh tế. Nhiều công ty Ý thiếu lợi nhuận cần thiết để trả nợ, kéo theo ngành ngân hàng từ suy yếu đến mức khủng hoảng.

Ông Nicola Borri, giáo sư tài chính tại Luiss, một trường đại học ở Rome, cho biết: “Có khả năng các ngân hàng sẽ cần được giải cứu. Nền kinh tế về cơ bản đã bị dừng lại. Rõ ràng, các ngân hàng Ý sẽ bị ảnh hưởng nặng nề”.

Từ năm 2015 đến 2018, tổng các khoản nợ xấu đã giảm từ 18% trên tổng số các khoản vay ngân hàng xuống còn 8%. Tuy nhiên, bên dưới sự phát triển tích cực đó, một “xu hướng” khác đã diễn ra có thể tăng cường thêm các lỗ hổng của nền kinh tế Ý. Đó là việc các ngân hàng tăng mua nợ chính phủ Ý.

Vào tháng 2 năm 2019, các ngân hàng Ý đã tăng 14% tài sản trái phiếu chính phủ Ý so với năm trước, theo Moody - cơ quan xếp hạng tín dụng. Điều đó làm sống lại mối lo ngại về cái gọi là “doom loop” (một vòng xoáy tiêu cực có thể xảy ra khi các ngân hàng nắm giữ trái phiếu và chính phủ bảo lãnh cho các ngân hàng). Sự đan xen về “sức khỏe tài chính” của chính phủ và của các ngân hàng tạo ra mối nguy hại cho nền kinh tế trước bất kỳ cuộc khủng hoảng nào.

Nợ chính phủ Ý vượt quá 131% sản lượng kinh tế hàng năm, theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Đó là cấp độ cao thứ hai ở châu Âu, chỉ sau Hy Lạp. Khi các nhà đầu tư trở nên lo lắng về gánh nặng nợ công, họ đòi hỏi lãi suất cao hơn cho trái phiếu chính phủ. Điều đó làm giảm giá trị của trái phiếu. 

Khi ấy, các ngân hàng phải đối mặt với áp lực phải cắt giảm cho vay để đảm bảo họ có đủ vốn. Điều đó làm mất đi các công ty tín dụng, làm suy yếu tăng trưởng kinh tế, từ đó khuếch đại những lo ngại rộng lớn hơn về khả năng của chính phủ để có thể duy trì hiện trạng khoản nợ của mình.

Nếu các ngân hàng thấy mình gặp rắc rối đủ sâu, họ có thể bị buộc phải tăng tiền mặt bằng cách bán bớt tài sản, bao gồm trái phiếu chính phủ. Và nếu doanh số bán trái phiếu đủ lớn, khủng hoảng có thể chuyển khẩn cấp từ hệ thống ngân hàng sang chính phủ. Từ đó, có thể thấy rõ vấn đề được đặt ra, đó là để “giải cứu” chính mình khỏi cuộc khủng hoảng, chính phủ cần “giải cứu” ngành ngân hàng.

Trung Quốc - thị trường tài chính liều lĩnh nhất thế giới - đón nhận làn sóng vỡ nợ trước khi đại dịch xuất hiện 

Vào cuối năm 2019, Bloomberg đưa tin rằng các ngân hàng nông thôn Trung Quốc đang lao đao trong cơn khủng hoảng, nợ tiêu dùng của người dân nước này tăng vọt và hiện tượng tái cơ cấu trái phiếu quy mô lớn là những dấu hiệu cho thấy hệ thống tài chính của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang căng thẳng nghiêm trọng. “Quả bom nợ” 40.000 tỷ USD của Trung Quốc ngày càng “phình to”.

“Chính quyền Trung Quốc đang cố gắng thực hiện các biện pháp cần thiết tối thiểu để ngăn chặn nguy cơ ‘cỗ xe lửa kinh tế’ trật đường ray”, Bloomberg dẫn lời nhận định của Andrew Tilton, nhà kinh tế trưởng tại Goldman Sachs.

Một cuộc khảo sát được thực hiện vào cuối năm 2019 tại Trung Quốc, cho biết sự gia tăng của các khoản vay kinh doanh của nước này một phần là do sự trở lại của “tài chính ngầm”. “Tài chính ngầm” được đề cập ở đây nói đến các hoạt động cho vay không được quản lý, kiểm soát và thường có rủi ro cao khi có ít quy định, giám sát từ nhà quản lý. 

Dữ liệu của China Beige Book cho thấy tỷ lệ cho vay từ các tổ chức phi ngân hàng đã tăng lên gần 40% trong quý IV năm 2019, trong khi cùng kỳ 6 năm trước (2013) mới ở mức 29%.

Ngoài ra, vào cuối năm 2019, Bộ Tài chính Trung Quốc cũng ra lệnh cho các chính quyền địa phương đẩy nhanh việc cho các dự án cơ sở hạ tầng vay vốn. Bloomberg nhận định đây là một dấu hiệu cho thấy Bắc Kinh lo ngại về nguy cơ nền kinh tế tiếp tục sa sút. 

Sự yếu kém trong hệ thống đã được chứng minh vào năm ngoái, khi Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc tiến hành một cuộc khảo sát để xem các ngân hàng sẽ đối phó thế nào nếu nền kinh tế trượt dốc, đồng nhân dân tệ “lao dốc”, nợ xấu tăng vọt hay thanh khoản “bốc hơi”. Khảo sát cho thấy có 159 ngân hàng - gần 14% tổng số ngân hàng tham gia - sẽ bị “phá vỡ” khi gặp tình huống căng thẳng nghiêm trọng, trong đó hầu hết là những ngân hàng nhỏ.

Dịch viêm phổi Vũ Hán đã giáng một đòn mạnh vào nền kinh tế Trung Quốc. Hiện tại, Trung Quốc đang tăng cường nỗ lực để nâng đỡ ngành ngân hàng và ngăn chặn các rủi ro tài chính lan rộng ra khỏi nền kinh tế.

Hệ thống ngân hàng của Trung Quốc đã bị rung chuyển trước khi dịch viêm phổi Vũ Hán bùng phát. Hiện nay, những ngân hàng nhỏ hơn đang chuẩn bị cho một khoản nợ xấu tăng đột biến khi các doanh nghiệp thiếu tiền mặt, và một số ngân hàng có thể cần được chính phủ giải cứu. Bắc Kinh hiện đang cố gắng giúp đỡ bằng cách nới lỏng những điều kiện mà các công ty cần đáp ứng để có được các khoản vay, và các quan chức đang yêu cầu các ngân hàng trì hoãn việc thu hồi nợ từ doanh nghiệp.

Sự gia tăng các khoản nợ xấu có thể gây “căng thẳng” cho hệ thống ngân hàng Trung Quốc, đặc biệt là khi các ngân hàng nhỏ hơn đã bị siết chặt bởi sự suy thoái kinh tế của đất nước.

Tiền đang “chạy ra” khỏi hệ thống ngân hàng Trung Quốc và nguồn tiền gửi “cạn kiệt” vì những lo ngại về “sức khỏe kinh tế” của đất nước, vốn đã bị tổn hại bởi những khối nợ xấu khổng lồ, dư địa thanh khoản không còn là bao, và “lao đao” vì cuộc chiến thương mại với Hoa Kỳ ngay cả trước khi dịch virus xảy ra.

Các chính phủ giải cứu hệ thống tài chính bằng mọi cách, với số tiền không giới hạn

Hiện nay, trên truyền thông xuất hiện dày đặc thông tin về việc chính quyền các nước đang ra sức giải cứu nền kinh tế bằng mọi cách, mọi giá, với số tiền không giới hạn. Các chính phủ đang “chạy đua” để hỗ trợ hệ thống tài chính của đất nước. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là cần bao nhiêu tiền để “bơm” vào nền kinh tế, làm thế nào để thực hiện nó, và liệu như thế sẽ là đủ !?

Hãng tin Reuters cho biết Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) sẽ bơm 1.200 tỷ NDT (174 tỷ USD) vào hệ thống tài chính để giải cứu nền kinh tế Trung Quốc vốn đang lao dốc vì dịch viêm phổi Vũ Hán. 

Các ngân hàng được chính phủ chấp thuận “giải cứu” bằng các khoản vay, nới lỏng các hướng dẫn về nợ quá hạn, tránh báo cáo các khoản nợ quá hạn và cho người vay “tạm ngưng” việc thanh toán. PBOC đã cắt giảm yêu cầu về mức dự trữ ngân hàng để giải phóng 79 tỷ USD nhằm nâng đỡ hệ thống ngân hàng và các công ty gặp khủng hoảng thông qua việc giảm lãi suất cho người vay.

Tổng thống Donald Trump đã ký một dự luật kích thích trị giá 2 nghìn tỷ USD “giải cứu” nền kinh tế thông qua hệ thống ngân hàng, bao gồm 500 tỷ USD để hỗ trợ cho các công ty và 350 tỷ USD cho các doanh nghiệp nhỏ. Cục Dự trữ Liên bang lần đầu tiên đã cam kết việc mua tài sản không giới hạn để hỗ trợ thị trường tài chính, bao gồm việc mua trái phiếu doanh nghiệp và các quỹ đầu tư tài chính.

Chính phủ Úc đã đồng ý gói kích thích tài chính trị giá hơn 80 tỷ đô la Úc để “nâng đỡ” nền kinh tế.

Nhật Bản đã phê duyệt một kế hoạch kích thích kinh tế gần 1 nghìn tỷ USD. Chính phủ nước này đã công bố gói chi tiêu khoảng 4 tỷ đô la tập trung vào các công ty vừa và nhỏ. Ngân hàng Nhật Bản sẽ mua các quỹ giao dịch trao đổi trị giá hơn 100 tỷ USD, gấp đôi cam kết trước đó, đồng thời dành tiền để duy trì hoạt động của thị trường tài trợ doanh nghiệp.

Chính phủ Đức đã ký kết gói 750 tỷ euro (800 tỷ USD) cũng như đảm bảo thực hiện các kế hoạch cho các khoản vay, bảo lãnh, cổ phần của chính phủ trong các công ty và ngân hàng để giữ cho các doanh nghiệp hoạt động.

Chính phủ Tây Ban Nha đã sẵn sàng để cung cấp tới 219 tỷ USD viện trợ, bao gồm 100 tỷ euro hỗ trợ các ngân hàng, doanh nghiệp thông qua việc bảo lãnh cho các khoản vay của các công ty, và 17 tỷ euro hỗ trợ trực tiếp cho các doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, các quan chức chính phủ Anh cho biết vào ngày 17 tháng 3 rằng họ đang tập hợp một quỹ cứu trợ trị giá 330 tỷ bảng Anh, chiếm khoảng 15% tổng sản phẩm quốc nội, để “bơm” vào hệ thống ngân hàng, nhằm cung cấp cho các khoản vay được nhà nước hỗ trợ để “giải cứu” các doanh nghiệp Anh. 

Tâm An

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

https://edition.cnn.com/2020/03/06/economy/china-banks-stress-test-coronavirus/index.html

https://economictimes.indiatimes.com/industry/banking/finance/banking/rbi-board-member-urges-pm-modi-for-banking-sector-package/articleshow/75088794.cms

https://www.nytimes.com/2020/03/19/upshot/coronavirus-comparing-bailouts.html

https://www.nytimes.com/2020/03/17/business/italy-banks-coronavirus.html

https://vietnambiz.vn/su-troi-day-manh-me-cua-he-thong-tai-chinh-ngam-keo-no-vay-cac-cong-ty-trung-quoc-tang-cao-ki-luc-20191227151442497.htm

https://baomoi.com/trung-quoc-bom-174-ty-usd-de-giai-cuu-thi-truong-dang-lao-doc-vi-dich-virus-corona/c/33843249.epi

https://qz.com/1819776/here-are-the-coronavirus-bailouts-being-prepared-around-the-world/