Những ‘hiểm trở’ trong mối quan hệ Việt - Trung (Phần 2)

Mối quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc rất phức tạp và thường xuyên gặp rắc rối. Mặc dù có các tuyên bố ngoại giao ca ngợi sự đoàn kết về ý thức hệ và sự tương đồng trong hệ thống chính quyền, nhưng "thiện chí" này thường bị can thiệp bằng các tranh chấp lãnh thổ trên biển, lo ngại an ninh, kinh tế và căng thẳng địa chính trị.

Phần 1

Gần đây, nhiều ý kiến cho rằng quan hệ song phương Việt -Trung đã xấu đi và đạt đến “điểm thấp nhất trong mối quan hệ kể từ những năm 1980”. Trước tình hình đó, Việt Nam đã phản ứng “bằng cách đa dạng hóa quan hệ đối tác ngoại giao và tăng cường năng lực của chính mình”, theo cách đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, hợp tác và đấu tranh, ba không và bốn không, và tranh chấp Biển Đông.

Thực ra, Việt Nam đã có bước chuẩn bị từ lâu... Tuy nhiên, liệu rằng cách thức không đối đầu trực diện, mà chủ yếu là "lấy nhu chế cương" của Việt Nam có thật sự hiệu quả?

Đa dạng hóa quan hệ đối ngoại

Chính sách đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của Việt Nam đã được thực hiện gần một phần tư thế kỷ (nếu không muốn nói là lâu hơn). Nói cách khác, chính sách đa dạng hóa không phải là một phản ứng tức thời đối với sự hung hăng của Trung Quốc, mà là một chiến lược lâu dài theo cách bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và các cường quốc khác. 

Đáng chú ý, Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc lần đầu tiên vào tháng 11/1991 và với Hoa Kỳ vào tháng 7/1995.

Chính sách đa dạng hóa quan hệ của Việt Nam không chỉ dừng lại ở bình thường hóa ngoại giao mà còn bao gồm đàm phán các hiệp định đối tác song phương. 

Trên thực tế, điều này đã diễn ra dưới hình thức ký kết 17 hiệp định về quan hệ đối tác chiến lược, hiệp định đầu tiên với Nga vào năm 2001, tiếp theo là Nhật Bản (2006), Ấn Độ (2007), Trung Quốc (2008), Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Vương quốc Anh, Đức, Ý, Singapore, Thái Lan, Indonesia, Pháp, Malaysia, Philippines, Úc và gần đây nhất là New Zealand (2020). 

Theo thời gian, một số quan hệ đối tác chiến lược trước đó đã được nâng cấp thành quan hệ đối tác chiến lược toàn diện hoặc quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện.

Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Jim Mattis (R) bắt tay một quan chức khi ông đến Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 16 tháng 10 năm 2018 (Ảnh: THOMAS WATKINS / AFP qua Getty Images)
Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Jim Mattis (R) bắt tay một quan chức khi ông đến Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 16 tháng 10 năm 2018 (Ảnh: THOMAS WATKINS / AFP qua Getty Images)

Ngoài ra, Việt Nam đã đàm phán 11 hiệp định về quan hệ đối tác toàn diện với các quốc gia Latinh và Nam Mỹ (Chile, Brazil, Venezuela, Argentina), Châu Âu (Ukraine, Đan Mạch, Hungary), Châu Phi (Nam Phi), Đông Nam Á (Myanmar, Brunei), và Bắc Mỹ (Hoa Kỳ).

Tóm lại, Việt Nam đã không đáp trả sự đe dọa gần đây của Trung Quốc bằng cách bắt đầu một chính sách mới nhằm đa dạng hóa quan hệ ngoại giao của mình. Những mối quan hệ này đã có từ lâu. Việt Nam dựa vào các mối quan hệ này như một đòn bẩy hỗ trợ chính trị, ngoại giao và vật chất để chống lại sức ép của Trung Quốc.

Hợp tác và Đấu tranh

“Hợp tác và đấu tranh” là một khái niệm được chính quyền Việt Nam thông qua vào giữa năm 2003 trong một văn bản có tựa đề “Chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới”.

Có sự phân biệt giữa "đối tác hợp tác” (đối tác) và "đối tượng đấu tranh" (đối tượng), dưới dạng một khái niệm biện chứng “hợp tác và đấu tranh” (vừa hợp tác, vừa đấu tranh). Sau năm 2003, Việt Nam thực hiện quan hệ đối tác chiến lược thông qua chính sách này.

Cần lưu ý rằng “hợp tác và đấu tranh” được áp dụng không chỉ để can dự với Trung Quốc mà còn cả các cường quốc khác, bao gồm cả Hoa Kỳ. Nghị quyết này đã tạo cơ sở tư tưởng cho việc hàn gắn quan hệ quốc phòng với Mỹ. 

Vào tháng 11/2003, Tướng Phạm Văn Trà đã có chuyến thăm đầu tiên của một Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam tới Washington. Tướng Trà đã gặp Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld và hai người nhất trí sẽ trao đổi các chuyến thăm trên cơ sở luân phiên.

Nghị quyết này đã được xem xét và thông qua lại vào năm 2013, tiếp tục tạo khuôn khổ cho quan hệ của Việt Nam với các đối tác chiến lược và toàn diện. 

Khái niệm “hợp tác và đấu tranh” là trọng tâm trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. 

Ba không và bốn không

Sách Trắng Quốc phòng năm 2019 của Việt Nam tuyên bố: Việt Nam nhất quán chủ trương không tham gia bất kỳ liên minh quân sự nào, đứng về phía nước này chống lại nước khác, cho phép nước khác lập căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để tiến hành các hoạt động quân sự chống lại nước khác, cũng như không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Trên thực tế, “ba không” đã xuất hiện trong cả bốn Sách trắng về Quốc phòng của Việt Nam, được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1998 và sau đó (2004, 2009 và 2019).

Bất chấp các điều khoản ban đầu của Ba không, Hà Nội dường như đang khắc phục các ngoại lệ để mở rộng quyền tự do hành động của mình. 

Văn bản nêu rõ Chính phủ Việt Nam “sẵn sàng chào đón các tàu của hải quân, tuần duyên, biên phòng và các tổ chức quốc tế hoặc thông thường đến thăm cảng, hoặc dừng lại tại các cảng của mình để sửa chữa, bổ sung vật tư hậu cần, kỹ thuật hoặc tiếp tế khỏi thiên tai".

Tác giả Albert Wolf cho rằng: “Một ‘lằn ranh đỏ’ có thể được coi là một mối đe dọa rõ ràng, một lằn ranh mà nếu vượt qua, mục tiêu sẽ phải hứng chịu toàn bộ sự giận dữ của nhà nước đã đưa ra mối đe dọa ngay từ đầu”.

Nhưng “bốn không” của Việt Nam trong Sách trắng Quốc phòng năm 2019 không thể được coi là ranh giới đỏ hay mối đe dọa đối với Trung Quốc. 

Nghị định số 104 liệt kê năm loại chuyến thăm của tàu: 

  • Chuyến thăm chính thức của một nguyên thủ quốc gia;
  • Chuyến thăm xã giao để tăng cường quan hệ song phương;
  • Chuyến thăm thường xuyên để cung cấp hàng hóa; 
  • Chuyến thăm để sửa chữa tàu hoặc bảo trì;
  • Các hoạt động khác, bao gồm nhân đạo, tìm kiếm và cứu nạn... 

Tất cả hải quân nước ngoài được giới hạn ở một chuyến thăm xã giao mỗi năm. Không có hạn chế đối với các loại chuyến thăm khác của hải quân nước ngoài.

Một thập kỷ trước đó, vào năm 2009, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố rằng các cơ sở sửa chữa thương mại của Việt Nam sẽ mở cửa cho tất cả hải quân trên thế giới. Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên chấp nhận lời đề nghị của Thủ tướng Dũng. Lần sửa chữa đầu tiên được tiến hành trên tàu USNS Safeguard tại cảng Sài Gòn vào tháng 9 năm 2009. 

Năm sau, Hoa Kỳ và Việt Nam ký hợp đồng bảo dưỡng và sửa chữa nhỏ các tàu Sealift của Hải quân Hoa Kỳ. Sau đó, năm chuyến sửa chữa tàu đã được thực hiện. USNS Richard E. Byrd đã tiến hành sửa chữa tại Vịnh Vân Phong vào tháng 2 đến tháng 3 năm 2010. Bốn chuyến sửa chữa khác được thực hiện tại các cơ sở dân sự ở Vịnh Cam Ranh: USNS Richard E. Byrd vào tháng 8 năm 2011 và tháng 6 năm 2012; USNS Walter S. Diehl vào tháng 10 năm 2011 và USNS Rappahannock vào tháng 2 năm 2012.

Hơn nữa, Việt Nam đã chào đón hải quân từ nhiều quốc gia đến Cảng Quốc tế Cam Ranh, một cơ sở dân sự, sau khi nó được khai trương vào tháng 3 năm 2016. Ba tàu chiến Hoa Kỳ đã đến thăm cảng thương mại năm đó - USS John S. McCain (DDG-56 ) và USS Frank Cable (AS-40) vào tháng 10 và USS Mustin (DDG 89) vào tháng 12. 

Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh và Bộ trưởng Ngoại giao và Ủy viên Quốc vụ Vương Nghị của Trung Quốc chủ trì cuộc họp báo tại Nhà khách Chính phủ ở Hà Nội vào ngày 1 tháng 4 năm 2018 (Ảnh: MINH HOÀNG / AFP qua Getty Images)
Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh và Bộ trưởng Ngoại giao và Ủy viên Quốc vụ Vương Nghị của Trung Quốc chủ trì cuộc họp báo tại Nhà khách Chính phủ ở Hà Nội vào ngày 1 tháng 4 năm 2018 (Ảnh: MINH HOÀNG / AFP qua Getty Images)

Vào tháng 10 năm 2016, ba tàu của Hải quân Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLAN), PLAN Xiangtan và PLAN Zhoushan, các khinh hạm Kiểu 054A, và PLAN Chaohu, một tàu bổ sung Kiểu 903A, cũng đã đến thăm.

Tóm lại, chính sách “ba / bốn không” của Việt Nam đã có từ lâu đời, và Việt Nam nhất quán chủ trương “không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”.

Các vấn đề nổi cộm trong quan hệ thương mại song phương  Việt - Trung

Kể từ khi bình thường hóa quan hệ vào năm 1991, vấn đề thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc, và vấn đề Biển Đông đã trở thành chướng ngại khó khăn lâu dài. 

Tuy nhiên, hai khía cạnh của quan hệ song phương đã “phát triển mạnh mẽ” - ổn định dọc biên giới đất liền và du lịch hai chiều (trước dịch COVID-19). Thương mại hai chiều tăng 4,5% trong nửa đầu năm nay bất chấp ảnh hưởng của đại dịch.

Đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam tăng mạnh trong năm 2019 và Trung Quốc hiện đứng thứ 7 trong số 132 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam.

Trước khi bùng phát đại dịch viêm phổi Vũ Hán, Trung Quốc là nguồn khách du lịch lớn nhất đến Việt Nam trong nhiều năm liên tiếp và Việt Nam nằm trong số các quốc gia hàng đầu ASEAN có số lượng lớn du khách đến thăm Trung Quốc.

Dù vậy, mặt tiêu cực đã lộ ra trong một số vấn đề nổi cộm như: thâm hụt thương mại của Việt Nam, tiến độ chậm chạp trong các dự án khác nhau do các nhà thầu Trung Quốc tài trợ và quản lý, và việc chậm triển khai các khoản vay và viện trợ không hoàn lại của Trung Quốc. 

Về thương mại, Việt Nam từ lâu đã thúc ép Trung Quốc tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại qua biên giới, nhập khẩu nhiều nông sản Việt Nam và đẩy mạnh đầu tư của Trung Quốc vào các lĩnh vực công nghệ cao và thân thiện với môi trường tại Việt Nam. 

Biển Đông ‘không bình yên’ 

Vào tháng 5 năm 2014, Trung Quốc đã cho đậu giàn khoan dầu lớn Hai Yang Shi You (HYSY) 981 trong Vùng Đặc quyền Kinh tế của Việt Nam (EEZ) cùng với một đội tàu chiến gồm 50 chiếc trở lên của PLAN, tàu Cảnh sát biển Trung Quốc, tàu đánh cá và tàu dân quân biển. 

Đội tàu hình thành một loạt các vòng đồng tâm bảo vệ xung quanh HYSY 981 với các tàu chiến của PLAN tạo thành vòng bên trong. Máy bay quân sự Trung Quốc thường xuyên tràn qua khu vực này.

Trong suốt hai tháng rưỡi, một bên là các cuộc đối đầu giữa Cảnh sát biển Trung Quốc, lực lượng dân quân hàng hải và tàu đánh cá Trung Quốc, bên kia là lực lượng Kiểm ngư và Cảnh sát biển Việt Nam. 

Các cuộc đối đầu trên biển diễn ra dưới hình thức húc và sử dụng vòi rồng công suất lớn chủ yếu của các tàu mang cờ Trung Quốc. Ít nhất một tàu đánh cá của Việt Nam bị lật. 

Về phần mình, Việt Nam đã giữ vững lập trường và giành chiến thắng bằng cách đưa các phương tiện truyền thông nước ngoài lên các tàu chấp pháp hàng hải của mình, để ghi lại các cuộc đối đầu hàng ngày cho khán giả toàn cầu.

Có rất ít bằng chứng cho thấy cuộc đối đầu này đã từng đi đến bờ vực của bạo lực vũ trang. Việt Nam thận trọng không cho tàu chiến và máy bay quân sự của mình ra khỏi khu vực gần tàu HYSY 981. 

Do áp lực chính trị của Trung Quốc và bị đe dọa vũ lực, Việt Nam đã hai lần chấm dứt hoạt động thăm dò dầu khí tại khu vực Vanguard của tập đoàn dầu khí Tây Ban Nha Repsol, lần đầu tiên vào giữa năm 2017 và lần thứ hai vào tháng 3/2018.

Vào tháng 5 năm 2019, Trung Quốc đã điều động tàu Hải Dương Dizhi 8 đến khu vực Vanguard để tiến hành khảo sát địa chấn trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Hai Yang Dizhi 8 được hộ tống bởi lực lượng hải quân của tàu Cảnh sát biển Trung Quốc và tàu đánh cá của Lực lượng dân quân biển. Các tàu của Cảnh sát biển Trung Quốc cũng quấy rối các hoạt động thăm dò dầu khí gần đó tại Bock 06-1 do công ty Rosneft của Nga tiến hành.

Bức ảnh chụp ngày 14/5/2014 này cho thấy một sĩ quan tuần duyên Việt Nam đang nhìn về phía một tàu Cảnh sát biển Việt Nam đang đi gần khu vực giàn khoan dầu của Trung Quốc trong vùng biển tranh chấp ở Biển Đông (Ảnh: HOÀNG ĐÌNH NAM / AFP qua Getty Images)
Bức ảnh chụp ngày 14/5/2014 này cho thấy một sĩ quan tuần duyên Việt Nam đang nhìn về phía một tàu Cảnh sát biển Việt Nam đang đi gần khu vực giàn khoan dầu của Trung Quốc trong vùng biển tranh chấp ở Biển Đông (Ảnh: HOÀNG ĐÌNH NAM / AFP qua Getty Images)

Việt Nam đã huy động một số tàu của Lực lượng Cảnh sát biển và Kiểm ngư cùng với một số tàu đánh cá để duy trì chế độ theo dõi tầm thấp. Không giống như năm 2014, Việt Nam giữ kín việc đưa tin báo chí trên các phương tiện truyền thông trong nước và không đưa phóng viên nước ngoài lên các tàu chấp pháp hàng hải của mình. 

Tuy nhiên, Việt Nam đã công khai kêu gọi sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Hoa Kỳ đã đáp trả bằng một lời chỉ trích quyết liệt và rõ ràng đối với Trung Quốc.

Chỉ có một sự cố nghiêm trọng được báo cáo vào năm 2019 khi bắt đầu cuộc đối đầu trên biển kéo dài 5 tháng. Trung Quốc chỉ sử dụng vòi rồng công suất lớn và còi báo động để cảnh cáo các tàu chấp pháp trên biển của Việt Nam nếu họ liều lĩnh áp sát tàu Trung Quốc. 

Cuộc đối đầu này chấm dứt khi Việt Nam hủy bỏ hoạt động của một tàu khảo sát cho Rosneft thuê trước khi nó có thể bắt đầu hoạt động tại Lô 06-1.

Tầm quan trọng của các sự kiện năm 2017-2019 là Việt Nam đã lùi bước trước sự đe dọa của Trung Quốc và tạm dừng tất cả các hoạt động thăm dò dầu khí trong khu vực tranh chấp gần Vanguard. 

Việt Nam đã phải gánh khoản nợ một tỷ USD vì việc ngừng hoạt động thăm dò dầu khí. Bằng cách lùi bước trước sự đe dọa của Trung Quốc, Việt Nam sẽ vô cùng khó khăn để tiếp tục hoạt động ở khu vực này. Trên thực tế, Việt Nam dường như đã mất quyền phát triển các nguồn hidrocacbon cần thiết cho phát triển kinh tế của mình.

Sự việc đã được giải quyết vì áp lực đã tăng lên trong nội bộ chính quyền Việt Nam, khi Hà Nội đòi triệu tập một cuộc họp đặc biệt của Ủy ban Trung ương để xem xét việc “thoát khỏi quỹ đạo của Trung Quốc”. Và CNOOC (Công ty Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc) đã rút giàn khoan dầu trước thời gian khởi hành dự kiến

Asean sát cánh

Philippines đã đặc biệt lên tiếng chỉ trích Trung Quốc trong năm nay. Vào ngày 20 tháng 8 năm 2020, Bộ Ngoại giao nước này đã đệ trình một phản đối ngoại giao tới Trung Quốc về việc Cảnh sát biển Trung Quốc tịch thu bất hợp pháp các thiết bị đánh bắt cá của ngư dân Philippines ở Bajo de Masinloc vào tháng Năm.

Philippines cũng phản đối việc Trung Quốc tiếp tục đưa ra các thách thức bất hợp pháp chống lại các máy bay của Philippines đang thực hiện các cuộc tuần tra hàng hải thường xuyên hợp pháp trên Biển Tây Philippines.

Vào ngày 23 tháng 9 năm 2020, Tổng thống Rodrigo Duterte đã phát biểu trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc và khẳng định sẽ kiên quyết ngăn chặn các nỗ lực phá hoại từ Bắc Kinh.

Indonesia không chỉ phản đối sự hiện diện của Cảnh sát biển Trung Quốc và tàu cá Trung Quốc trong khu đặc quyền kinh tế của mình, mà còn sử dụng “cơ bắp quân sự” để hỗ trợ tuyên bố chủ quyền của mình ở vùng biển gần đảo Natuna. 

Vào tháng 12 năm 2019, ước tính có khoảng 50 tàu đánh cá Trung Quốc, cùng với hai tàu Cảnh sát biển Trung Quốc, đã đi vào vùng đặc quyền kinh tế của Indonesia trong vùng biển gần Đảo Natuna. Indonesia ngay lập tức triệu tập đại sứ của Trung Quốc tại bộ ngoại giao để phản đối bằng lời nói.

Sau đó, Indonesia đã triển khai tàu chiến hải quân và máy bay phản lực F-16 để tuần tra khu vực. Các quan chức Indonesia sau đó đã vận động ngư dân của nước này chuyển hoạt động sang Biển Natuna. 

Vào tháng Giêng, Tổng thống Joko Widodo đã công khai tuyên bố rằng sẽ “không có sự thỏa hiệp nào… chủ quyền lãnh thổ của quốc gia chúng ta”. Sau đó, ông đến thăm Căn cứ Hải quân Eo biển Lampa và lên tàu KRI Usman Harun.

Việt Nam có chính sách đối ngoại lâu đời “đa dạng hóa, đa phương hóa” trong quan hệ với các cường quốc. Việc Việt Nam theo đuổi các mục tiêu chiến lược này đã có từ lâu để đối phó với sự đe dọa và bắt nạt của Trung Quốc ở Biển Đông. Dù rằng liệu chiến lược "lấy nhu chế cương" của Việt Nam có mang đến hiệu quả hay không vẫn còn là câu hỏi hóc búa.

Tâm An 

(Tham khảo bài viết của tác giả Carl Thayer - Giáo sư danh dự tại Đại học New South Wales và Giám đốc Công ty Tư vấn Thayer. Ông là chuyên gia khu vực Đông Nam Á, từng giảng dạy tại Học viện Lực lượng Quốc phòng Úc)



BÀI CHỌN LỌC