Phần 2: Dấu hiệu trước khủng hoảng: Thế giới ngồi trên đống nợ kỷ lục và làn sóng vỡ nợ chưa từng có ở Trung Quốc

Bình luận Trà Nguyễn • 15:31, 03/02/20

Với sự xuất hiện bất thường của dịch bệnh, từ gia súc, gia cầm cho tới nCov, bong bóng tài sản, tín dụng, nợ xấu có nguy cơ phát nổ bắt đầu từ Trung Quốc lan rộng ra các nền kinh tế khác vốn bất ổn trên một đống nợ cao kỷ lục. Rất có thể một cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu lớn và khốc liệt đang cận kề…

Về cơ bản, mỗi cuộc khủng hoảng trong quá khứ xảy ra ít nhất 1 trong 4 dấu hiệu dưới đây, những cuộc khủng hoảng lớn sẽ xuất hiện đầy đủ cả 4 dấu hiệu này: (i) bong bóng giá tài sản; (ii) quy mô nợ lớn và khả năng trả nợ suy giảm (bất cân đối tài chính); (iii) rủi ro nội tại trong khối tài sản đầu tư của các ngân hàng thương mại (NHTM) toàn cầu; (iv) can thiệp của chính phủ nhằm giải cứu ngân hàng, thanh khoản.

Cả bốn dấu hiệu khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã được tích tụ ở mức rủi ro rất cao trước đại dịch Coronavirus. Trong Phần 1, dấu hiệu về bong bóng bất động sản tại Trung Quốc và bong bóng quỹ ETFs trên thị trường chứng khoán (TTCK) đều đã tích tụ suốt 1 thập kỷ qua, rủi ro tích tụ ngày một nghiêm trọng trong 5 năm gần đây. Ba dấu hiệu còn lại để báo hiệu một cuộc khủng hoảng, thực tế, đã trở nên rất rõ nét và không nghi ngờ gì nữa Coronavirus đã và đang kích hoạt ngòi nổ khủng hoảng tài chính toàn cầu…

Dấu hiệu thứ hai: quy mô nợ vượt quá khả năng trả nợ của các khu vực kinh tế tư nhân, khu vực công tại Trung Quốc và trên khắp toàn cầu

Thông thường, không một bong bóng tài sản nào không đi kèm với tăng trưởng nợ, tăng trưởng tín dụng quá mức. Tuy nhiên, nợ quá cao, tỷ lệ nợ xấu lớn có thể bị che dấu bởi các thủ thuật hạch toán kế toán, tài chính hoặc ẩn dưới các hình thức tài sản tài chính đầu tư nên sự bất cân đối tài chính về nợ và dòng tiền trả nợ có thể không được phát hiện đúng và kịp thời trước khủng hoảng. Ví dụ, trong giai đoạn khủng hoảng tài chính ngân hàng của Việt Nam năm 2008-2009 và 2011, tỷ lệ nợ xấu theo báo cáo của Ngân hàng nhà nước Việt Nam chỉ ở mức 3 – 4%. Năm 2017, sau khi đã xử lý bằng cách khoanh lại nợ xấu trong hệ thống, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam chia sẻ trước Quốc hội về tỷ lệ nợ xấu thực giai đoạn trước khủng hoảng là 19%. Tình trạng số liệu về quy mô nợ, nợ xấu này cũng tương tự như những gì đã xảy ra ở Nhật, Mỹ trước khủng hoảng.

Hiện nay, quy mô nợ của toàn thế giới đã liên tiếp đạt kỷ lục kể từ năm 2015-2016 cho tới nay, rủi ro nợ doanh nghiệp có nguy cơ làm sụp đổ hệ thống ngân hàng ngày một lớn, rủi ro nợ nước ngoài của các nền kinh tế đang phát triển được Ngân hàng thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á, Quỹ tiền tệ quốc tế… liên tiếp cảnh báo và nâng cao mức cảnh báo từ năm 2017 cho tới nay.

Rủi ro nợ thế giới: thế giới ngồi trên đống nợ cao kỷ lục, nguy cơ vỡ nợ khu vực doanh nghiệp được IMF liên tiếp cảnh báo…

Khối nợ toàn cầu ngày một mở rộng và liên tiếp đạt kỷ lục, gấp hơn 3 lần GDP toàn cầu: nợ gấp 3,22 lần số của cải làm ra trong 1 năm. Theo công bố của Viện Tài chính quốc tế (IIF), nợ toàn cầu (gồm cả khu vực tư và công) liên tiếp lập kỷ lục trong 1 thập kỷ qua. Số liệu công bố tại quý 3/2019 của IIF cho thấy tổng nợ toàn cầu ở mức 253 nghìn tỷ USD - gấp 3 lần GDP toàn cầu (khoảng 322% GDP). Trung Quốc và Mỹ là hai con nợ lớn nhất của thế giới, chiếm hơn 60% mức tăng trưởng nợ toàn cầu năm 2019.

Nợ của các nền kinh tế đang phát triển đạt mức cao nhất mọi thời đại, chiếm tới 168% GDP, tương đương khoảng 55 nghìn tỷ USD, do chi phí vay cực kỳ thấp. Theo World Bank (WB), những làn sóng nợ toàn cầu, nhìn vào bốn giai đoạn tăng trưởng nợ lớn kể từ năm 1970, cho thấy tỷ lệ nợ/GDP của các nền kinh tế đang phát triển tăng 54 điểm phần trăm kể từ năm 2010, nhanh gấp gần ba lần so với tốc độ tăng nợ khi khủng hoảng nợ Mỹ Latinh xảy ra. WB cũng lưu ý rằng mức nợ ở các nước thu nhập thấp, một tập hợp con của các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi (EMDE), đã tăng từ 48% GDP (khoảng 137 tỷ USD) lên 67% GDP (268 tỷ USD) chỉ trong vòng 9 năm trở lại đây - kể từ sau Đại khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu 2008-2009.

Hình: khối nợ toàn cầu tăng mạnh sau khủng hoảng tài chính 2009 (nguồn: IIF)

Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã leo thang cảnh báo về mức nợ lớn của doanh nghiệp, vốn đã bị làm trầm trọng thêm bởi chính sách lãi suất thấp kéo dài quá lâu từ các ngân hàng trung ương. IMF cảnh báo gần 40% nợ doanh nghiệp ở các nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Anh, Pháp, Ý và Tây Ban Nha (tương đương khoảng 19 nghìn tỷ đô la) có nguy cơ vỡ nợ trong trường hợp nền kinh tế toàn cầu suy thoái.

Rủi ro nợ tại Trung Quốc trầm trọng hơn cả: Nợ chính quyền Trung Quốc đã lên tới mặt trăng, làn sóng vỡ nợ doanh nghiệp Trung Quốc tăng áp lực đổ vỡ tài chính toàn cầu

Nợ công của Trung Quốc được trang Commodity dí dỏm ví “đã vượt qua mặt trăng”cách ví von này không những ám chỉ khoản nợ công thực sự lớn hơn mức chính quyền Bắc Kinh tuyên bố rất nhiều mà còn ám chỉ sự bất ổn tiềm ẩn trong các khoản nợ chính quyền trung ương và địa phương của nền kinh tế này. Cơ chế tạo ra nợ công và khả năng thu hồi nợ từ các dự án đầu tư công đằng sau khối nợ mới là nguy cơ thực sự mà nền kinh tế lớn thứ hai thế giới phải đối mặt.

Rất nhiều khoản nợ thuộc nghĩa vụ nợ của chính phủ đã không được Trung Quốc đưa vào tính trong nợ công. Đây có lẽ là lý do khiến nợ chính phủ/GDP mà Trung Quốc công bố rất thấp, chỉ ở mức 50,5% cuối năm 2018. Tuy nhiên, theo ước tính đầy đủ của trang Commodity, tổng nợ công của Trung Quốc đã lên tới 92,8%. Bạn có thể bọc xung quanh Trái đất 20.894 lần bằng tờ 1 đô la với số nợ này. Nếu bạn đặt tờ 1 đô la trên đầu tờ kia thì sẽ trải được quãng đường 586.175 km, hoặc chất được lên cao 364.232 dặm, tương đương 1,52 lần quãng đường đến Mặt trăng.

Làn sóng vỡ nợ khu vực tư nhân Trung Quốc ngày một lớn trong khi nợ khu vực tư nhân Trung Quốc tích tụ rất lớn và rủi ro cao bởi hàng loạt các sai lầm chính sách. Năm 2019, quốc gia này ghi kỷ lục mới về vỡ nợ trái phiếu doanh nghiệp cả trên thị trường vốn nội địa và quốc tế: tổng mức nợ mất khả năng chi trả là 130 tỷ nhân dân tệ (CNY), vượt mức 122 tỷ CNY năm 2018.

Nợ doanh nghiệp chiếm hơn 2/3 tổng số nợ quốc gia Trung Quốc, tức là khoảng 26 nghìn tỷ USD trong năm 2018, theo số liệu của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS). Vấn đề ở chỗ, doanh nghiệp Trung Quốc nợ quá lớn so với quy mô tăng trưởng trong khi rủi ro mất khả năng thanh toán cao.

Tỷ lệ nợ/tiền mặt và nợ/GDP của khu vực doanh nghiệp phi tài chính của một số nền kinh tế trên thế giới (Nguồn: Viện Tài chính quốc tế - IIF)

Theo số liệu của Viện Tài chính quốc tế (IIF), trong số 14 nền kinh tế có nợ khu vực doanh nghiệp phi tài chính lớn nhất, thì doanh nghiệp phi tài chính của Trung Quốc đang đứng trên một núi nợ khổng lồ, chiếm tới 165-170% GDP - mức cao nhất trong số 14 nền kinh tế. Đáng lưu ý là rủi ro thanh toán của khối nợ doanh nghiệp phi tài chính Trung Quốc cao hơn hẳn các nền kinh tế khác do tỷ lệ nợ/tiền mặt thấp nhất trong số 14 nước được liệt kê ở trên.

63 tỷ USD nợ doanh nghiệp Trung Quốc sẽ đến hạn phải trả đầu năm 2020. Theo số liệu công bố chính thức, tổng nợ khu vực doanh nghiệp Trung Quốc khoảng 26.000 tỷ USD (số liệu cuối năm 2018, hiện tại con số này có thể cao hơn). Chỉ riêng với nợ nước ngoài, các doanh nghiệp đại lục hiện đang nợ khoảng 2.000 tỷ USD. Tuy nhiên theo ước tính của Bloomberg, con số thực tế nợ nước ngoài của doanh nghiệp Trung Quốc vào khoảng 2.650 tỷ USD, cao hơn số công bố gần 33%. Trong số đó, ước tính 63 tỷ USD nợ doanh nghiệp sẽ đến hạn vào đầu năm 2020 tới. Các doanh nghiệp phải tìm nguồn trả nợ trong bối cảnh kinh tế Trung Quốc đang đóng băng và lao dốc bởi dịch trùng dịch, cả Coronavirus và cúm gia cầm xuất hiện.

Sự cộng hưởng của Coronavirus với rủi ro bất cân đối nợ tại Trung Quốc và toàn cầu có thể kéo sập hệ thống tài chính của Trung Quốc và thế giới

Tờ Financial Times cho biết: một số công ty lớn gần Thượng Hải như Foxconn, Johnson & Johnson và Samsung Electronics đã được lệnh tạm thời đóng cửa. Để có một bộ mặt tích cực hơn, giữ thể hiện hơn, nhiều thành phố đang kéo dài kỳ nghỉ Tết hiện tại thêm một tuần.

Tuy nhiên theo China Law Blog, lượng lớn các nhà máy của Trung Quốc trên toàn quốc đang đóng cửa vì nhân viên “không muốn làm việc cùng trong môi trường đông với 3.450 người khác, vì vài người trong số họ có thể lây truyền Coronavirus”. Ngay cả những nhà máy mà vẫn mở cửa đang cho thấy việc không thể kiểm soát chất lượng hoạt động đang gia tăng mạnh mẽ.

Việc sa thải hàng loạt và nghỉ không lương của công nhân đang tăng cao khi hàng tồn kho nguyên liệu thô và lắp đặt đang nằm không bỏ phí. Hầu hết công nhân các nhà máy ven biển nằm trong số 150 triệu người di cư từ nông thôn, là những người lao động tạm thời không thể có được trợ cấp thất nghiệp theo quy định của hệ thống hộ khẩu cư trú vĩnh viễn. Họ có thể quay trở lại quê, nhưng với những gia đình ở vùng nông thôn Trung Quốc, ⅓ thu nhập của họ dựa vào tiền người nhà đi làm xa gửi về .

Thực tế, Coronavirus khiến các doanh nghiệp FDI tại Trung Quốc đóng cửa, tiêu dùng suy giảm, sản xuất tê liệt, vốn tháo chạy khỏi thị trường chứng khoán; 420 tỷ đô la Mỹ đã bay mất khỏi thị trường chứng khoán Trung Quốc (số liệu cập nhật ngày 3/2/2020).

Như vậy, việc doanh nghiệp Trung Quốc mất khả năng thanh toán 63 tỷ USD nợ đến hạn đầu năm 2020 và sụp đổ hàng loạt theo cơ chế domino không còn là dự báo mà là quyết định của thời gian. Xa hơn, 2000 tỷ USD vốn nước ngoài của doanh nghiệp Trung Quốc sẽ tiếp tục là mối đe dọa với thị trường tài chính quốc tế. Theo quy luật tất yếu của thị trường: sự đổ vỡ của doanh nghiệp Trung Quốc sẽ kéo theo hàng loạt doanh nghiệp nước ngoài trong chuỗi cung ứng của nó đổ vỡ theo.

IHS Markit cảnh báo, các nhà cung cấp Trung Quốc nằm trong những khu vực bị nhiễm Coronavirus có thể sẽ tuyên bố tình trạng “bất khả kháng” để chấm dứt hợp pháp việc cung cấp chuỗi cung ứng xuất khẩu và khiến nhiều nhà máy toàn cầu bắt đầu hết hàng trong vòng ba tuần.

Theo IHS Markit, tác động của Trung Quốc đại lục đối với nền kinh tế thế giới hiện nay cũng lớn hơn nhiều so với thời kỳ dịch SARS - khi mà Trung Quốc mới chỉ là nền kinh tế lớn thứ sáu thế giới và chỉ chiếm 4,2% GDP toàn cầu. Trung Quốc hiện nay là nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, chiếm 16,3% GDP toàn cầu và 10,4% nhập khẩu hàng hóa trên thế giới so với 4,0% vào năm 2002.

Không nghi ngờ gì nữa, dấu hiệu khủng hoảng thứ hai và bằng chứng dấu hiệu khủng hoảng thứ nhất đủ để các nhà quan sát kinh tế - tài chính toàn cầu, các nhà đầu tư có kết luận riêng của mình.

(Còn nữa)

Đón đọc Phần 3: Dấu hiệu thứ ba - sự bất ổn của các định chế tài chính toàn cầu vì ôm giữ khối tài sản phái sinh kỷ lục; giá hàng hóa cơ bản biến động mạnh như hiện nay, kịch bản đổ vỡ của các ngân hàng lớn - giống Lehman Brother là khó tránh…

Trà Nguyễn