Khủng hoảng dân số và gia đình có thể làm tan vỡ ‘giấc mộng Trung Hoa’ của ĐCSTQ

Giúp NTDVN sửa lỗi

Những năm gần đây, khi nền kinh tế Trung Quốc ngày càng phát triển mạnh mẽ, thậm chí có còn được dự báo sẽ soán ngôi Mỹ trong tương lai gần, thì những hệ lụy của phát triển kinh tế cũng ảnh hưởng rất lớn đến cấu trúc xã hội, người ta đang chứng kiến tình trạng kết hôn muộn hoặc “lười” kết hôn, sinh đẻ giảm, tỷ lệ ly hôn của Trung Quốc đại lục đang càng ngày càng tăng cao. Có thể nói, Trung Quốc trong thế kỷ này đang trên đà trải qua sự sụp đổ nhân khẩu học nghiêm trọng nhất trong lịch sử kể cả trong trường hợp không có chiến tranh hoặc dịch bệnh.

Hôn nhân: Ít hơn, muộn hơn và khả năng thất bại cao hơn

Đã có một sự thay đổi trong suy nghĩ: Những người trẻ hiện nay đang theo đuổi sự độc lập và coi hôn nhân như xiềng xích trói buộc tự do. Đồng thời, việc lập gia đình của họ cũng khó khăn hơn do chi phí lập gia đình và nuôi dạy con cái cao. 

Số lượng đăng ký kết hôn (ĐKKH) của Trung Quốc đã giảm kể từ khi đạt mức cao nhất mọi thời đại là 13,47 triệu hồ sơ ĐKKH vào năm 2013. Đến năm 2020, con số này giảm xuống còn 8,13 triệu. Cụ thể, số cuộc hôn nhân đầu tiên giảm từ 23,86 triệu năm 2013 xuống 13,99 triệu năm 2020, trong khi số lần tái hôn tăng từ 3,08 triệu lên 4,56 triệu.

Tỷ lệ kết hôn tại Trung Quốc liên tục giảm ( số lượng đăng ký kết hôn / 10 nghìn cặp )

Sau đó là yếu tố tuổi tác. Người Trung Quốc ngày càng kết hôn muộn hơn. Nhóm tuổi kết hôn lớn nhất ở Trung Quốc hiện nay là 25-29, so với 20-24 trước đây, đồng thời số người trên 40 tuổi đăng ký kết hôn tăng mạnh.

Trong khi đó, tỷ lệ ly hôn của Trung Quốc đang tăng cao. Từ năm 1987 đến năm 2020, số lượng đơn xin ly hôn ở nước này đã tăng từ 580.000 lên 3,73 triệu, với tỷ lệ ly hôn tăng từ 0,5% năm 1987 lên 3,4% vào năm 2019.

Tỷ lệ ly hôn tại Trung Quốc đang tăng liên tục ( số lượng đăng ký ly hôn/ 10 nghìn cặp)

Di cư và già hóa dân số cũng là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến xu hướng này

Các tỉnh Liêu Ninh, Sơn Đông, Tứ Xuyên, Giang Tô, Chiết Giang và An Huy, cũng như các thành phố trực thuộc trung ương Thượng Hải và Trùng Khánh, là những khu vực có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất ở Trung Quốc. Các khu vực có tốc độ tăng trưởng chậm hơn và dòng dân cư lớn hơn có tỷ lệ ly hôn cao hơn so với các khu vực khác trong cả nước. Các cặp vợ chồng kết hôn ở các tỉnh này thường phải sống và làm việc ở nhiều nơi khác nhau, đây là nguyên nhân chính dẫn đến ly hôn.

Trình độ học vấn của dân số ngày càng cao cũng là một yếu tố góp phần làm tăng độ tuổi kết hôn

Theo số liệu từ Cục Thống kê Quốc gia, từ năm 2015 đến năm 2019, số lượng sinh viên sau đại học đã tăng từ 1,59 triệu lên 2,4 triệu. Khi nhiều người dành nhiều thời gian hơn để đi học, độ tuổi kết hôn trung bình cũng tăng lên.

Năm 1982, trung bình một người ở Trung Quốc dành 5,3 năm đi học. Đến năm 2017, con số này đã tăng lên 9,6 năm. Từ năm 1990 đến năm 2016, độ tuổi kết hôn trung bình của nam giới tăng từ 24,1 lên 27,2 và ở nữ tăng từ 22 lên 25,4.

Phụ nữ đã bắt đầu nhiều hơn nam giới trong giáo dục đại học ở Trung Quốc. Năm 2017, tỷ lệ nữ có trình độ học vấn đại học đạt 52,2%, tăng so với mức 38,3% của năm 1998.

Trong cùng khoảng thời gian đó, số lượng phụ nữ độc thân đã tăng lên nhanh chóng. Từ năm 2000 đến năm 2015, số phụ nữ trên 29 tuổi chưa kết hôn đã tăng từ 1,54 triệu lên 5,9 triệu. Năm 2015, tỷ lệ phụ nữ trên 29 tuổi chưa kết hôn có bằng thạc sĩ là 11%, so với 5% phụ nữ có bằng cử nhân trở xuống.

Khi phụ nữ đã giành được độc lập về kinh tế, họ có khả năng đối mặt tốt hơn với những hậu quả bất lợi của việc ly hôn. Theo báo cáo của Viện Dữ liệu lớn Tư pháp, các tòa án Trung Quốc đã xét xử hơn 1,4 triệu vụ ly hôn trong năm 2017. Trong số này, 73% là do phụ nữ đệ đơn xin ly hôn.

Chi phí hôn nhân cao cũng “góp sóng thành bão”

Theo truyền thống, hôn nhân ở Trung Quốc đi kèm với một loạt các sự kiện, tất cả đều tốn kém. Hiện nay, giá bất động sản tăng chóng mặt và chi phí học hành của con cái đang cản trở những người trẻ tuổi muốn tiến tới hôn nhân, đặc biệt là ở các thành phố lớn.

Giá nhà ở Trung Quốc đã tăng mạnh kể từ năm 1998, gây căng thẳng cho các cặp vợ chồng mới cưới và cha mẹ của họ. Từ năm 2004 đến năm 2018, giá trị dư nợ của các khoản cho vay mua nhà ở riêng lẻ đã tăng gấp 16 lần từ 1,6 nghìn tỷ nhân dân tệ lên 25,8 nghìn tỷ nhân dân tệ. Trong năm 2018, các khoản thế chấp này chiếm 54% tổng khoản vay của cư dân.

Trong giai đoạn này, tỷ lệ thế chấp trên thu nhập và tỷ lệ nợ hộ gia đình trên thu nhập của Trung Quốc đều tăng vọt. Và bởi vì một số người mua nhà đã vay để giúp thanh toán bớt, nên tỷ lệ nợ trên thu nhập thực tế có thể còn cao hơn rất nhiều.

Nợ mua nhà đang ăn vào thu nhập : vàng - Tỷ lệ Nợ mua nhà/ thu nhập ; xanh - Nợ hộ gia đình/thu nhập

Hậu quả nhãn tiền: Giảm tỷ lệ sinh, dân số già, mất cân bằng giới tính

Đồng thời với xu hướng kết hôn muộn thì tỷ lệ có con muộn cũng tăng cao. Từ năm 1990 đến năm 2015, tuổi trung bình của các bà mẹ lần đầu tiên sinh con tăng từ 24,1 lên 26,3.

Từ năm 1979 đến năm 2019, tỷ lệ sinh của Trung Quốc giảm mạnh từ 17,8% xuống 10,5%, mặc dù chính phủ đã nới lỏng chính sách một con vào năm 2015. Kể từ khi chính sách đó được áp dụng, quốc gia này ngày càng mất cân bằng giới tính, trong đó nam nhiều hơn nữ.

Năm 1982, cứ 100 bé gái thì có 107,6 bé trai được sinh ra. Con số này đã tăng lên 110 vào năm 1990 và lên 118 vào năm 2000. Kể từ đó đã vượt quá 120.

Theo dữ liệu Điều tra dân số năm 2010 của Trung Quốc, tỷ lệ này đã tăng lên đến mức có 13 triệu phụ nữ nhiều hơn nam giới trong thế hệ sinh vào những năm 2000.

Ngày càng có nhiều xu hướng người dân kết hôn và sinh con muộn hơn, điều này đã tạo ra gánh nặng chăm sóc người già ngày càng tăng, có thể trở thành một lực cản nghiêm trọng đối với nền kinh tế đất nước.

Trung Quốc sẽ nổi lên như một trong những quốc gia có gánh nặng tài chính cao nhất cho chăm sóc người cao tuổi. Lấy ví dụ như lương hưu. Từ năm 2015 đến năm 2019, tốc độ tăng trưởng thu ngân quỹ hưu trí bình quân của cả nước là 14,5%, nhưng con số tương tự đối với chi là khoảng 17,2%. Năm 2019, có 16 quỹ hưu trí ở các tỉnh, đơn vị hành chính không mang lại nguồn thu đủ bù chi. Tỉnh Hắc Long Giang ở phía đông bắc đã không thể kiếm đủ sống kể từ năm 2013 và mức thiếu hụt lương hưu vào năm 2019 là 43,37 tỷ NDT.

Tỷ lệ sinh sản giảm liên tục (Tỷ lệ trẻ em sinh ra và còn sống trên 1000 bà mẹ trong độ tuổi sinh sản (thường từ 15 đến 49)

Hậu quả lâu dài và nghiêm trọng nhất: Sự sụp đổ nhân khẩu học của Trung Quốc

Trung Quốc trong thế kỷ này đang trên đà trải qua sự sụp đổ nhân khẩu học nghiêm trọng nhất trong lịch sử khi không có chiến tranh hoặc dịch bệnh.

Ở thời điểm hiện tại, quốc gia này có dân số lớn hơn Mỹ gấp 4 lần, nhưng nếu như tình trạng này vẫn tiếp tục thì dự kiến đến năm 2100, Mỹ có thể sẽ có nhiều người hơn Trung Quốc.

Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc thường công bố dữ liệu dân số của năm trước đó vào đầu tháng Ba. Năm nay, NBS đã trì hoãn việc công bố vì chính quyền trung ương dự kiến ​​vào tháng tới sẽ công bố kết quả sơ bộ của cuộc điều tra dân số quốc gia lần thứ 7, được tiến hành vào tháng 11 và tháng 12 năm ngoái.

Hình ảnh thống trị kinh tế và địa chính trị của Trung Quốc sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi Bắc Kinh công bố dữ liệu điều tra dân số. Ông Tập Cận Bình có thể tin rằng “phương Đông đang trỗi dậy và phương Tây đang suy tàn” - như tuyên bố của ông vào cuối năm ngoái - nhưng quan điểm đó sẽ cực kỳ khó duy trì.

Người Trung Quốc rất tự hào là một phần của quốc gia đông dân nhất thế giới. Bắc Kinh báo cáo dân số Trung Quốc năm 2019 đạt 1,4 tỷ người vào năm 2019, tăng từ 1,39 tỷ người năm trước.

Các nhà chức trách Trung Quốc chắc chắn cũng sẽ báo cáo mức tăng trong năm ngoái. Họ tin rằng dân số nước này sẽ tiếp tục tăng trong hơn nửa thập kỷ.

Tuy nhiên, một số người tỏ ra nghi ngờ về số liệu tổng dân số của Trung Quốc. Ông Yi Fuxian của Đại học Wisconsin-Madison nói với tờ The National Interest rằng Trung Quốc vào năm 2020 có thể có dân số 1,26 tỷ người. Nhà nhân khẩu học lưu ý không tin rằng con số có thể vượt quá 1,28 tỷ.

Tại sao ông Yi có thể kết luận như vậy? Vì thông tin nhân khẩu học của Trung Quốc vốn nổi tiếng là không chính xác.

Các quan chức nước này không “dám” báo cáo số ca sinh của mỗi cặp vợ chồng vượt quá giới hạn hai con như quy định của nhà nước, nhưng đồng thời họ cũng có động lực để báo cáo rằng các cặp vợ chồng đã sử dụng hết hạn mức sinh hai con trong khi thực tế điều này không xảy ra. Theo Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, các quan chức của Ủy ban Kế hoạch hóa Gia đình và Y tế Quốc gia phải báo cáo các ca sinh phóng đại vì số nếu họ tiết lộ số sinh thực thì sẽ dẫn tới việc cơ quan bị đề nghị giải thể. Chính quyền thành phố, sở giáo dục địa phương và bệnh viện đã phóng đại con số của Trung Quốc vì một lý do khác: để được trợ cấp hoặc duy trì phân bổ ngân sách.

Các ước tính của Yi có vẻ đáng tin cậy. Đúng như vậy, Bắc Kinh đã loại bỏ chính sách một con khét tiếng, có lẽ là dự án kỹ thuật xã hội tham vọng nhất trong lịch sử, kể từ đầu năm 2016 và đã có sự gia tăng số ca sinh vào năm đó, nhưng kể từ đó số ca sinh đã giảm mỗi năm.

Bắc Kinh chưa công bố sinh năm ngoái, nhưng số đầu cho biết họ giảm mạnh từ năm 2019. Số sinh trong hệ thống đăng ký hộ gia đình- hộ khẩu - giảm mạnh 14,9% đến 10.035.000 năm ngoái. He Yafu, một nhà nhân khẩu học, ước tính tổng số ca sinh cho cả nước chiếm khoảng 80% tổng số ca sinh vào năm ngoái , ước tính tổng số ca sinh cho cả nước vào năm ngoái là 12.540.000.

Ông Yi nói rằng trên thực tế, số ca sinh của đất nước là khoảng 8 triệu và không thể vượt quá 10 triệu. Điều này rất có lý, bởi vì các tỉnh và các đơn vị chính phủ khác đã báo cáo dữ liệu trước cuộc điều tra dân số với tỷ lệ sinh ở một số địa điểm đã giảm hơn 30% . Đồng thời TFR (số trẻ em trên một phụ nữ đến tuổi sinh đẻ), theo China Daily, “đã giảm xuống dưới 1,7”. Ông Yi của Đại học Wisconsin cũng tuyên bố rằng TFR của Trung Quốc năm ngoái là 0,90 và không thể vượt quá 1,1. 

Có nghĩa là, trong mọi trường hợp, dân số Trung Quốc sẽ giảm nhanh. Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc dự đoán dân số Trung Quốc sẽ giảm một nửa vào năm 2100 nếu TFR giảm từ 1,6 xuống 1,3 .

Tuy nhiên, TFR của Trung Quốc thấp hơn rất nhiều so với 1,3. Nếu TFR của nó ổn định ở mức 1,2—1,2 sẽ thể hiện một sự gia tăng lớn — Trung Quốc sẽ có dân số chỉ 480 triệu người vào cuối thế kỷ này .

Nếu TFR không tăng so với hiện tại, cả nước có thể sẽ đạt khoảng 400 triệu. Đặt điều này trong bối cảnh, Hoa Kỳ, theo dự đoán mới nhất của Liên Hợp Quốc , sẽ có dân số 433,9 triệu người vào năm 2100, tăng từ 331,0 triệu người vào năm ngoái.

Trung Quốc hiện đang gặp khủng hoảng. “Một khi TFR trượt dưới 1.5, một quốc gia rơi vào cái bẫy của khả năng sinh sản thấp và khó có khả năng phục hồi”, Ông Yafu nói với của tờ Global Times. TFR của Trung Quốc hiện đã thấp hơn nhiều so với con số đó.

Bắc Kinh không tin rằng dân số Trung Quốc sẽ bắt đầu giảm cho đến năm 2028. Nhưng các nhà quan sát nhận định rằng con số này trên thực tế đã bắt đầu suy giảm vào năm 2018, căn cứ rất rõ ràng từ số liệu sinh giảm liên tục.

Tức là, như tờ China Daily chính thức đã tuyên bố vào tháng 12, "các xu hướng là không thể đảo ngược."

Điều đó không tốt cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Như nhà phân tích Andy Xie đã viết trên tờ South China Morning Post của Hồng Kông vào tháng này, “Sự suy giảm dân số có thể kết thúc nền văn minh của Trung Quốc mà chúng ta đã biết”.

Lê Minh

Nguồn:

https://https://asia.nikkei.com/Spotlight/Caixin/How-Chinese-fell-out-of-love-with-marriage+&cd=2&hl=en&ct=clnk&gl=vn&client=opera

https://nationalinterest.org/feature/coming-demographic-collapse-china-180960

https://www.scmp.com/comment/opinion/article/3123726/population-decline-could-end-chinas-civilisation-we-know-it-when



BÀI CHỌN LỌC

Khủng hoảng dân số và gia đình có thể làm tan vỡ ‘giấc mộng Trung Hoa’ của ĐCSTQ