ĐCSTQ đang lừa dối người dân Trung Quốc như thế nào?

Giúp NTDVN sửa lỗi

Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã dựa vào hàng loạt lời nói dối về kinh tế để làm lung lay nhận thức của nhiều người về tình hình hiện tại. Trong bài viết này, chúng tôi xem xét một số lời nói dối lớn nhất và đưa ra bức tranh thực sự đằng sau những lời nói dối đó.

Lời nói dối kinh tế đầu tiên: Phát triển là nguyên tắc tuyệt đối

Trong những thập kỷ qua, lời nói dối lớn nhất trong các chính sách kinh tế của ĐCSTQ là “phát triển là nguyên tắc tuyệt đối”, tuyên bố của nhà lãnh đạo ĐCSTQ Đặng Tiểu Bình trong chuyến công du miền Nam Trung Quốc năm 1992.

Cựu lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình (Phải) và người kế nhiệm ông Giang Trạch Dân bắt tay vào tháng 10 năm 1992. Đặng phát động cuộc chuyển đổi tư bản chủ nghĩa ở Trung Quốc và Giang đã xây dựng một mạng lưới bè phái rộng lớn được hỗ trợ bởi nạn tham nhũng đặc hữu của nhà nước độc tài. (Hình ảnh AFP / Getty)
Cựu lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình (Phải) và người kế nhiệm ông Giang Trạch Dân bắt tay vào tháng 10 năm 1992. Đặng phát động cuộc chuyển đổi tư bản chủ nghĩa ở Trung Quốc và Giang đã xây dựng một mạng lưới bè phái rộng lớn được hỗ trợ bởi nạn tham nhũng đặc hữu của nhà nước độc tài. (Hình ảnh AFP / Getty)

Kể từ đó, biện minh cho mọi thứ là để phục vụ “sự phát triển” đã trở thành cái cớ tốt nhất để che đậy những sai lầm, điều này trở nên chính đáng và không thể nghi ngờ.

Vào cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960, chiến dịch “Đại nhảy vọt” của Mao đã dẫn đến nạn đói 3 năm ở Trung Quốc, nhưng Mao thà để hàng chục triệu nông dân chết đói còn hơn là ngăn chặn sự phát triển tốn kém của bom nguyên tử và tên lửa.

Đường lối chính trị của ĐCSTQ hoàn toàn khác với văn hóa truyền thống của Nho giáo “nhân dân là quan trọng nhất” - coi nhu cầu của người dân là nhu cầu tối thượng của đất nước, và mục đích duy nhất của phát triển là thực sự phục vụ quyền lợi của phần đông dân chúng.

Lời nói dối kinh tế thứ hai: Các quan chức tham nhũng là thiểu số, không đại diện cho ĐCSTQ

ĐCSTQ nói dối người dân Trung Quốc rằng tham nhũng chỉ là hành vi cá nhân của các quan chức và hệ thống của ĐCSTQ luôn tốt đẹp. Mọi người không thấy rằng sự tham nhũng của ĐCSTQ đã được thể chế hóa. Chế độ này được thành lập với quyền lực tối cao dành cho các quan chức các cấp. Sự tham nhũng được thể chế hóa của ĐCSTQ tồn tại và xuyên suốt gần như tất cả các hoạt động kinh tế của Trung Quốc trong suốt lịch sử của ĐCSTQ.

Trước cuộc cải cách năm 1978, tham nhũng xảy ra dưới nhiều hình thức khác nhau, chủ yếu biểu hiện ở việc cung cấp lương thực (đặc biệt là trong nạn đói lớn kéo dài 3 năm), nhà ở miễn phí và dịch vụ y tế theo cấp bậc của quan chức.

Các đặc quyền thậm chí còn có thể sử dụng quyền lực để quan hệ tình dục. Các quan chức của ĐCSTQ ở tất cả các cấp theo Mao và các quan chức cấp cao khác. Vào những năm 1970, tôi được gửi đến các vùng nông thôn ở tỉnh An Huy để cải tạo ( Phong trào Xuống đồng quê). Một lần, năm 1973, tôi đến quận Chao để họp và ở nhà khách. Tôi thấy chính ủy quân khu Triều Hồ ôm một cô gái trẻ từ nhà nghỉ vào lòng. Anh ta thậm chí không quan tâm đóng cửa lại vì quyền lực mà anh ta có.

Sau khi cải cách, hệ thống quan liêu của chế độ không bao giờ thay đổi. Mục tiêu là tạo ra doanh thu hoặc lợi ích cá nhân trong khi thực hiện các nhiệm vụ chính thức của họ. Sử dụng quyền lực để kiếm tiền trở thành tiêu chuẩn, và một số ít quan chức tử tế đứng ngoài cuộc sẽ trở thành cái gai đối với các quan chức khác, những người muốn loại bỏ họ.

Kể từ giữa những năm 1980, con đẻ của các quan chức quyền lực của ĐCSTQ đã tận dụng sự can thiệp quan liêu này. Họ bán giấy chứng nhận hạn ngạch tư liệu sản xuất và tài nguyên do ĐCSTQ kiểm soát, kiếm lời từ chênh lệch giá, và họ bán hạn ngạch nhập khẩu ô tô hoặc đồ điện gia dụng. Vào đầu những năm 1990, họ kiếm lợi từ việc mua đất thông qua hối lộ và bất động sản, và vào cuối những năm 1990, các công ty tư nhân đã nổi tiếng và giàu có khi làm đại lý cho các khu vực tài chính nước ngoài.

Người tị nạn Trung Quốc xếp hàng ăn uống ở Hồng Kông trong nạn đói do "Đại nhảy vọt" gây ra vào tháng 5 năm 1962. (AFP qua Getty Images)
Người tị nạn Trung Quốc xếp hàng ăn uống ở Hồng Kông trong nạn đói do "Đại nhảy vọt" gây ra vào tháng 5 năm 1962. (AFP qua Getty Images)

Trong thế kỷ này, hối lộ và mua quan bán chức đã trở thành một cách kiếm tiền phổ biến và dễ dàng. Guo Boxiong và Xu Caihou, hai tướng lĩnh quân đội bị kết án tù vì tội tham nhũng, chỉ là hai ví dụ nhỏ nhoi cho hiện tượng này.

Lời nói dối kinh tế thứ ba: 'Để một số người làm giàu trước’

Lời nói dối thứ ba của ĐCSTQ là cải cách khi Đặng Tiểu Bình chào hàng “hãy để một số người làm giàu trước” vào giữa những năm 1980, và người Trung Quốc bình thường nghĩ rằng họ là một trong số “một số người” làm giàu.

Trên thực tế, phần lớn người Trung Quốc là cư dân nông thôn. Kể từ khi cái gọi là tập quán đăng ký hộ khẩu được áp dụng vào thời Mao, những người dân nông thôn Trung Quốc đã bị biến thành những công dân thấp kém.

Dưới sự cai trị của ĐCSTQ, cái gọi là “công nhân nhập cư” đã ra đời. Thuật ngữ này dùng để chỉ người lao động nông thôn lên thành phố mưu sinh. Họ sẽ không được cấp tình trạng cư dân thành phố trừ khi họ có đủ khả năng mua một ngôi nhà rất đắt tiền trong thành phố. Người lao động nhập cư không có bảo hiểm y tế hoặc an sinh xã hội dài hạn, và con cái của họ không thể đến trường hoặc tham gia kỳ thi tuyển sinh đại học quốc gia cùng với các bạn thành thị. Những người lao động nhập cư dành một nửa cuộc đời để làm việc trong các công trường và dây chuyền lắp ráp nhà máy, nhưng cuối cùng, họ vẫn phải trở về nông thôn để nghỉ hưu.

Hầu hết cư dân nông thôn vẫn tương đối nghèo, mặc dù Trung Quốc là một trong những nền kinh tế hàng đầu thế giới. Ngay cả khi có sự đóng góp của người lao động nhập cư, chi tiêu tiêu dùng hàng năm trên đầu người năm 2019 đối với nông thôn Trung Quốc chỉ khoảng 2.000 USD, với mức tiêu dùng bình quân đầu người hàng ngày là khoảng 5,60 USD.

Theo dữ liệu do Ngân hàng Thế giới công bố vào năm 2018, tiêu chuẩn chuẩn nghèo là 5,50 USD mỗi ngày ở các quốc gia có thu nhập trên trung bình. Nói cách khác, sau nhiều thập kỷ cải cách và mở cửa, hàng trăm triệu cư dân nông thôn ở Trung Quốc vẫn đang sống cận kề mức nghèo khổ.

Sự tồn tại của một dân số thu nhập thấp lớn như vậy chứng tỏ rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của Trung Quốc chỉ tạo ra một xã hội nghèo tương đối lớn nhất thế giới. Đồng thời, nó đã tạo ra một tầng lớp ưu tú thân hữu, chiếm một thiểu số dân số, nhưng có tài sản hộ gia đình lớn hơn nhiều so với tầng lớp trung lưu trung bình ở các nước phương Tây.

Lời nói dối kinh tế thứ tư: Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước

ĐCSTQ bắt đầu tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước (SOEs) vào năm 1997, nhưng cho đến ngày nay, ĐCSTQ vẫn từ chối thừa nhận rằng quá trình tư nhân hóa đã hoàn thành hơn 20 năm trước.

Lý do đằng sau việc tư nhân hóa là do quyền sở hữu công của ĐCSTQ đối với các doanh nghiệp đã hoàn toàn thất bại và các DNNN trở thành gánh nặng kinh tế cho chính phủ, dẫn đến hệ thống ngân hàng gần như sụp đổ. Hơn 20% các khoản vay của DNNN được cấp bởi 4 ngân hàng quốc doanh lớn vào đầu những năm 1990 là nợ xấu. Năm 1996, nợ xấu của các DNNN trong hệ thống ngân hàng và các khoản nợ quá hạn chiếm khoảng 70% tổng dư nợ. Để cứu hệ thống ngân hàng khỏi sự sụp đổ, ĐCSTQ đã tiến hành tư nhân hóa toàn diện các DNNN vào nửa cuối năm 1997.

Chìa khóa của tư nhân hóa là ai sẽ mua các DNNN. Mức lương trung bình hàng tháng của các nhà quản lý DNNN sẽ không đủ khả năng chi trả, và vốn nước ngoài đóng một vai trò tối thiểu trong quá trình tư nhân hóa các DNNN.

Tôi đã phân tích 130 trường hợp tư nhân hóa DNNN ở 29 tỉnh, thành phố và tìm ra các phương pháp chính mà ĐCSTQ đã sử dụng để tư nhân hóa DNNN. Vì bí mật đen tối này, ĐCSTQ đã không cho phép các nghiên cứu trong nước về quá trình tư nhân hóa, và các phương tiện truyền thông nhà nước về cơ bản đã không đưa tin sự thật về quá trình tư nhân hóa các DNNN.

Một phương pháp là ĐCSTQ cho phép các nhà quản lý của gần một triệu doanh nghiệp nhà nước được vay từ các ngân hàng với sự bảo lãnh dưới danh nghĩa doanh nghiệp. Sau đó, họ mua tài sản nhà nước bằng các khoản vay và được phép đăng ký doanh nghiệp do mình quản lý với tên của chính họ hoặc đứng tên các thành viên trong gia đình họ. Sau đó, họ sử dụng công quỹ của doanh nghiệp với tư cách là chủ sở hữu của doanh nghiệp để trả lại các khoản vay ngân hàng mà họ đã tư nhân mua doanh nghiệp.

Một phương pháp khác là người quản lý DNNN buộc nhân viên của họ mua một phần cổ phần của doanh nghiệp. Người lao động phải sử dụng tiền tiết kiệm của gia đình để mua cổ phần của doanh nghiệp để giữ việc làm của mình, nhưng họ không được phép tìm hiểu hoạt động của doanh nghiệp hoặc chuyển nhượng tài sản. Người lao động buộc phải đóng góp tiền để giúp ban lãnh đạo của các DNNN giành được quyền sở hữu đối với các DNNN.

Phương pháp thứ ba là các nhà chức trách thông đồng với vợ / chồng và con cái của những gia đình đỏ này sử dụng mạng lưới của họ để giúp các DNNN lớn niêm yết, họ được tặng cổ phiếu miễn phí của các công ty niêm yết. Sau đó, họ kiếm được lợi nhuận lớn từ cổ phiếu bằng cách tăng giá cổ phiếu.

Có tổng số 110.000 DNNN công nghiệp trên toàn quốc vào năm 1996, và đến cuối năm 2008, chỉ còn lại 9.700, bao gồm các DNNN lớn đã được tư nhân hóa một phần.

Theo hai cuộc điều tra mẫu quốc gia do Ngân hàng Thế giới và các tổ chức khác tài trợ, khoảng 50-60% doanh nghiệp thuộc sở hữu tư nhân do ban lãnh đạo quản lý và khoảng 1/4 số doanh nghiệp được mua bởi các nhà đầu tư từ bên ngoài doanh nghiệp. Các nhà đầu tư này đến từ các ngành công nghiệp khác trong nước, trong đó chưa đến 2% là nhà đầu tư nước ngoài. Chỉ 10% được tư nhân hóa bởi ban lãnh đạo và nhân viên.

Kiểu tái cơ cấu DNNN này gần giống như một sự phân chia công khai và cướp bóc tài sản quốc gia của cấp quản lý, cùng với cấp trên (các quan chức chính quyền địa phương) và thế hệ thứ hai của họ.

Từ năm 1998 đến năm 2003, khi giới tinh hoa đỏ chiếm đoạt tài sản của các DNNN quy mô vừa và nhỏ thông qua tư nhân hóa, chế độ cộng sản đặc biệt đóng cửa Cơ quan Quản lý Tài sản Nhà nước, cơ quan chịu trách nhiệm giám sát các DNNN, tạo ra một thời kỳ cửa sổ để giám sát  các DNNN đã vắng bóng trong 6 năm quan trọng của quá trình tư nhân hóa. Điều này đã tạo điều kiện cho giới thượng lưu đỏ tham ô tài sản của DNNN.

Jiang Jiemin, cựu giám đốc Ủy ban Giám sát và Quản lý Tài sản Nhà nước, tại Hồng Kông vào ngày 25 tháng 3 năm 2010. (Mike Clarke / AFP / Getty Images)
Jiang Jiemin, cựu giám đốc Ủy ban Giám sát và Quản lý Tài sản Nhà nước, tại Hồng Kông vào ngày 25 tháng 3 năm 2010. (Mike Clarke / AFP / Getty Images)

Vào thời điểm đó, ĐCSTQ tuyên truyền rằng việc sa thải công nhân DNNN là một sự hy sinh cần thiết để cải cách, nhưng chính quyền lại không thiết lập một chế độ trợ cấp thất nghiệp thống nhất cho những công nhân bị sa thải. Nó chuyển trách nhiệm này cho các ông chủ đỏ của các xí nghiệp tư nhân hóa, và nếu các ông chủ mới không muốn trả tiền thì chế độ cộng sản cũng không quan tâm. Kết quả là, hàng chục triệu cựu công nhân của các DNNN đã trở thành người nghèo thành thị, đang phải vật lộn để tồn tại.

ĐCSTQ đang bắt người dân Trung Quốc phải trả nợ thay mình

ĐCSTQ hiện tự hào rằng nền kinh tế của họ sẽ vượt qua Mỹ. Công chúng không hiểu biết rất dễ bị nhầm lẫn trước sự phồn vinh bề ngoài của các công trình đô thị và cơ sở hạ tầng như đường sắt cao tốc. Công chúng lầm tưởng rằng thành tích của ĐCSTQ, nhưng trên thực tế, đó là một món nợ khổng lồ sẽ dẫn đến vô vàn khó khăn nội bộ.

Kể từ đầu thế kỷ này, ĐCSTQ đã từ chỗ dựa hoàn toàn vào thị trường quốc tế sang hoàn toàn dựa vào bất động sản và cơ sở hạ tầng để thúc đẩy nền kinh tế. Lạm phát quá mức của bất động sản đã tạo ra một nền kinh tế bong bóng cực kỳ nguy hiểm khiến hệ thống ngân hàng đứng trước bờ vực sụp đổ. Chính quyền địa phương từ lâu đã dựa vào nguồn thu từ việc bán đất để duy trì tài chính địa phương, một con đường hiện đã đi đến hồi kết.

Với sự phụ thuộc vào xuất khẩu, nền kinh tế của ĐCSTQ chủ yếu dựa vào việc công dân Hoa Kỳ và các nước phát triển khác đi vay quá nhiều. Nói cách khác, người phương Tây càng sẵn sàng chi nhiều tiền, thì nền kinh tế Trung Quốc càng có thể tự duy trì. Đó là lý do tại sao ĐCSTQ, trong bối cảnh quan hệ Trung Quốc - Hoa Kỳ ngày nay, vẫn mong đợi Hoa Kỳ loại bỏ thuế nhập khẩu. Tuy nhiên, Hoa Kỳ không còn sẵn sàng hy sinh tương lai của chính mình vì sự tồn vong của ĐCSTQ.

Ngày nay, ĐCSTQ đang vay nợ nước ngoài với lãi suất cao để nhập khẩu lương thực, dầu mỏ, quặng sắt và các loại khoai tây chiên cần thiết để duy trì nền kinh tế của mình. Điều này tương đương với việc thúc đẩy chi tiêu trong điều kiện tài trợ quốc tế.

Trong nước, Bộ Tài chính của ĐCSTQ cách đây không lâu đã thừa nhận rằng “khoản nợ chính phủ tích lũy là 46,6 nghìn tỷ NDT (7,2 nghìn tỷ USD) vào cuối năm 2020, chiếm 46% GDP”. Con số này không bao gồm nhiều trái phiếu xây dựng đô thị do chính quyền địa phương phát hành và các khoản nợ do 3 ngân hàng chính sách trung ương phát hành: Ngân hàng Phát triển Trung Quốc, Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc và Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Trung Quốc. Có thể nói rằng các khoản nợ ở tất cả các cấp độ tài chính cũng đã đến bờ vực của sự sụp đổ.

Ban đầu, mục đích của việc chính quyền địa phương phát hành số lượng lớn trái phiếu và tham gia tích cực vào đầu tư cơ sở hạ tầng là sử dụng thu nhập từ việc bán đất để trả nợ. Cách chi tiêu thâm hụt này không còn nữa vì chính quyền trung ương đang cạnh tranh với chính quyền địa phương về các nguồn tài chính. Từ ngày 1 tháng 7 năm nay, chính quyền trung ương thông báo rằng thu nhập từ việc bán đất địa phương sẽ được chuyển cho chính quyền trung ương, và chính sách này bắt đầu được thực hiện ở thành phố Thượng Hải và các tỉnh Chiết Giang, Hà Bắc, Nội Mông, An Huy, và Vân Nam. Từ ngày 1 tháng 1 năm sau, cả nước sẽ thực hiện theo.

Đây là một đòn chí mạng đối với các chính quyền địa phương, họ sẽ không thể hoàn trả số lượng trái phiếu khổng lồ do họ phát hành để phát triển cơ sở hạ tầng và bất động sản. Để tồn tại, kho bạc địa phương cần đẩy nhanh việc áp dụng thuế tài sản, điều này sẽ làm vỡ bong bóng bất động sản, và các chủ nhà sẽ phải bỏ ra một số tiền lớn để trả nợ cho chính quyền.

Hiện thị trường nhà ở, tài chính và ngân hàng của Trung Quốc đang căng thẳng. Không chỉ sự bùng nổ kinh tế khó có thể quay trở lại, mà những khó khăn kinh tế thể hiện qua tỷ lệ thất nghiệp cao và lương thấp đang ngày một tồi tệ hơn, chấm dứt “những ngày tháng tốt đẹp” của nền kinh tế Trung Quốc. Lối sống dối trá (lối sống của những người trẻ tuổi không tìm kiếm việc làm, không vợ hoặc chồng, không kết hôn và sống với mức lương thấp nhất của cha mẹ), đang trở nên phổ biến trong một số người trẻ hiện nay, phản ánh: nói chung là tâm trạng bi quan của thế hệ trẻ về tương lai.

Tác giả Cheng Xiaonong là một học giả về chính trị và kinh tế Trung Quốc có trụ sở tại New Jersey. Cheng từng là nhà nghiên cứu chính sách và là phụ tá của cựu lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc Triệu Tử Dương. Ông cũng từng là chủ biên của Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc Hiện đại.

Quan điểm được trình bày trong bài viết này là ý kiến ​​của tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của The Epoch Times.

Lê Minh

Theo The Epoch Times



BÀI CHỌN LỌC

ĐCSTQ đang lừa dối người dân Trung Quốc như thế nào?