Đảng Dân chủ ca ngợi các nước Bắc Âu là ‘thiên đường xã hội chủ nghĩa’, thực tế là họ đang cố quay đầu từ ‘ngõ cụt’

Bình luận Thủy Tiên • 09:52, 15/03/21

Giúp NTDVN sửa lỗi

Các quốc gia Bắc Âu thường được những người đảng Dân chủ, chẳng hạn như Thượng nghị sĩ Bernie Sanders, gia đình Clintons và cựu Tổng thống Barack Obama, sử dụng làm mô hình chủ nghĩa xã hội “tốt đẹp”, trên thực tế các nước này đang quay trở lại “nguồn gốc” thị trường tự do, họ đang cố gắng xoay chuyển lại từ “ngõ cụt - phúc lợi lớn, chính phủ lớn”. Người Mỹ không nên sa vào tuyên truyền cánh tả và lao vào một tương lai mà… chắc chắn sẽ thất bại.

Năm 2003, cựu Thủ tướng đảng Dân chủ xã hội của Thụy Điển Goran Persson đã sử dụng một con ong nghệ làm ví dụ - để minh họa cho nền kinh tế đất nước của mình: “Với thân hình quá nặng và đôi cánh nhỏ, dường như là nó không thể bay - nhưng nó vẫn bay”.

Nima Sanandaji, một nhà nghiên cứu Thụy Điển và là tác giả cuốn sách “Chủ nghĩa dị biệt của người Scandinavia: Văn hóa, thị trường và sự thất bại của Chủ nghĩa xã hội theo con đường thứ ba” - trong đó cung cấp một lời giải thích rất rõ về những thực tế ở các nước Bắc Âu. 

Văn hóa - chứ không phải Nhà nước Phúc lợi - đã dẫn đến thành công của các nước Bắc Âu

“Một nhà kinh tế học người Bắc Âu từng nói với Milton Friedman (nhà kinh tế học Hoa Kỳ đoạt giải Nobel kinh tế năm 1976): “Ở Bắc Âu, chúng tôi không có đói nghèo”. 

Phúc lợi xã hội không phải là lý do cho sự thành công của các nước Bắc Âu. Các xã hội Bắc Âu đã đạt được mức chênh lệch về thu nhập thấp, mức nghèo thấp và mức tăng trưởng kinh tế cao trước khi có sự phát triển của Nhà nước Phúc lợi.

Trước khi thực hiện các chính sách của Nhà nước Phúc lợi, từ năm 1870 đến năm 1936, tốc độ tăng trưởng của Thụy Điển là cao nhất trong các quốc gia công nghiệp phát triển. Tuy nhiên, khi phúc lợi xã hội dần dần được áp dụng từ năm 1936 đến năm 2008, tốc độ tăng trưởng của Thụy Điển đã giảm xuống thứ 13.

Theo nhà nghiên cứu Sanandaji: “Mức độ tin cậy cao, tinh thần làm việc mạnh mẽ, sự tham gia của người dân, sự gắn kết xã hội, trách nhiệm cá nhân và các giá trị gia đình... là những đặc điểm lâu đời của xã hội Bắc Âu trước khi có Nhà nước Phúc lợi.

Những thể chế xã hội sâu sắc hơn này lý do tại sao Thụy Điển, Đan Mạch và Na Uy có thể nhanh chóng phát triển từ những quốc gia nghèo khó trở thành những quốc gia giàu có - khi công nghiệp hóa và nền kinh tế thị trường ra đời vào cuối thế kỷ 19. Chúng cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự thịnh vượng ngày càng tăng của Phần Lan sau Thế chiến thứ II”.

Cuốn sách này chỉ ra rằng tất cả các yếu tố về tôn giáo, khí hậu và lịch sử dường như đã đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành những nền văn hóa đặc biệt này. Các quốc gia này có dân số đồng nhất với nền tảng tôn giáo và văn hóa tương đồng. Những người theo đạo Tin lành có đạo đức làm việc rất mạnh mẽ.

Một môi trường thiên nhiên rất khắc nghiệt khiến Bắc Âu trở thành nơi khó sống sót, trừ khi một người nông dân làm việc đặc biệt chăm chỉ.

Chính văn hóa, cùng với chủ nghĩa tư bản thị trường tự do và pháp quyền, đã làm cho các nước Bắc Âu trở nên thịnh vượng và giúp họ có thể thực hiện các chính sách phúc lợi mà không gây hậu quả bất lợi nghiêm trọng. Đó cũng là văn hóa đã thúc đẩy sự thành công của hậu duệ của những người nhập cư Bắc Âu đến Mỹ. 

Hầu hết những người di cư này đến Mỹ vào thế kỷ 19, trước khi thực hiện các chính sách của phúc lợi xã hội. Họ không phải là những nhóm ưu tú, nhưng thế hệ sau của họ ở Mỹ lại thành công hơn những Bắc Âu sau này, điều này cho thấy rằng các chính sách của Nhà nước Phúc lợi đã cản trở sự phát triển của nền kinh tế.

Mọi người tận hưởng thời tiết mùa xuân khi ngồi tại một nhà hàng ở Stockholm vào ngày 15 tháng 4 năm 2020, trong đại dịch COVID-19. (Ảnh của Jonathan NACKSTRAND / AFP / Getty)
Mọi người tận hưởng thời tiết mùa xuân khi ngồi tại một nhà hàng ở Stockholm vào ngày 15 tháng 4 năm 2020, trong đại dịch COVID-19. (Ảnh của Jonathan NACKSTRAND / AFP / Getty)

Các nước Nam Âu, chẳng hạn như Ý, Pháp và Hy Lạp, đã áp dụng các chính sách Nhà nước Phúc lợi tương tự như các nước Bắc Âu, nhưng có kết quả kém thuận lợi hơn nhiều. Một lần nữa, điều này cho thấy rõ ràng rằng văn hóa thực sự quan trọng.

Các chính sách phúc lợi xã hội làm suy yếu các giá trị và văn hóa Bắc Âu

“Phải mất thời gian để xây dựng vốn xã hội đặc biệt cao trong các nền văn hóa Bắc Âu. Và phải mất thời gian để các mô hình phúc lợi hào phóng bắt đầu phá hoại đạo đức làm việc mạnh mẽ của các quốc gia này”, nhà nghiên cứu Thụy Điển Nima Sanandaji cho biết.

Các chính sách giúp hình thành tính cách của một xã hội. Khi người dân Bắc Âu trở nên quen với việc đánh thuế cao và các khoản phúc lợi hào phóng của chính phủ, tinh thần trách nhiệm và đạo đức làm việc của họ dần bị suy giảm.

Khi được hỏi trong một cuộc khảo sát năm 1981–1984 rằng “có phải việc đòi quyền lợi với chính phủ về điều mà bạn không đáng được hưởng - không bao giờ là chính đáng?” - có 82% người Thụy Điển và 80% người Na Uy đều đồng ý. Nhưng trong một cuộc khảo sát tương tự vào năm 2005–2008, chỉ 56% người Na Uy và 61% người Thụy Điển đồng ý với tuyên bố này.

Được hưởng các phúc lợi hào phóng làm giảm các động lực làm việc hoặc không thúc đẩy sự chăm chỉ trong công việc. Nó cũng làm suy yếu động lực của cha mẹ để dạy con cái họ làm việc chăm chỉ. 

Ngày càng có nhiều người trở nên phụ thuộc vào các khoản chi trả phúc lợi của chính phủ. Và sự phụ thuộc sẽ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đến lúc mọi người bỏ phiếu ủng hộ phúc lợi nhiều hơn và chính phủ lớn hơn, thì kéo theo sẽ là việc đánh thuế cao hơn, điều này đã thúc đẩy các nước Bắc Âu hướng tới các cực đoan hơn

Người Bắc Âu có ủng hộ với thuế cao không? Câu trả lời là: Không

“Ảo ảnh về tài khóa làm sai lệch các quyết định mang tính dân chủ và có thể dẫn đến việc phân phối lại quá mức”. - Jean-Robert Tyran, nhà kinh tế học Thụy Sĩ và Rupert Sausgruber, nhà kinh tế học người Áo, cho biết.

Người dân Bắc Âu chưa nhận thức đầy đủ về chi phí của một chính phủ lớn hơn. Các chính trị gia đã tạo ra một "ảo ảnh tài chính" - trong đó một phần lớn các loại thuế là gián tiếp hoặc ẩn, chẳng hạn như những khoản thuế có hiệu lực trước khi trả lương - dưới dạng phí hoặc đóng góp an sinh xã hội của người sử dụng lao động; và những khoản thuế bao gồm trong giá hàng hóa được niêm yết, chẳng hạn như VAT. Những khoản thuế này cuối cùng bị “áp lên” tất cả mọi người, nhưng họ không hề nhận biết về chúng.

Ông Sanandaji nói về một cuộc khảo sát được thực hiện vào năm 2003: “Công chúng Thụy Điển được yêu cầu ước tính tổng số thuế mà họ đã nộp. Những người trả lời đã được nhắc nhở để gộp tất cả các hình thức đánh thuế trực tiếp và gián tiếp. Gần một nửa số người được hỏi tin rằng tổng số thuế chiếm khoảng 30–35% thu nhập của họ. Tại thời điểm khảo sát, tổng mức thuế đánh vào một người có thu nhập trung bình, bao gồm cả thuế tiêu dùng, là khoảng 60%”.

Theo cơ sở dữ liệu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và theo tính toán của ông Sanandaji, từ năm 1965 đến năm 2013, gánh nặng thuế của tất cả các quốc gia Bắc Âu đã tăng lên đáng kể, nhưng hầu hết các loại thuế “có thể nhìn thấy” của họ đều giảm, ngoại trừ Đan Mạch.

Điều này đã thành công khi tạo ra một ảo ảnh rằng việc mở rộng chính phủ sẽ không tốn nhiều chi phí. 

Thử nghiệm chủ nghĩa xã hội thất bại ở Thụy Điển

“Thụy Điển là nhà vô địch thế giới về ‘tăng trưởng thất nghiệp’ ” - đó là tiêu đề của một bài báo năm 2006 trên nhật báo kinh doanh Thụy Điển Dagens Industri.

Từ đầu kỷ nguyên dân chủ xã hội vào những năm 1930 cho đến những năm 1960, các nước Bắc Âu vẫn duy trì tương đối thị trường tự do có định hướng, và có mức thuế tương tự như các nước công nghiệp phát triển khác. Nhưng vào đầu những năm 1970, các chính sách dân chủ xã hội cấp tiến được áp dụng, và gánh nặng tài chính và chi tiêu của chính phủ đạt mức cao.

Thụy Điển đã tiến xa nhất đến chủ nghĩa xã hội trong số các quốc gia Bắc Âu kể từ cuối những năm 1960. Ý tưởng cơ bản là thay thế thị trường tự do bằng một mô hình gần hơn với nền kinh tế kế hoạch xã hội chủ nghĩa.

“Không chỉ gánh nặng thuế tổng thể đã tăng, mà hệ thống mới còn phân biệt đối xử nặng nề đối với các cá nhân sở hữu doanh nghiệp. Khi chính sách cực đoan hóa, hệ thống dân chủ xã hội bắt đầu thách thức cốt lõi của mô hình thị trường tự do: tự chủ doanh nghiệp”.

Đã đến lúc vạch trần và tiêu diệt ‘Bà ngoại Sói’ - chủ nghĩa xã hội của phe 'cấp tiến'
Tổng thống đảng Dân chủ Joe Biden (trái) và nghị sĩ Bernie Sanders là những người ủng hộ mạnh mẽ mô hình chủ nghĩa xã hội Bắc Âu (Ảnh: MANDEL NGAN/AFP via Getty Images)

Theo nhà kinh tế Thụy Điển Magnus Henrekson, năm 1980, “thuế suất cận biên hiệu dụng (thuế cận biên cộng với ảnh hưởng của lạm phát) đánh vào các doanh nghiệp Thụy Điển đạt hơn 100% lợi nhuận của họ”. Điều này có nghĩa là một doanh nghiệp tư nhân sẽ thực sự mất tiền nếu họ kiếm được lợi nhuận.

Henrekson rút ra kết luận rằng các chính sách thuế bị “phát triển theo tầm nhìn của một nền kinh tế thị trường mà không có các nhà tư bản và doanh nhân riêng lẻ”.

Kết quả của chính sách đó là rõ ràng: Việc thành lập các doanh nghiệp mới đã giảm đáng kể sau năm 1970. Năm 2004, chỉ 38 trong số 100 doanh nghiệp có doanh thu cao nhất ở Thụy Điển đã khởi đầu như các doanh nghiệp tư nhân. Trong số những công ty này, chỉ có hai công ty được thành lập sau năm 1970. Không có công ty nào trong số 100 công ty lớn nhất “xếp hạng theo số việc làm” được thành lập ở Thụy Điển sau năm 1970.

Hơn nữa, từ năm 1950 đến năm 2000, mặc dù dân số Thụy Điển tăng từ 7 triệu lên gần 9 triệu, nhưng việc tạo việc làm ròng trong khu vực tư nhân gần bằng không.

Đối với các công việc trong khu vực công, chúng đã tăng lên đáng kể cho đến cuối những năm 1970. Tại thời điểm đó, khu vực công không thể phát triển lớn hơn vì thuế đã lên đến mức cao nhất có thể.

Khi nhà nước phúc lợi không thể phát triển lớn hơn, việc tạo việc làm nói chung đã dừng lại - cả khu vực tư nhân và khu vực công đều không mở rộng.

Vào đầu những năm 1980, "quỹ nhân viên" đã được bắt đầu ở Thụy Điển - đó là lấy đi một phần lợi nhuận của các công ty và chuyển chúng vào các quỹ do liên đoàn lao động kiểm soát. Mục đích là đạt được chủ nghĩa xã hội “một cách vừa phải” - bằng cách chuyển dần quyền sở hữu các công ty tư nhân cho các công đoàn. 

Mặc dù hệ thống này đã bị bãi bỏ trước khi nó có thể biến Thụy Điển thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, nhưng nó đã khiến những người sáng lập IKEA, Tetra Pak, H&M và các công ty rất thành công khác rời bỏ đất nước này”.

Chính sách đáng sợ về “quỹ nhân viên” cuối cùng đã bị bãi bỏ vào năm 1991, đó là khoảng thời gian Thụy Điển phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng nhất kể từ Thế chiến thứ II. Phải mất gần 2 thập kỷ để việc làm đạt mức trước năm 1990. Để so sánh, Thụy Điển chỉ mất bảy năm để phục hồi về mặt việc làm từ cuộc Đại suy thoái vào những năm 1930.

Quay đầu từ 'ngõ cụt': Cải cách Phúc lợi

“Thụy Điển đã là nước xã hội chủ nghĩa hơn trong số các nước Bắc Âu vài thập kỷ trước. Đây cũng là quốc gia cải cách nhiều nhất”, theo Nima Sanandaji , nhà nghiên cứu Thụy Điển.

Bắt đầu từ những năm 1990, hầu hết các quốc gia Bắc Âu đều nhận ra rằng cải cách phúc lợi là không thể tránh khỏi, ngoại trừ Na Uy. Năm 1969, một trong những mỏ dầu ngoài khơi lớn nhất thế giới được tìm thấy ở vùng biển Na Uy. Sự giàu có từ dầu mỏ khiến nước này có thể duy trì các hệ thống phúc lợi hào phóng của mình. Vì Thụy Điển và Na Uy khá giống nhau về nhiều mặt, ngoại trừ cải cách phúc lợi, nên đây là một thí nghiệm tuyệt vời để xem tác động của cải cách này.

Cải cách ở Thụy Điển bao gồm giảm trợ cấp phúc lợi, giảm thuế, tự do hóa thị trường lao động và thực hiện cơ chế giám sát để nhận trợ cấp ốm đau và tàn tật. Sau cải cách này, từ năm 2006 đến năm 2012, dân số được hỗ trợ bởi các phúc lợi của chính phủ đã giảm từ 20% xuống 14% ở Thụy Điển. Trong khi đó, Na Uy chỉ giảm ít hơn 1% trong cùng khoảng thời gian.

Đối với những người Na Uy trẻ tuổi, họ có rất ít động lực để làm việc chăm chỉ. Do đó, các nhà tuyển dụng đang chuyển sang sử dụng lao động nước ngoài, bao gồm cả từ Thụy Điển. Từ năm 1990 đến năm 2010, số lượng người Thụy Điển trẻ tuổi làm việc tại Na Uy đã tăng hơn 20 lần do mức lương cao hơn ở Na Uy - nhờ doanh thu từ dầu mỏ mang lại. Theo khảo sát của các nhà tuyển dụng Na Uy, 3/4 người trả lời rằng thanh niên Thụy Điển làm việc chăm chỉ hơn thanh niên Na Uy.

Sau cuộc cải cách, trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và 2009, Thụy Điển đã thể hiện thành tích kinh tế ấn tượng. Các cải cách này dẫn đến tự do kinh tế lớn hơn, khuyến khích tăng việc làm mạnh mẽ hơn, và ít phụ thuộc hơn vào phúc lợi của chính phủ.

Đan Mạch và Phần Lan cũng cải tổ hệ thống phúc lợi của họ. Ngay cả ở Na Uy, một số cải cách thị trường đã được thực hiện. 

Lời cảnh báo cho người Mỹ

Các quốc gia Bắc Âu đang quay trở lại “nguồn gốc” thị trường tự do của họ. Họ đã học được những bài học của mình thông qua việc tiến vào các Nhà nước phúc lợi, hoặc thậm chí là chủ nghĩa xã hội “dự định”, và họ đã cố gắng xoay chuyển trở lại từ “ngõ cụt”.

Người Mỹ không nên sa vào tuyên truyền cánh tả và lao vào một tương lai mà… chắc chắn sẽ thất bại.

Tác giả: Jean Chen đến từ Trung Quốc và viết bằng bút danh để bảo vệ gia đình của cô ở Trung Quốc.

Quan điểm được trình bày trong bài viết này là ý kiến ​​của tác giả và không nhất thiết phản ánh quan điểm của NTD Việt Nam.

Thủy Tiên



BÀI CHỌN LỌC

Đảng Dân chủ ca ngợi các nước Bắc Âu là ‘thiên đường xã hội chủ nghĩa’, thực tế là họ đang cố quay đầu từ ‘ngõ cụt’