Ước tính 1,7 tỷ người trên toàn thế giới có thể rơi vào tình trạng bệnh nghiêm trọng nếu bị lây nhiễm COVID-19 

Bình luận Ánh Dương • 23:51, 17/06/20

Theo một nghiên cứu dựa trên mô hình hóa sử dụng dữ liệu từ 188 quốc gia, được công bố trên The Lancet Global Health, ước tính có khoảng 1,7 tỷ người, chiếm 22% dân số thế giới, có thể rơi vào tình trạng bệnh nghiêm trọng nếu bị lây nhiễm COVID-19. 

Mặc dù ước tính đưa ra ý tưởng về số lượng người mà các chính phủ nên ưu tiên các biện pháp bảo vệ trước đại dịch viêm phổi Vũ Hán (COVID-19), nhưng không phải tất cả các cá nhân với những điều kiện này sẽ có các triệu chứng nghiêm trọng nếu bị lây nhiễm. Các tác giả ước tính rằng 4% dân số thế giới (349 triệu trong số 7,8 tỷ người) sẽ phải nhập viện nếu bị lây nhiễm virus Corona Vũ Hán, cho thấy những người có tình trạng bệnh nghiêm trọng nếu mắc COVID-19 có thể khá khiêm tốn so với những người dễ bị tổn thương và lây nhiễm.

Tiến sĩ Andrew Clark, Phó Giáo sư tại Trường Y học Nhiệt đới & Vệ sinh Luân Đôn (LSHTM), cho biết: “Khi các quốc gia đang dần dần dỡ bỏ tình trạng phong tỏa, các chính phủ đang tìm cách bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất khỏi virus vẫn đang lưu hành. Chúng tôi hy vọng các ước tính của chúng tôi sẽ cung cấp các điểm khởi đầu hữu ích để thiết kế các biện pháp bảo vệ những người có nguy cơ mắc bệnh nghiêm trọng này. Điều này có thể liên quan đến việc tư vấn cho những người dễ bị tổn thương áp dụng các biện pháp cách ly xã hội phù hợp với mức độ rủi ro của họ, hoặc ưu tiên họ được tiêm phòng trước trong tương lai khi có vaccine’’.

Các hướng dẫn được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và các cơ quan y tế công cộng ở Anh và Hoa Kỳ công bố xác định các yếu tố nguy cơ có thể mắc COVID-19 nghiêm trọng, bao gồm các loại bệnh về tim mạch, bệnh thận mãn tính, tiểu đường và bệnh hô hấp mãn tính.

Nghiên cứu mới này cung cấp các ước tính cho toàn cầu, khu vực và quốc gia về số người có tình trạng sức khỏe dễ bị tổn thương. Các nhà nghiên cứu cảnh báo rằng họ chỉ tập trung vào các tình trạng mắc bệnh mãn tính và không bao gồm các yếu tố rủi ro có thể mắc COVID-19 khác mà chưa bao gồm trong tất cả các hướng dẫn, chẳng hạn như vấn đề dân tộc và nền kinh tế xã hội còn yếu kém. Do đó, ước tính của họ dường như không đầy đủ, nhưng đóng vai trò là điểm khởi đầu cho các nhà hoạch định chính sách.

Các ước tính dựa trên dữ liệu về tỷ lệ lưu hành các loại bệnh từ Nghiên cứu Các yếu tố Rủi ro, Chấn thương và Bệnh tật Toàn cầu (GBD) năm 2017, để ước tính dân số của Liên Hợp Quốc năm 2020 và danh sách các tình trạng sức khỏe dễ bị tổn thương liên quan đến COVID-19, như được định nghĩa theo hướng dẫn hiện hành của WHO.

Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ ước tính của GBD có thể cao hơn so với các cơ sở dữ liệu quốc gia, bởi vì chúng được thiết kế để nắm bắt được các trường hợp có thể không được chẩn đoán hoặc không đủ nghiêm trọng để đưa vào hồ sơ sức khỏe điện tử của các chính phủ. Họ đã phân tích số người với ít nhất một loại bệnh nguy hiểm theo nhóm tuổi, giới tính và quốc tịch tại 188 quốc gia.

Để giúp xác định mức độ rủi ro gia tăng, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra các ước tính riêng về tỷ lệ của toàn dân số (có và không có tình trạng bệnh), những người sẽ phải nhập viện nếu bị nhiễm virus Corona Vũ Hán. Các tác giả đã tính toán những người có nguy cơ cao thông qua tỷ lệ nhập viện do lây nhiễm COVID-19 và thực hiện các điều chỉnh cho sự khác biệt giữa các quốc gia.

sẵn sàng tiếp nhận các bệnh nhân COVID-19 nghiêm trọng.
Các bệnh viện lớn và các bệnh viện dã chiến được chuẩn bị sẵn sàng tiếp nhận các bệnh nhân COVID-19 nghiêm trọng. (Ảnh: Djedj/Pixabay)

Các quốc gia và khu vực có dân số trẻ hơn, thì có ít người có ít nhất một loại bệnh nguy hiểm hơn, trong khi những nước và khu vực có dân số già hơn thì số người mắc ít nhất một loại bệnh sẽ nhiều hơn. Ví dụ, tỷ lệ dân số có một hoặc nhiều loại bệnh nguy hiểm dao động khoảng 16% ở Châu Phi (283 triệu người trong số 1,3 tỷ dân) thì ở Châu Âu số đó là khoảng 31% (231 triệu người trên 747 triệu dân).

Tuy nhiên, tiến sĩ Clark cảnh báo rằng bằng chứng loại này cần được truyền đạt một cách cẩn thận để tránh sự tự mãn về rủi ro đại dịch bùng phát ở Châu Phi: “Tỷ lệ dân số có nguy cơ mắc COVID-19 nghiêm trọng thường thấp hơn ở châu Phi so với những nơi khác, do dân số ở khu vực đó trẻ hơn nhiều, nhưng tỷ lệ tử vong trong số những trường hợp nghiêm trọng ở châu Phi có thể cao hơn so với những nơi khác’’.

Các quốc đảo nhỏ có tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường cao, chẳng hạn như Fiji và Mauritius, là một trong những quốc gia có tỷ lệ nhiễm bệnh COVID-19 cao nhất. Ở Châu Phi, các quốc gia có tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS cao nhất, chẳng hạn như eSwatini và Lesotho, có tỷ lệ người dễ bị mắc bệnh cao hơn các quốc gia có tỷ lệ nhiễm bệnh HIV/AIDS thấp hơn, chẳng hạn như Nigeria.

Trên toàn cầu, có dưới 5% số người dưới 20 tuổi, nhưng có hơn 66% những người từ 70 tuổi trở lên, có ít nhất một loại bệnh có thể làm tăng nguy cơ mắc COVID-19 nghiêm trọng. Trong số dân số trong độ tuổi lao động (15 đến 64 tuổi), có 23% người được ước tính có ít nhất một loại bệnh. Tỷ lệ mắc một hoặc nhiều loại bệnh được liệt kê trong các hướng dẫn hiện tại là tương tự nhau giữa hai giới tính, nhưng các tác giả cho rằng nam giới có khả năng nhập viện cao gấp đôi so với nữ giới.

Các kết quả nghiên cứu cho thấy 349 triệu người trên toàn thế giới có nguy cơ cao mắc COVID-19 nghiêm trọng, nghĩa là họ sẽ phải điều trị tại bệnh viện nếu bị nhiễm bệnh. Nguy cơ này thay đổi từ dưới 1% số người dưới 20 tuổi đến gần 20% những người từ 70 tuổi trở lên, tăng lên hơn 25% ở nam giới trên 70 tuổi. Trong số những người dưới 65 tuổi, thì số nam giới có thể yêu cầu nhập viện sẽ gấp đôi số nữ giới. Trên 65 tuổi, tỷ lệ này trở nên ít được nhận thấy hơn vì nữ giới chiếm đa số trong những người cao tuổi do tuổi thọ dài hơn.

Tiến sĩ Rosalind Eggo, phó Giáo sư tại LSHTM, cho biết: “Những ước tính của chúng tôi cho thấy giới hạn về độ tuổi có thể đóng vai trò trong việc giảm tử vong và giảm số người cần điều trị tại bệnh viện, nhưng việc lựa chọn ngưỡng giới hạn cần phải được cân bằng theo tỷ lệ người trong độ tuổi lao động bị lây nhiễm bệnh, cũng như cân nhắc đến hậu quả giữa sức khỏe và kinh tế, có liên quan đến thời gian cách ly xã hội hoặc phong tỏa thành phố lâu hay vừa đủ an toàn cho người dân nhưng cũng có thể ổn định kinh tế cho họ’’.

Ánh Dương

Theo LSHTM

Khoa học Nhân thể