Pha lượng tử: Chuyến du hành thời gian ly kỳ của 2 nữ giáo sư, các thực tại song song và bộ não

Bình luận Văn Thiện • 01:36, 26/08/20

Giúp NTDVN sửa lỗi

Nhà vật lý lỗi lạc và đồng sáng lập lý thuyết dây, Michio Kaku, từng nói: “Nếu bạn có một chiếc radio trong phòng khách của bạn… và bạn có thể thu được tất cả các tần số trong phòng này; BBC, Radio Moscow, ABC. Nhưng khi chiếc đài của bạn được điều chỉnh để thu một tần số thì bạn sẽ bị tách biệt khỏi tất cả các tần số khác. Chiếc đài chỉ kết hợp với một tần số nhất định. Bây giờ nếu chúng ta tin rằng vũ trụ gồm nhiều dao động thì sẽ có những dao động của các vũ trụ khác ngay trong căn phòng này”...

Có thể có những vũ trụ song song khác trong phòng khách của bạn. Chẳng hạn, có vũ trụ mà trong đó khủng long không bị tuyệt chủng do sao chổi không va vào Trái đất vào 65 triệu năm trước; hoặc người ngoài hành tinh đang nhìn vào đống đổ nát trên một Trái đất đã bị phá hủy. Tuy nhiên, chúng ta không thể nhận biết được do không cùng dao động với chúng… Đây là cách giải thích hiện đại của lý thuyết lượng tử, rằng có nhiều thế giới đồng thời biểu diễn thực tại. [1]

Cách đây không lâu, hầu như bất cứ ai đưa ra ý kiến như vậy sẽ bị nhiều người cho là “bịa đặt”... Tuy nhiên, việc quy kết như vậy sẽ không còn hợp lý đối với nhà vật lý nổi tiếng như Kaku. Trên thực tế, những ý kiến giống hệt như vậy đã được các nhà thông thiên học đưa ra cách đây một và nhiều thế kỷ trước khi họ mô tả bình diện thiên thể, đan xen giữa bình diện vật chất mà sinh vật của bên này không nhận thức được bên kia, “những giác quan của các sinh vật thường chỉ có khả năng phản ứng với sự thay đổi trong thế giới của họ”. [2]

Thuốc gây ảo giác và "đa thế giới"

Năm 1953, Aldous Huxley, đã thử nghiệm với việc ăn phải các chất gây ảo giác như Mescaline, Psilocybin và thuốc Lysergic acid diethylamide (LSD). Ông cho rằng chức năng của não, hệ thần kinh và các cơ quan cảm giác chủ yếu là loại bỏ hơn là tạo ra kiến thức, hoạt động như một "van giảm" giúp bảo vệ chúng ta khỏi bị choáng ngợp và bối rối trước một lượng kiến thức vô dụng và không liên quan, chỉ để lại một phần nhỏ có hữu ích trong thực tế. [3]

Bác sĩ tâm thần lỗi lạc Stanislav Grof, người đã nghiên cứu sâu rộng về tác động của LSD đối với ý thức, cũng bày tỏ sự đồng tình với quan điểm về cách “van giảm” hoạt động [4]. Vào thời điểm xuất bản cuốn sách The Holotropic Mind (Tạm dịch: Trí óc toàn ảnh) vào năm 1993, Grof đã hoàn thành khoảng 24.000 thí nghiệm thay đổi trạng thái với khách hàng và bệnh nhân. Không ít bằng chứng có thể chứng minh quan điểm của ông.

Năm 1983, nhà khoa học Thụy Sĩ Albert Hoffman, người đầu tiên tổng hợp LSD, bày tỏ quan điểm rằng LSD, bằng cách thay đổi hóa học của não, điều chỉnh nó thành các bước sóng khác so với bước sóng thông thường, do đó cho phép các thực tại khác xâm nhập vào nhận thức của một người. [5]

Các nhà khoa học từ lâu đã sử dụng các thuật ngữ dao động và tần số để mô tả những gì con người nhìn thấy và cảm thấy, nhưng chỉ bây giờ mới trở nên rõ ràng, ngay cả trước khi vật lý lượng tử ra đời.

Nhà điều khiển học David Foster đã viết trong một bức thư cho Colin Wilson rằng vũ trụ là một cấu trúc của sóng và dao động, với con người là một hệ vi mô có cùng bản chất dao động cơ bản với hệ thống của vũ trụ . Ông tiếp tục nói thêm rằng tâm trí là một bộ radio có thể “điều chỉnh” để thu nhận hàng ngàn dao động khác nhau. [6]

Việc "điều chỉnh" như vậy tạo ra cái mà chúng ta gọi là ESP. Hãy nghĩ về nó theo cách này: hai người có cùng pha lượng tử có độ lệch pha bằng 0, và do đó hoàn toàn là có thực với nhau. Để có thể bắt tay hoặc tương tác, chúng ta phải có cùng một pha lượng tử. Nếu các pha lượng tử của chúng ta khác biệt so với nhau, thì sự tương tác của chúng ta sẽ ít hữu hình hơn. [7] Một người trong chúng ta có thể coi người kia là “ma quái”; sự tương tác có thể có vẻ là "điều huyền bí".

Trong mô hình của Bearden, “sự khác biệt duy nhất giữa hai thực thể bất kỳ trong các thế giới khác nhau là vấn đề phép quay trực giao”, quay theo góc vuông với hệ quy chiếu thực ban đầu. Theo ông, sau 3 lần quay, chúng ta sẽ thu được một thế giới tinh thần/ảo - trong đó các đối tượng 3D. Các siêu không gian khác có thể thu được cũng qua 3 lần quay khác. Các hiện tượng vật lý trong các hệ quy chiếu mới này là hiện tượng tinh thần đối với chúng ta - nhưng chúng vẫn rất thực. [8]

Rick Strassman, bác sĩ tâm thần và nhà nghiên cứu về Dimethyltryptamine (DMT). Sau khi nghiên cứu về tác động của DMT đối với ý thức con người và những trải nghiệm bất thường mà nó tạo ra cho các đối tượng thử nghiệm, ông đã suy đoán rằng các vũ trụ song song có thể quen thuộc, ngay cả khi các sinh vật và các công nghệ trong đó phát triển theo các hướng khác nhau rõ rệt. Ông tin rằng những sinh vật giống bò sát và côn trùng, và dạng sống khó nhận biết khác với trí thông minh, không phải là điều bất ngờ, và cũng có những dạng công nghệ tiên tiến - tất cả đều được các đối tượng thử nghiệm DMT của ông báo cáo. [9]

Trái nghiệm du hành ngược thời gian của 2 nữ giáo sư

Có nhiều trường hợp để kể lại rằng họ đã chứng kiến hoặc thậm chí tham gia vào một cảnh từ một thực tế "song song", đôi khi những gì họ cảm nhận là "quá khứ".

Vào ngày 10 tháng 8 năm 1901, 2 nữ giáo sư Oxford, Anne Moberly, hiệu trưởng trường Đại học St. Hugh và phó hiệu trưởng Eleanor Jourdain, đã đi lang thang và bị lạc trong khu vườn của tòa lâu đài Petit Trianon ở Versailles. Khi cả hai người đều cảm thấy buồn bã, chán nản và bất an thì đột nhiên khung cảnh dường như bất thường, vô hồn và hư ảo. Hai người đàn ông mặc "áo khoác dài màu xanh lục xám, với chiếc mũ ba góc nhỏ" bất ngờ xuất hiện và dẫn những bà nữ giáo sư đến Petit Trianon. Họ đi ngang qua một ngôi nhà nhỏ lẻ loi nơi một phụ nữ và một bé gái 12 hoặc 13 tuổi đang đứng ở ngưỡng cửa, cả hai đều mặc khăn trắng buộc chặt dưới thân. Jourdain sau đó đã viết rằng “cả hai dường như dừng lại ngay lập tức, như trong một bức tranh chuyển động”.

Eleanor Jourdain (trái) và Charlotte Anne Moberly (phải), 2 nhân vật chính của sự kiện. (Ảnh: Wikipedia)
Eleanor Jourdain (trái) và Charlotte Anne Moberly (phải), 2 nhân vật chính của sự kiện. (Ảnh: Wikipedia)

Cả hai tiếp tục đi tiếp và nhanh chóng đến một túp lều nằm giữa một vòng vây. Một người đàn ông trông có vẻ nham hiểm đang ngồi bên ngoài, khuôn mặt biến dạng đáng kinh ngạc vì bệnh đậu mùa, mặc một chiếc áo choàng đen quanh vai và đội một chiếc mũ lụp xụp, loại thời trang của thời đó. Ông ta quay lại nhìn về hướng họ, mặc dù dường như nhìn chằm chằm vào họ, nhưng không đáp lại hiện diện của họ. Tuy nhiên, điều đó cũng đủ khiến họ cảm thấy vô cùng khó chịu và hai giáo sư tiếp tục bước đi trong im lặng khó chịu cho đến khi họ đến một ngôi nhà nhỏ ở nông thôn.

Một phụ nữ đang ngồi cảnh trên bãi cỏ, quay lưng lại ngôi nhà, tuy nhiên, kỳ lạ thay, chỉ có một trong hai vị giáo sư nhìn thấy bà ấy, mặc dù cả hai đều quan tâm đến việc có người để hỏi đường. Người phụ nữ, ăn mặc theo phong cách thời kỳ này trong một chiếc váy mùa hè với vạt áo dài và một chiếc váy ngắn nhưng rất đầy đặn, trên tay cầm một tờ giấy hoặc bìa cứng lớn và có vẻ như đang vẽ. Cô ấy có một chiếc khăn lông hoặc khăn quàng cổ màu xanh lá cây nhạt khoác trên vai, và một chiếc mũ trắng lớn che đi mái tóc trắng của cô ấy.

Khi Moberly và Jourdain đi tiếp, một người đàn ông trẻ tuổi chạy đến gần họ và khẩn trương chỉ đường cho họ về phía Petit Trianon, nơi cuối cùng họ đã định vị được. Bước vào, họ thấy mình đang ở giữa một bữa tiệc cưới trong đó những người tham gia đều mặc quần áo trong trang phục của năm 1901.

Trong những chuyến đi tiếp theo đến các khu vườn của Petit Trianon, 2 nữ giáo sư đã cảm thấy bối rối rằng con đường họ đi xuống trong chuyến thăm đầu tiên giờ đã bị chặn bởi một bức tường đá cũ có từ lâu. Những người khác không còn tồn tại nữa. Nhìn chung, bố cục và kích thước của khu đất và tòa nhà là hoàn toàn khác nhau. Chẳng hạn, túp lều nơi người đàn ông có khuôn mặt biến dạng ngồi đã không còn ở đó.

Về nhà ở Anh tìm kiếm các tài liệu lịch sử, 2 nữ giáo sư kết luận rằng họ có lẽ đã được đưa vào ký ức thực sự của Nữ hoàng Marie Antoinette trong ngày (10 tháng 8 năm 1792), nơi diễn ra vụ cướp bóc nhà Tuileries và thảm sát của Vệ binh Thụy Sĩ - điều này giải thích cho thái độ kích động của những người trong vườn và cảm giác u ám áp bức nói chung - và người phụ nữ ngồi trong vườn không ai khác chính là Nữ hoàng.

Moberly sau đó tình cờ gặp được bức tranh về Nữ hoàng Marie Antoinette do họa sĩ Wertmüller vẽ và có thể xác định bà là người phụ nữ vẽ phác mà bà đã thấy ở gần Petit Trianon - ngay cả quần áo cũng giống. Theo các ghi chép cho thấy, người đàn ông trông có vết rỗ và “xấu xa” ở túp lều, có thể là kẻ phản bội Nữ hoàng, Comte de Vaudreuil. [10]

Các mô tả của Moberly và Jourdain về cách bố trí các khu vườn và các công trình phụ là chưa hề biết đến bởi các nhà sử học Versailles vào thời điểm đó. Nhưng sau đó chúng đã được các nhà sử học xác minh bằng cách miệt mài tìm kiếm và xem xét các hồ sơ khó hiểu của triều đình Louis XVI, bao gồm cả tiền công mà ông trả cho người làm vườn và thợ mộc cho các dự án cụ thể. [11]

Cầu nối lượng tử giữa các thế giới?

Các nhà lý thuyết dây và nhà điều khiển học vui mừng. Có lẽ yếu tố hấp dẫn nhất của báo cáo cụ thể này là những người từ hiện trường/thời kỳ đã tiếp cận hai người phụ nữ và nói chuyện cụ thể với họ, chứng tỏ rằng họ không chỉ đơn thuần là những người ngoài cuộc vô hình, mà còn rất thực và có thể nhận thấy được. Vì vậy, những người phụ nữ về cơ bản đã được chuyển ngược thời gian; họ không chỉ chứng kiến một cảnh tượng như những người quan sát bên ngoài, họ đã ở đó trong “quá khứ”.

Trong một bài báo năm 1957 về cách trọng tâm của nhận thức tạo ra thực tại của chúng ta, Hugh Everett đã mô tả “những khoảnh khắc đơn giản trong thời gian có thể chuyển từ thực tế này sang thực tế khác bằng cách tạo ra một cầu nối lượng tử giữa hai khả năng đã tồn tại”. Người ta tự hỏi liệu ông có dự định bao gồm những khả năng như khả năng làm cong thời gian này không. Everett gọi những cánh cửa cơ hội này là “điểm lựa chọn”. [12] Rõ ràng là ông nhận thức được rất nhiều về bản chất đa nguyên của “thực tại”.

Sự kiện của Moberly và Jourdain đã trở nên nổi tiếng. Như chúng ta đã thấy và sẽ thấy, trong vật lý lượng tử, quá khứ, hiện tại và tương lai không thể phân biệt rõ ràng với nhau và nhiều nghiên cứu đang được tiến hành về những ảnh hưởng của tương lai đối với hiện tại. Tóm lại, quá khứ, hiện tại và tương lai - tất cả chúng - đều tồn tại ngay bây giờ. Theo lời của nhà vật lý và lý thuyết dây Brian Greene: "Nếu bạn đang có một khoảng thời gian tuyệt vời vào lúc nửa đêm của đêm giao thừa năm 1999, thì chúng vẫn còn đó”.

Từ quan điểm của thuyết đa thế giới, không có gì bất thường về sự kiện này. Nhà huyền bí học có thể cho rằng những nữ giáo sư về cơ bản đã bước vào quá khứ. Vậy, hai người phụ nữ của thế kỷ 20 này có thực sự ở đó vào những năm 1700 không? Theo quan điểm của cách giải thích đa thế giới, trong ít nhất một phiên bản, họ đã và có lẽ vẫn ở đó trong “thực tại song song”. Những người phụ nữ ăn mặc kỳ quặc “có vẻ lạc lõng” trong khu vườn Petit Trianon vào ngày hôm đó khi mọi người đều bận rộn về một cách vội vàng.

Không có “khoảng thời gian riêng biệt”, chỉ đơn giản là một thực tại siêu không gian lớn hơn bao trùm mọi lúc. Nếu chúng ta có thể bước vào một siêu không gian và xem tất cả các lịch sử bị đóng băng trong thời gian, chúng ta có thể chọn một phiên bản khác để bước vào và trải nghiệm.

Novikov đã áp dụng “nguyên lý tác dụng tối thiểu” cho việc du hành thời gian, và, trong điều mà Strieber gọi là “kỳ tích xuất sắc của toán học” đã chỉ ra rằng những chuyển động xuyên thời gian duy nhất thỏa mãn nguyên tắc này phải là những chuyển động mà “nghịch lý ông nội” không thể áp dụng: “Du hành thời gian sẽ không bao giờ gây ra tình huống mà một trong những nghịch lý này có thể xảy ra”. [13]

Nếu chúng ta tiếp cận một dòng hạt chuyển động nhanh hơn ánh sáng, về mặt lý thuyết chúng ta có thể du hành thời gian. Như Thuyết tương đối của Einstein đã chỉ ra, một thứ gì đó di chuyển càng nhanh thì thời gian chủ quan của nó trôi qua càng chậm và nếu nó phá vỡ ngưỡng tốc độ ánh sáng, thì nó sẽ quay ngược thời gian.

Tác giả Whitley Strieber đã hỏi vào năm 1997 rằng liệu trí óc bằng cách nào đó có thể cho phép chúng ta du hành thời gian. [14] Strieber đã có những trải nghiệm giống như Versailles của riêng mình, vì vậy ông đã biết câu trả lời là "có". Nghiên cứu được chính phủ hậu thuẫn đã xác thực quan điểm này, như chúng ta sẽ thấy.

Frank Wilczek, người đoạt giải Nobel, nói: “Chúng ta bị ám ảnh bởi nhận thức rằng vô số bản sao biến thể một chút của chính chúng ta đang tồn tại song song và mỗi giây phút lại có nhiều bản sao xuất hiện và chiếm lấy nhiều tương lai thay thế của chúng ta”. [15] Max Tegmark của MIT cũng thể hiện một quan điểm gần như giống vậy. [16]

Kaku đã đề cập trong mô tả của mình về thực tại một thứ gọi là phân  , một lý thuyết nói rằng mặc dù tất cả các vũ trụ song song vô tận này đều là khả năng, nhưng hàm sóng của vũ trụ của chúng ta đã tách rời khỏi chúng: nó không còn dao động đồng điệu/cùng pha với chúng. Do đó, nó không còn tương tác với chúng nữa. Kết quả là mặc dù chúng ta có thể cùng tồn tại đồng thời với cư dân các vũ trụ khác, nhưng chúng ta không còn “hòa hợp” với họ nữa. [17]

Văn Thiện (lược dịch)

Tác giả Brendan D. Murphy

Theo wakeup-world

Tài liệu tham khảo

  • [1] David Icke - Michio Kaku Confirms Icke to Be Correct (Youtube)
  • [2] Leadbeater, A Textbook of Theosophy.
  • [3] Hancock, Supernatural, 102–3.
  • [4] Williams, Nothing Better Than Death, 130.
  • [5] Hancock, Supernatural, 103.
  • [6] See Wilson, The Occult, 700–1.
  • [7] Montalk, Astral Physics and Timespace. See also <http://montalk.net/about>.
  • [8] Bearden, Excalibur, 194–5.
  • [9] Strassman, DMT, 318.
  • [10] Moberly & Jourdain, An Adventure.
  • [11] See Waite, The Mystic Sciences, Ch. 1.
  • [12] Braden, Fractal Time, 188.
  • [13] Strieber, The Secret School, 47.
  • [14] Ibid., 48.
  • [15] Kaku, Physics of the Impossible, 244.
  • [16] Jones, 121.
  • [17] Kaku, Physics of the Impossible, 244.



BÀI CHỌN LỌC

Pha lượng tử: Chuyến du hành thời gian ly kỳ của 2 nữ giáo sư, các thực tại song song và bộ não