Anthropocene - Kỷ nguyên địa chất của loài người hiện nay?

Bình luận Ánh Dương • 16:03, 12/08/20

Các nhà nghiên cứu địa chất đưa ra những bằng chứng về một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên Anthropocene, do con người đang sử dụng các công nghệ hiện đại của mình để thay đổi về cơ bản toàn bộ bề mặt Trái đất.

Trong khoảng 10.000 năm qua - nghĩa là, kể từ lần Trái đất bị bao phủ bởi băng giá gần đây nhất (Kỷ băng hà cuối cùng - 115.000 đến 11.700 năm trước) - chúng ta đã sống trong thời kỳ mà các nhà địa chất gọi là Kỷ nguyên Holocen.

Đề xuất đổi tên kỷ nguyên Anthropocene

Gần đây, một nhóm các nhà địa chất học người Anh đã viết một bài báo đăng trên tạp chí GSA Today cho rằng vì nhu cầu tiêu dùng và sinh sống của con người ngày càng tăng hầu như không có giới hạn nên họ đã ngày càng phá hoại môi trường tự nhiên. Họ áp dụng các công nghệ để khai thác triệt để nguồn tài nguyên từ Trái đất, điều này sẽ để lại dấu ấn lâu dài trong hồ sơ địa chất. Vì vậy các nhà địa chất học đã đề xuất việc thay đổi tên gọi của kỷ nguyên hiện tại cho phù hợp với tình trạng địa chất hiện nay. Họ đề nghị được gọi là Kỷ nguyên Anthropocene.

Bài báo liệt kê những thay đổi địa chất cụ thể mà con người đã tạo ra, bao gồm: sự gia tăng xói mòn do nông nghiệp và các con đập; sự gia tăng carbon trong khí quyển, phần lớn là do sử dụng nhiên liệu hóa thạch; một loạt các vụ tuyệt chủng động thực vật; và mực nước biển dâng cao.

Câu hỏi đặt ra là Kỷ nguyên Anthropocene này nên được tính bắt đầu từ khi nào. Trong quá khứ, các kỷ nguyên mới được đánh dấu bằng Phần và Điểm Địa tầng Toàn cầu (Global Stratotype Section and Point - GSSP), hay "gai vàng", trong đó một số phép đo địa chất có thể định lượng được tính chất đặc trưng của thời đại đó, là thứ mới xuất hiện và chưa có trong thời đại trước, và được đo lường trên toàn thể quả địa cầu.

Ví dụ, Anthropocen có thể được xác định bởi mức carbon cao của nó hoặc bởi các đồng vị phóng xạ từ bom nguyên tử. Nhưng các tác giả cho rằng sự khởi đầu thực sự của Anthropocen là Cách mạng Công nghiệp.

Nhà nghiên cứu địa chất Mark Williams thuộc ĐH Leicester đã đưa ra những chứng cứ về việc thay đổi cơ bản diện mạo Trái đất do con người khoan, đào vào trong lòng đất để xây dựng những công trình ngầm trong kỷ nguyên này.

1. Bề mặt trái đất

“Nhân loại đã biến hơn một nửa diện tích đất đai thành đất canh tác”, Williams và đồng nghiệp của ông đã viết như vậy trên tạp chí chuyên đề “The Anthropocene”. Đường giao thông, các mỏ đá và diện tích đất nông nghiệp đã đẩy lùi thảm thực vật tự nhiên. Khoảng ba phần tư diện tích đất đai trên Trái đất đã được cải tạo bởi bàn tay con người, theo nhận định của nhà địa lý Erle Ellis thuộc ĐH Maryland. Chỉ có khoảng 23% diện tích là các khu bảo tồn thiên nhiên. Các công trình giao thông đô thị xé nhỏ môi trường sống của động vật, các nhà sinh học cảnh báo. Nước mưa không thể thẩm thấu và mặt đất trải nhựa đường làm cho không khí bị nung nóng.

2. Những đường ống

Dưới mặt đất là một mạng lưới chi chít đường hầm dùng cho tàu điện ngầm, đường ống nước, đường dây điện và điện thoại, các đường hầm. Như ở Tokyo có những đường hầm nhiều tầng sâu tới 40 m trong lòng đất, chạy dưới những ngôi nhà chọc trời, hay những tháp tích nước mưa khổng lồ nằm sâu trong lòng đất. Ở Moscow, tàu điện ngầm cũng hoạt động ở độ sâu 50m trong lòng đất. Những bãi đỗ xe, nhà ga xe lửa, nhà kho, rạp chiếu bóng, nhà hát kịch và các trung tâm thương mại đều tìm cách chiếm dụng lòng đất. Ở Montreal, phần lớn khu trung tâm của thành phố nằm trong lòng đất.

Riêng ở nước Đức, hệ thống đường ống nước thải có độ dài tới 1,4 tỷ km, đủ để đi 35.000 lần vòng quanh Trái đất. Những hệ thống đường ống dẫn dầu và khí đốt dài hàng nghìn km, một số đường ống chạy dài dưới đáy biển nối liền các châu lục, nếu xảy ra rò rỉ thì môi trường sẽ bị ô nhiễm nặng nề.

3. Khai khoáng

Trên thế giới có khoảng 10 khu mỏ ở độ sâu hơn 2,5 km trong lòng đất. Ở mỏ Mponeng, Nam Phi, các máy xúc hoạt động ở độ sâu tới 4 km để tìm vàng. Việc đào bới này làm cho mặt đất trở nên mất ổn định, ở nhiều nơi xảy ra sạt lở, dẫn đến động đất và từ đó lòng đất bị thay đổi, biến dạng. Riêng ở Đức, có tới hàng nghìn km đường hầm trong lòng đất, nhiều đường hầm không được đánh dấu trên bản đồ. Kết quả là có những nơi mặt đất bị lún vài ba chục mét; có nơi còn lún sâu hơn.

4. Các mũi khoan

Có những mũi khoan chỉ đạt độ sâu khoảng mười cm để lắp đặt đường dây điện thoại nhưng cũng có những mũi khoan sâu tới 15m để làm đường ô tô. Người ta dùng sóng âm thanh để dò đường trong lòng đất. Mũi khoan sâu nhất vào trong lòng đất đạt 12km ở trên đảo Kola miền bắc nước Nga, so với bán kính Trái đất là 6.400 km thì độ sâu này chỉ như vết muỗi đốt đối với hành tinh của chúng ta.

Tuy nhiên số lượng các mũi khoan này thật đáng lo ngại, theo Williams và cộng sự: riêng ở nước Anh đã có tới hơn một triệu lỗ khoan vào lòng đất để khai thác dầu mỏ và khí đốt dưới mặt đất, từ đó chúng làm biến dạng diện mạo tự nhiên của mặt đất.

Theo Williams và cộng sự thì không có sinh vật nào có thể vào sâu trong lòng đất như con người. Một số động vật bé nhỏ có thể đục sâu vào lòng đất không quá 2,5m. Chồn cáo và chó sói có khả năng đào bới đạt độ sâu khoảng 4 m và cá sấu có thể chui sâu khoảng 12m vào lòng đất.

5. Kho chứa

Nhiều nước có những kho chứa khổng lồ trong lòng đất để chứa chất thải phóng xạ, rác thải hoá chất, khí đốt hoặc nước sạch. Các nhà khoa học cũng đang có kế hoạch đưa khí thải CO2 xuống lòng đất để chặn đứng tình trạng khí hậu nóng lên. Như trong lòng đất Biển Bắc ngoài khơi Na Uy hiện có một kho chứa CO2 nhân tạo lớn nhất thế giới của Tập đoàn dầu mỏ Statoil. Họ bơm khí CO2 hình thành qua quá trình khai thác khí đốt vào lớp sa thạch xốp ở độ sâu 1.000 m dưới đáy biển, phía trên được che phủ bởi một tấm đá phiến. Nhiều triệu tấn CO2 đã được xử lý trong lớp đá dày tới 200 m. Và đây mới là sự mở đầu.

6. Thử bom nguyên tử

Cho tới nay đã có trên 1.500 vụ thử bom nguyên tử trong lòng đất. Những cuộc thử trong lòng đất được coi là an toàn hơn vì một phần chất phóng xạ lưu lại đó. Tuy nhiên một lượng lớn bụi phóng xạ vẫn thoát ra không khí. Tác động của các vụ thử bom nguyên tử ở trong lòng đất như thế nào, vấn đề này hầu như chưa được nghiên cứu thấu đáo.

Cuộc tranh luận đổi tên kỷ nguyên Anthropocene của các nhà nghiên cứu địa chất

Xuất phát từ sáu bằng chứng kể trên, các nhà nghiên cứu đi đến kết luận: “Sự nhiễu loạn ngày càng lan rộng trong lòng đất ở độ sâu tới hơn 5km do con người gây ra có nghĩa là đã có một sự thay đổi diện mạo địa chất đáng kể.” Và trong lịch sử Trái đất chưa có trường hợp nào tương tự từng xảy ra.

Nhưng nhiều nhà địa chất đã phản đối kết luận này, bởi theo họ, cho đến nay còn thiếu những bằng chứng rõ rệt về sự quá độ chuyển sang một kỷ nguyên mới ở một số vùng rộng lớn như châu Mỹ, Trung Quốc hoặc khu vực Trung Cận Đông. Mặt khác, tác động của con người vào trong lòng đất kể từ thời kỳ đồ đá đã được đánh dấu là một kỷ nguyên địa chất Holocene. Vậy thì tại sao lại phải đặt ra một cái tên mới cho sự thay đổi diện mạo địa chất hiện nay?

Thay đổi tên gọi của kỷ nguyên hiện nay vẫn tiếp tục được các nhà địa chất học tranh luận. Tuy nhiên môi trường Trái đất thì vẫn tiếp tục bị hủy hoại không ngừng. Con người vẫn đang tiếp tục chạy theo lợi ích cá nhân và cố gắng cải thiện điều kiện sinh sống và tiếp tục các hành động hủy hoại môi trường.

Liệu có con đường khoa học nào khác để con người chung sống với thiên nhiên mà vẫn đảm bảo sự sinh sống đầy đủ, hạnh phúc hay không. Đại dịch viêm phổi Vũ Hán hiện đang xảy ra khắp thế giới chính là lời cảnh báo đến nhân loại rằng rất cần những hành động cụ thể của chúng ta để giảm bớt các nhu cầu cuồng vọng về vật chất và sinh sống hòa hợp với thiên nhiên nhiều hơn nữa.

Ánh Dương

Theo Smithsonian/Tiasang



BÀI CHỌN LỌC