Trái lại với thuyết ‘biến đổi khí hậu’: Khí Carbon đem lại lợi ích lớn cho thế giới?

Bình luận Thanh Vân • 15:18, 02/04/21

Giúp NTDVN sửa lỗi

Tuyên bố "97% các nhà khoa học đồng ý rằng một thảm họa khí hậu đang xảy ra do phát thải carbon” - nên được “chào đón” bằng sự hoài nghi. Bởi các dữ kiện khoa học dưới đây có thể sẽ thuyết phục chúng ta rằng việc bổ sung khí carbon là một lợi ích ròng.

Bài viết dựa trên nghiên cứu của “Liên minh khí Carbon” - gồm các nhà khoa học trong các lĩnh vực - tóm tắt quan điểm về lợi ích của khí carbon, về cách mà hành tinh của chúng ta sẽ bị ảnh hưởng bởi lượng khí carbon thải ra từ quá trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch.

Sự thật là khoa học chưa bao giờ được thiết lập bởi sự đồng thuận. Lịch sử cho thấy nhiều trường hợp “sự đồng thuận khoa học một thời điểm nào đó”, sau đó đã bị mất uy tín. Với sự đồng thuận nhầm lẫn, chúng ta cần tìm hiểu càng nhiều càng tốt về mức độ gia tăng khí carbon (CO2trong khí quyển sẽ ảnh hưởng đến hành tinh như thế nào.

Khí Carbon tốt hay xấu?

Cây xanh phát triển nhanh hơn khi có nhiều carbon . Nhiều cây cũng có khả năng chịu hạn tốt hơn vì mức khí carbon cao hơn - cho phép thực vật sử dụng nước hiệu quả hơn. Thực vật phong phú hơn do lượng khí carbon tăng lên. Các hình ảnh vệ tinh cho thấy sự xanh hóa đáng kể của hành tinh trong những thập kỷ gần đây, đặc biệt là ở rìa sa mạc, nơi khả năng chống hạn là rất quan trọng.

Mức carbon cao hơn sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn cho nông nghiệp. Chức năng sinh học của thực vật tái chế các polyme carbohydrate thành protein, dầu và các phân tử khác của sự sống. Cây chết lâu ngày sử dụng khí carbon từ bầu khí quyển để sản xuất hầu hết nhiên liệu hóa thạch, than đá, dầu mỏ và khí đốt tự nhiên... đã biến đổi cuộc sống của hầu hết con người.

Vật lý cơ bản ngụ ý rằng nhiều khí carbon trong khí quyển sẽ làm tăng hiện tượng nóng lên của nhà kính. Tuy nhiên, các quá trình trong khí quyển rất phức tạp. Những quan sát gần đây về khí quyển và đại dương, cùng với lịch sử địa chất, chỉ ra rằng sự ấm lên rất ít, khoảng 1 độ C (1,8 F) nếu mức carbon bất thường tăng gấp đôi.

Các quan sát cũng cho thấy không có thay đổi đáng kể nào về thời tiết khắc nghiệt, lốc xoáy, bão, lũ lụt hoặc hạn hán. Mực nước biển đang tăng với tốc độ tương tự như trong nhiều thế kỷ qua. Ấm lên một vài độ sẽ có nhiều lợi ích, mùa trồng trọt kéo dài hơn và chi phí sưởi ấm mùa đông ít hơn. Và điều này sẽ mang lại lợi ích lớn cho nông nghiệp.

Thêm khí carbon trong khí quyển không phải là một thí nghiệm chưa từng có với kết quả không thể đoán trước. Trái đất đã “thực hiện” thí nghiệm này nhiều lần trong quá khứ địa chất. Sự sống phát triển phong phú trên đất liền và trong đại dương ở mức carbon lớn hơn nhiều so với ngày nay. 

Nghiên cứu

Vào khoảng năm 1861, John Tyndall, một nhà vật lý nổi tiếng người Ireland, đã phát hiện ra rằng hơi nước, khí carbon và nhiều khí phân tử khác - có thể hấp thụ bức xạ nhiệt không nhìn thấy được - được tạo ra từ một ấm trà, cơ thể con người hoặc chính Trái đất. 

Phát hiện của Tyndall được đưa ra khi quá trình đốt than trong Cách mạng Công nghiệp đang bắt đầu giải phóng một lượng đáng kể khí carbon. Những phát thải này xảy ra đồng thời với sự gia tăng ổn định của khí carbon trong khí quyển.

Nhiều khí carbon hơn sẽ có tác dụng to lớn đối với nông nghiệp, rừng và sự phát triển của thực vật nói chung. Lợi ích của nhiều khí carbon sẽ vượt quá bất kỳ tác hại nào.

Tổng Thống Trump trước đây đã mô tả sự nóng lên toàn cầu là một trò lừa bịp và tuyên bố rằng khí hậu "lên xuống". Ông cũng nói rằng nhiệt độ khí quyển tăng sẽ tự "thay đổi trở lại".
Tổng Thống Trump trước đây đã mô tả sự nóng lên toàn cầu là một trò lừa bịp và tuyên bố rằng khí hậu "lên xuống". Ông cũng nói rằng nhiệt độ khí quyển tăng sẽ tự "thay đổi trở lại". (Tổng hợp)

Phát hiện chính

Trong vòng 120 năm qua các dự báo về sự ấm lên chính thống đã saiTrong hai thập kỷ qua, hiện tượng nóng lên toàn cầu được dự đoán bởi các mô hình khí hậu hầu như không thành hiện thực. 

Dữ liệu quan sát cho thấy rằng việc tăng gấp đôi mức lượng carbon trong khí quyển sẽ làm tăng nhiệt độ bề mặt chỉ khoảng 1 độ C. Sự nóng lên ​​do tiếp tục sử dụng nhiên liệu hóa thạch sẽ ở mức vừa phải và lành tính trong tương lai gần.

Tác động tiêu cực của khí carbon đã bị phóng đại. Dữ liệu sẵn có từ các nguồn chính phủ và phi chính phủ đáng tin cậy xác nhận rằng: Các hiện tượng thời tiết cực đoan trong những năm gần đây không xảy ra thường xuyên hơn hoặc với cường độ lớn hơn. Điều này bác bỏ những tuyên bố về việc axit hóa đại dương gây tổn hại đến sinh thái, làm tăng nhanh mực nước biển, làm biến mất băng biển toàn cầu và những nguy cơ bị cáo buộc khác.

Mức độ carbon cao hơn sẽ có lợi. Khí carbon là một chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng trên cạn. Sinh quyển của Trái đất cũng đã trải qua “nạn đói carbon“ tương đối trong nhiều thiên niên kỷ. Do đó, sự gia tăng lượng khí carbon gần đây có ảnh hưởng tích cực, có thể đo lường được đối với đời sống thực vật.

Ấm lên Toàn cầu? Những thực tế cố tình bị lãng quên

Hầu hết các nghiên cứu dự báo khí hậu trong tương lai đều tập trung vào việc phát triển và áp dụng các mô hình máy tính phức tạp - nhằm mô phỏng hệ thống khí hậu của Trái đất. Các mô hình này đã tìm cách giải thích khí hậu trong quá khứ và được sử dụng để tính toán các kịch bản khí hậu toàn cầu và khu vực trong tương lai.

Điều này thúc đẩy các đề xuất chính sách nhằm giảm lượng khí thải - hạn chế sự nóng lên toàn cầu trong tương lai, mặc dù cái giá phải trả là giảm sự phát triển kinh tế toàn cầu.

Dự báo bằng mô hình máy tính đã rất tốn kém, với hàng chục tỷ đô la được đầu tư nhưng không dự đoán được chính xác khí hậu Trái đất: Ước tính của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc (IPCC) về thông số tới hạn, độ nhạy khí hậu cân bằng - đã không chính xác hơn trong 25 năm qua.

Dữ liệu khí hậu cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa dự đoán của máy tính và hồ sơ khí hậu thực tế của Trái đất. Sự thay đổi nhiệt độ toàn cầu trung bình trong giai đoạn 1995–2015, do dữ liệu vệ tinh của NASA cung cấp: Mặc dù mức khí carbon trong khí quyển tăng 13% trong thời gian này, không có xu hướng ấm lên về mặt thống kê. Do đó, hồ sơ khí hậu trái ngược với các dự báo của Báo cáo Đánh giá Thứ ba (2001) và Thứ tư (2007) của IPCC.

Trong khoảng thời gian 20 năm này, khí quyển Trái đất chỉ ấm lên 0,05 độ C; nhưng các mô hình máy tính dự đoán nhiệt độ toàn cầu sẽ tăng thêm 0,4 độ C.

Bởi vì bề mặt nhiệt đới và tầng đối lưu của Trái đất, lớp thấp nhất của khí quyển, nhận một phần chính năng lượng mặt trời đến của hành tinh. Không khí ấm và ẩm tăng lên từ các đại dương và các khu rừng mưa bao phủ phần lớn các vùng nhiệt đới - sẽ dẫn đến sự ấm lên đặc biệt lớn của tầng đối lưu giữa.

Những thay đổi nhiệt độ thực tế khác biệt đáng kể so với những thay đổi được dự đoán bởi các mô hình: Mô hình máy tính trung bình dự báo sự nóng lên hoàn toàn 1 độ C trong giai đoạn 1979–2013; trong thực tế, chỉ 0,2 độ C (nhiều nhất) đã được quan sát thấy.

Thay đổi trung bình về nhiệt độ khí quyển nhiệt đới, Dự báo với Thực tế, 1979–2013. (Màu xanh đậm: lượng carbon được đo bằng vệ tinh; màu đen đậm: lượng carbon được do bằng khinh khí cầu)

Ngoài ra, nồng độ carbon đo được tại Mauna Loa của Hawaii cho thấy sự gia tăng của khí carbon có dao động theo mùa, phần lớn là do việc loại bỏ khí carbon khỏi không khí ở Bắc bán cầu - bằng cách trồng cây trên đất liền trong mùa hè; và giải phóng khí carbon trong mùa đông - khi mà quá trình hấp thụ khí carbon của sinh quyển vượt quá sự loại bỏ nó qua quang hợp.

Lượng carbon dao động hàng năm - thay đổi theo mùa trong sinh quyển. Tốc độ tăng trưởng hàng năm (đường đen) trung bình khoảng 2 ppm (Nguồn: Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia).
Lượng carbon dao động hàng năm - thay đổi theo mùa trong sinh quyển. Tốc độ tăng trưởng hàng năm (đường đen) trung bình khoảng 2 ppm (Nguồn: Cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia).

Sự thất bại của các mô hình máy tính trong việc dự đoán nhiệt độ trong tương lai - đã phóng đại rất nhiều sự nóng lên toàn cầu do con người (nhân tạo) trong quá khứ và tương lai. Sự ấm lên của bề mặt cùng với việc tăng gấp đôi lượng khí carbon trong khí quyển là gần 1 độ C - so với 3 độ C theo các mô hình khí hậu chính thống.

Bằng chứng hiện có cũng cho thấy rằng - bất chấp hai giai đoạn ấm lên của thế kỷ 20, cũng như sự gia tăng ổn định của khí carbon trong khí quyển - tần suất của các hiện tượng thời tiết cực đoan vẫn không tăng. Và mực nước biển dâng còn khiêm tốn… những dữ kiện như vậy không hỗ trợ cho các dự đoán phổ biến về thảm họa hành tinh sắp xảy ra do mức khí carbon tăng.

Lợi ích của khí Carbon

Trái đất đã trải qua “nạn đói” khí carbon hàng triệu năm, điều này cũng không được nhiều người biết đến. Trong 550 triệu năm kể từ kỷ Cambri - khi các hóa thạch phong phú lần đầu tiên xuất hiện trong hồ sơ trầm tích - mức khí carbon đã đạt trung bình nhiều nghìn ppm, tức là lớn hơn nhiều so với mức khí carbon là 400 ppm ngày nay.

Các ước tính về mức khí carbon trong thời đại Phanerozoic của Trái đất có nguồn gốc từ các ghi chép hóa thạch trong đá trầm tích. Mức carbon trong Phanerozoic điển hình là khoảng 1.500 ppm, cao hơn đáng kể so với mức 400 ppm ngày nay. (Nguồn: Berner và Kothavala)
Các ước tính về mức khí carbon trong thời đại Phanerozoic của Trái đất có nguồn gốc từ các ghi chép hóa thạch trong đá trầm tích. Mức carbon trong Phanerozoic điển hình là khoảng 1.500 ppm, cao hơn đáng kể so với mức 400 ppm ngày nay. (Nguồn: Berner và Kothavala)

Cây trồng trên đất nhận được lượng cacbon chúng cần trong không khí và chúng thu được các chất dinh dưỡng thiết yếu khác từ đất. Giống như thực vật phát triển tốt hơn trong đất được bón phân, tưới nước tốt, chúng phát triển tốt hơn với nồng độ carbon cao hơn nhiều lần so với mức hiện tại của Trái đất. Vì lý do này, khí carbon thường được bơm vào nhà kính để tăng cường sự phát triển của cây trồng.

Bởi vì tốc độ tăng trưởng của thực vật trung bình tỷ lệ với căn bậc hai của nồng độ carbon, tăng gấp đôi lượng carbon trong khí quyển sẽ làm tăng 40% tốc độ tăng trưởng của cây xanh - một lợi ích cho năng suất cây trồng và cho an ninh lương thực toàn cầu.

Không kém phần quan trọng, khí carbon góp phần làm cho thực vật chịu hạn tốt hơn. Hầu hết các cây trồng trên cạn cần ít nhất 100 gam nước để tạo ra một gam của cacbon.

Lượng khí carbon trong khí quyển tăng 30% trong thế kỷ 20 đã làm tăng năng suất cây trồng lên khoảng 15%. Những cải tiến liên tục về giống cây trồng, phân bón và quản lý nước, cùng với mức carbon cao hơn - sẽ củng cố an ninh lương thực ở nhiều khu vực châu Phi và châu Á, nơi nạn đói vẫn còn phổ biến.

Trái đất ngày càng xanh hơn, theo phân tích sự phát triển của thực vật ở rìa sa mạc và các khu vực bán khô hạn khác - phát hiện ra sự tăng trưởng thực 11% ở lớp phủ trên mặt đất trong giai đoạn 1982–2006 - là nhờ khí carbon trong khí quyển mang lại.

Phần trăm thay đổi trong độ che phủ của tán lá được tiết lộ bởi vệ tinh (Nguồn: Donohue et al).
Phần trăm thay đổi trong độ che phủ của tán lá qua thông tin vệ tinh (Nguồn: Donohue et al).

Thế giới đang phát triển

Các quốc gia đang phát triển ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh sẽ cần nguồn năng lượng chi phí thấp để thúc đẩy sự phát triển kinh tế và đưa công dân của họ thoát khỏi đói nghèo. Nhiên liệu hóa thạch - đặc biệt là than đá, khí đốt tự nhiên và dầu mỏ - hiện đang cung cấp hơn 80% năng lượng của thế giới, sẽ vẫn không thể thiếu.

Khi các quốc gia ngày càng giàu có hơn, họ cũng sẽ có được những phương tiện tốt hơn để giảm thiểu ô nhiễm. Hơn nữa, bằng chứng cho thấy khí carbon không chỉ vô hại, mà còn thực sự có lợi cho thực vật và con người.

Các chính sách kỳ lạ nhằm hạn chế sự nóng lên toàn cầu, bằng cách làm cho nhiên liệu hóa thạch trở nên đắt đỏ một cách nghiêm trọng, sẽ khiến phần lớn nhân loại phải chịu những điều kiện tồi tệ không thể tưởng tượng được ở các quốc gia phát triển.

Thanh Vân

Bài viết dựa theo nghiên cứu của các thành viên của Liên minh khí carbon, bao gồm:

Larry Bell: Khởi động chương trình nghiên cứu và giáo dục về kiến ​​trúc không gian tại Đại học Houston; tác giả của "Khí hậu Tham nhũng: Chính trị và Quyền lực Đằng sau Trò lừa Ấm lên Toàn cầu".

Roger Cohen: Tiến sĩ vật lý tại Đại học Rutgers; Thành viên của Hiệp hội Vật lý Hoa Kỳ; cựu Nhà khoa học cấp cao, ExxonMobil.

Bruce Everett: Trường Fletcher của Đại học Tufts; có hơn 40 kinh nghiệm trong ngành năng lượng quốc tế.

William Happer: Giáo sư Vật lý (danh dự) Đại học Princeton; nguyên Giám đốc Văn phòng Nghiên cứu Năng lượng; Giám đốc Nghiên cứu, Bộ Năng lượng Hoa Kỳ; Thành viên, Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia.

Kathleen Hartnett-White: Nghiên cứu sinh cấp cao xuất sắc về Cư trú, và là Giám đốc Trung tâm Armstrong về Năng lượng và Môi trường (CEE) tại Quỹ Chính sách Công Texas.

Craig Idso: Người sáng lập và Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Carbon Dioxide và Thay đổi Toàn cầu; Thành viên của Hiệp hội vì sự tiến bộ của Khoa học Hoa Kỳ, Liên minh Địa vật lý Hoa Kỳ và Hiệp hội Khí tượng Hoa Kỳ.

Richard Lindzen: Giáo sư Khí tượng học; Thành viên, Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia; tác giả của nhiều bài báo về khí hậu và khí tượng.

Pat Michaels: Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Khoa học tại Viện Cato; cưu chủ tịch Hiệp hội các nhà khí hậu tiểu bang Hoa Kỳ; cựu nhà khí hậu học bang Virginia; chủ trì chương trình, Ủy ban Khí hậu Ứng dụng của Hiệp hội Khí tượng Hoa Kỳ.

Mark Mills: Nghiên cứu viên cao cấp Viện Manhattan; Giám đốc điều hành Digital Power Group, một nhóm tư vấn vốn tập trung vào công nghệ; Thành viên Trường Kỹ thuật và Khoa học Ứng dụng McCormick, Đại học Northwestern.

Patrick Moore: Đồng sáng lập, Chủ tịch và Nhà khoa học trưởng, Greenspirit Strategies, một công ty tư vấn có trụ sở tại Vancouver về các vấn đề môi trường và bền vững; thành viên sáng lập của Greenpeace (chín năm là chủ tịch của Greenpeace Canada và bảy năm là giám đốc của Greenpeace International).

Rodney Michols: Nguyên Chủ tịch kiêm Giám đốc Điều hành của Học viện Khoa học New York; Scholar-in-Residence tại Carnegie Corporation of New York; Phó Giám đốc Điều hành Đại học Rockefeller; Giám đốc R&D, Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng.

William O'Keefe: Giám đốc điều hành của Viện George C. Marshall; Phó Chủ tịch Điều hành kiêm Giám đốc Điều hành Viện Dầu khí Hoa Kỳ; Giám đốc Hành chính của Trung tâm Phân tích Hải quân.

Norman Rogers: Người sáng lập Công ty Rabbit Semiconductor; Cố vấn Chính sách cho Viện Heartland; thành viên của Liên minh Địa vật lý Hoa Kỳ và Hiệp hội Khí tượng Hoa Kỳ.

Harrison Schmitt: Tiến sĩ Địa chất tại Đại học Harvard; Phi hành gia và là người đi bộ trên mặt trăng (Apollo 17); Trợ lý Giáo sư Vật lý tại Đại học Wisconsin-Madison; cựu Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ từ New Mexico.

Roy Spencer: Nhà khí hậu học, Nhà khoa học nghiên cứu chính tại Đại học Alabama ở Huntsville; từng là Nhà khoa học cấp cao về Nghiên cứu Khí hậu tại Trung tâm Chuyến bay Không gian Marshall của NASA; Đồng phát triển hệ thống đo nhiệt độ vệ tinh.

Leighton Steward: Nhà địa chất học; Nhà môi trường học; Tác giả, Chủ tịch Tổ chức Thực vật Cần CO2.org; Chủ tịch Hội đồng của Viện Nghiên cứu Trái đất và Con người tại SMU; trước đây là Chủ tịch Liên minh Đất ngập nước Quốc gia; hai lần Chủ tịch Viện Tự nhiên Audubon.

Lorraine Yapps-Cohen:  cựu Giám đốc Truyền thông & Tiếp thị ExxonMobil; làm chuyên mục cho các tờ báo Examiner.

Tài liệu tham khảo

1. J. Tyndall, Heat, A Mode of Motion, Longmans, Green and Company, London, 1875.

2. RSJ Tol, Tác động kinh tế của biến đổi khí hậu, Tạp chí Quan điểm Kinh tế, Vol. 23, số 2, trang 29-51 (2009). Những nghiên cứu như vậy không giải thích đầy đủ về tác động tích cực của việc bón phân CO 2 và hiệu quả sử dụng nước.

3. R. McKitrick, Đo lường mạnh mẽ HAC về thời lượng của một mẫu con không có xu hướng trong chuỗi thời gian khí hậu toàn cầu, Tạp chí thống kê mở, Vol. 4, trang 527-535 (2014). doi: 10.4236 / ojs.2014.47050.

4. Báo cáo Đánh giá lần thứ 4 của IPCC WG1 (2007), S ummary for Policy Hosts, p. 12. https://www.ipcc.ch/pdf/ Assess-report / ar4 / wg1 / ar4- wg1-spm.pdf

5.  Từ các xu hướng thống kê của tập dữ liệu UAH được thể hiện trong Hình 2, cho giai đoạn 1995–2014. 6. Báo cáo Đánh giá lần thứ 4 của IPCC WG1 (2007), Tóm tắt dành cho các nhà hoạch định chính sách, tr. 12, sđd; Báo cáo đánh giá lần thứ 3 WG1 (2001), Tóm tắt dành cho các nhà hoạch định chính sách, tr. 34;  https://www.ipcc.ch/ ipccreports / tar / wg1 /

7. JC Fyfe và cộng sự, Sự ấm lên toàn cầu được đánh giá quá cao trong 20 năm qua, Biến đổi khí hậu tự nhiên, Vol. 3, tr. 767 (2013); P. Stott và cộng sự, Dự báo nhiệt độ phần trên của mô hình khí hậu không phù hợp với môi trường, ấm lên trong quá khứ . Res. Lett. Tập 8, 014024 doi: 10.1088 / 1748-9326 / 8/1/014024.

8. Indur Goklany, Is a Richer-but-Warmer World Better than Poorer but Colder Worlds? Energy & Environment, Vol. 18, Số 7-8, trang 1023-1048 (2007). 

9. JT James và A. Macatangay, Carbon Dioxide, “Kẻ thù” chung của chúng ta http://ntrs.nasa.gov/archive/ nasa / casi.ntrs . nasa.gov/20090029352.pdf

10. HW Chapman, LS Gleason và WE Loomis, Hàm lượng Carbon Dioxide của không khí hiện trường, Sinh lý thực vật, 29, 500 (1954).



BÀI CHỌN LỌC

Trái lại với thuyết ‘biến đổi khí hậu’: Khí Carbon đem lại lợi ích lớn cho thế giới?