Nước Mỹ, một quốc gia dưới Chúa

Giúp NTDVN sửa lỗi

Khi Hoa Kỳ kỷ niệm 245 năm thành lập nước cộng hòa vĩ đại này, điều quan trọng nhất cần phải nhớ là: “Tại sao ngày 4/7 được gọi là Ngày Độc lập?” Các tài liệu trong những bài viết của những Tổ phụ lập quốc đều liên quan đến “một quyền lực cao hơn” - thể hiện rằng nước Mỹ chính là: Một quốc gia dưới Chúa

Vào ngày 2/7/1776, Quốc hội lục địa đã bỏ phiếu ủng hộ nền độc lập từ Vua George, quốc vương của Vương quốc Anh. Hai ngày sau, các đại biểu từ 13 thuộc địa đã thông qua Tuyên ngôn Độc lập, một văn kiện lịch sử do Thomas Jefferson soạn thảo để đi đến một quyết định táo bạo và đầy thử thách, nhưng cũng tuyệt vời cho những người dân thuộc địa: Khẳng định quyền tự do của họ trước Đế quốc Anh - Quốc gia hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ. 

Ngay từ khi mới thành lập, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã được cổ vũ cho những lý tưởng cao đẹp của mình, trong đó có lý tưởng về “Tự do tôn giáo”. Bản Tuyên ngôn hùng hồn với những nguyên tắc được tin tưởng vững chắc.

Các tài liệu được tìm thấy trong những bài viết của những người sáng lập đều liên quan đến “một quyền lực cao hơn”. Đoạn văn nổi tiếng nhất trong bản Tuyên ngôn Độc lập này thể hiện rất rõ ràng, chính Đức tin đã mang lại cho con người sự can đảm: “Chúng tôi khẳng định một chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa đã ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả xâm phạm, trong đó có quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc”.

Những lý tưởng này đã trở thành khát vọng nhằm xây dựng một đất nước vĩ đại dựa trên những nền tảng cơ bản đó. Tổng thống Jefferson, người căm ghét chế độ chuyên chế đang áp đặt lên các nước thuộc địa, đã viết về nhiệm vụ đáng buồn nhưng cần thiết phải nổi dậy: “Ở Đế quốc Anh, không một người đàn ông nào muốn phục vụ Vương quốc Anh chân thành hơn tôi. Nhưng, Chúa đã tạo ra tôi, tôi sẽ không tồn tại nếu nhượng bộ theo những điều khoản mà Nghị Viện đề xuất. Điều này buộc tôi phải nói lên tình cảm của nước Mỹ”.

Núi Tổng thống, phía Nam bang Dakota - Khu Tưởng niệm Quốc gia được lập ra để tưởng niệm 4 vị tổng thống kiệt xuất của Hoa Kỳ đó là George Washington, Thomas Jefferson, Theodore Roosevelt và Abraham Lincoln (Ảnh: Pixabay)
Núi Tổng thống, phía Nam bang Dakota - Khu Tưởng niệm Quốc gia được lập ra để tưởng niệm 4 vị tổng thống kiệt xuất của Hoa Kỳ đó là George Washington, Thomas Jefferson, Theodore Roosevelt và Abraham Lincoln (Ảnh: Pixabay)

Trong một bài viết vào tháng 7/1776, đề cập đến động thái quan trọng của chế độ thực dân. Ngài John Adams - người trở thành Tổng thống thứ 2 của Hoa Kỳ đã nói: “Đây phải được xem là ngày kỷ niệm giải cứu nhân loại bằng những hành động trang trọng nhất, thể hiện lòng sùng kính đối với Chúa toàn năng”.

Các tôn giáo khác nhau đã ảnh hưởng đến tiến trình lịch sử hàng nghìn năm. Niềm tin vào một cái gì đó bên ngoài sự tồn tại của con người là một phần cần thiết để xây dựng nền văn minh từ một cảnh quan nguyên thủy. 

Tương tự như vậy, chính niềm tin vào Chúa thấm nhuần trong trái tim và tâm hồn của những người định cư đầu tiên, đã mang lại cho họ mục đích sống, và giúp họ vượt qua những thử thách khắc nghiệt mà họ phải đối mặt. 

Sức mạnh của lời cầu nguyện lớn hơn một lời nói sáo rỗng; đó là sự giao thoa tinh thần với Đấng tạo hoá và mang lại hy vọng khi các giải pháp trần gian dường như không thể thực hiện được.

Khi đất nước của chúng ta phát triển theo lý tưởng của bản Tuyên ngôn, thì nền tảng của các nguyên tắc tôn giáo cũng lớn lên theo đó.

Năm 1954, trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, người Mỹ muốn phân biệt Hoa Kỳ với chủ nghĩa “vô thần” mà các nước theo chủ nghĩa Marx cổ xúy. Cho nên, vào Ngày Quốc kỳ năm đó, Quốc hội đã thêm các từ "dưới quyền của Chúa" vào “Lời cam kết trung thành”, sau "một quốc gia".

Bảy năm sau, một trong những bài diễn văn nhậm chức vĩ đại nhất của thế kỷ 20, Tổng thống John Kennedy nói: "Chúng ta quan sát ngày hôm nay, không phải là một chiến thắng của đảng phái, mà là một lễ kỷ niệm tự do… hoặc tôi đã tuyên thệ trước các bạn và Thiên Chúa toàn năng với một lời thề long trọng mà tổ tiên của chúng ta đã quy định cách đây gần ba phần tư thế kỷ. Những niềm tin mà họ đã chiến đấu để dành lại vẫn là vấn đề trên toàn cầu, niềm tin rằng các quyền của con người không đến từ sự hào phóng của nhà nước, mà đến từ bàn tay của Chúa”.

Tổng thống Ronald Reagan nói: "Không có Chúa, xã hội sẽ trở nên thô cứng. Và không có Chúa, nền dân chủ sẽ không thể tồn tại và không thể tồn tại lâu dài. Nếu chúng ta quên rằng chúng ta là một quốc gia dưới quyền của Chúa, chúng ta sẽ là một quốc gia bị biến mất”.

Khi bạn đang sum họp cùng gia đình mình, bạn bè mình để tưởng thưởng những điều tuyệt vời khi được sống trong quốc gia tự do nhất này, đừng quên cảm ơn những người đã mạo hiểm mọi thứ, kể cả mạng sống của họ, để cung cấp cho chúng ta một cuộc sống sung túc như ngày hôm nay, điều mà chúng ta thường coi là đương nhiên. 

Những gì mà chúng ta đang thừa hưởng với tư cách là thế hệ sau, đã được tạo ra bởi những con người cứng rắn nhất, dũng cảm nhất, và có tầm nhìn xa nhất trong lịch sử. 

Tuy nhiên, Nhà lập quốc Benjamin Franklin - một trong những Người sáng lập quan trọng và có ảnh hưởng nhất của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, đã nói khi được hỏi rằng, kiểu chính phủ nào sẽ được thành lập: "Một nền cộng hòa, nếu bạn có thể duy trì nó”. Có lẽ, nếu chúng ta giữ vững các giá trị di sản tôn giáo của mình, lời khuyên của Ngài Franklin sẽ giúp chúng ta không đánh mất những gì mà tổ tiên đã dành lại cho chúng ta.

Đông Mai

Theo American Thinker



BÀI CHỌN LỌC

Nước Mỹ, một quốc gia dưới Chúa