7 cuộc chiến tranh khiến kẻ xâm lược thiệt hại nặng nề nhất dẫn đến thất bại trong lịch sử

Bình luận Hoàng Tuấn • 20:55, 15/12/20

Tất cả chúng ta ai cũng đều có những lúc phạm sai lầm trong cuộc sống, nhưng có những người mà ở vị trí của họ, chỉ một sai lầm nhỏ đã phải trả một cái giá cực đắt khi đẩy hàng trăm, hàng nghìn thậm chí là hàng triệu sinh mạng vào chỗ chết. Thực tế thì, chiến tranh tất yếu sẽ dẫn đến nhiều mất mát. Mỗi khi bắt đầu một cuộc chiến luôn đòi hỏi sẵn sàng về sức mạnh con người cũng như công nghệ. Vì vậy, khi tất cả những gì đã chuẩn bị cho cuộc chiến bị mất đi, điều đó có nghĩa sẽ rất khó để làm lại một lần mới.

Không có thời gian để cho những người trong danh sách này sửa chữa sai lầm của mình, vì quyết định xâm lược một vùng đất ở nước ngoài khi thất bại cũng đồng nghĩa với việc có thể vong mạng hoặc bị truy đuổi. Cho dù đó là thời kỳ bình minh của Đế chế La Mã trong thời đại trước Công nguyên hay thời kỳ đỉnh cao của Chiến tranh Lạnh, các quốc gia hùng mạnh đã nhiều lần thử cố gắng và thất bại trong việc chinh phục cũng như mở rộng lãnh thổ.

Có nhiều lý do khác nhau dẫn đến cuộc xâm lược bị thất bại: nguyên nhân có thể đến từ sự chủ quan, đánh giá quá thấp lực lượng của đối phương, chiến thuật sai lầm, chỉ huy kém cỏi, địa hình không lợi thế, thời tiết, hoặc kết hợp những yếu tố trên và hơn thế nữa. Tất cả những gì mà bài viết này đang nói tới, sợi dây duy nhất gắn kết những trận chiến này lại với nhau là những kẻ xâm lược ập đến như một cơn sóng nhưng đều nhận lại kết cục không mấy tốt đẹp. Đây là danh sách 7 cuộc xâm lược đã phạm phải sai lầm khủng khiếp dẫn đến thất bại.

1. Trận Myoongnyang năm 1597

Trận Myeongnyang, còn được gọi là “Trận chiến kỳ diệu Myeongnyang”. (Wikipedia)
Trận Myeongnyang, còn được gọi là “Trận chiến kỳ diệu Myeongnyang”. (Wikipedia)

Còn gì khó tin hơn chiến thắng trong một trận hải chiến khi đối phương nắm trong tay lợi thế 11 ăn 1? Đây là trận Myeongnyang, còn được gọi là “Trận chiến kỳ diệu Myeongnyang”, theo Bộ sưu tập Lịch sử của Hàn Quốc.

Năm 1592, Nhật Bản xâm lược Hàn Quốc. Trong 5 năm tiếp theo, Nhật Bản đã không đạt được bất kỳ tiến bộ đáng kể nào trong kế hoạch xâm chiếm của họ. Nguyên nhân phần lớn là do sự xuất sắc của Đô đốc Yi Sun-shin, theo Britannica.

Tuy nhiên, vì tính cách của mình, ông đã tạo ra nhiều kẻ thù bên trong triều đình Joseon, Sun-shin bị bắt vì tội phản quốc, bị tra tấn và giáng chức xuống trở thành một người lính bình thường. Một trong những viên tướng cạnh tranh ngôi vị số 1 của Sun-shin, Đô đốc Won Gyun là người thế chỗ và trực tiếp chỉ huy hạm đội của Sun-shin. Trước đó dưới thời Sun-shin, hạm đội này đã nhanh chóng phát triển hùng mạnh và tăng gấp đôi về kích thước.

Một năm sau, Đô đốc Gyun chết, lúc này Hàn Quốc chỉ còn lại 12 tàu so với 330 tàu của Nhật Bản, trong tình thế tuyệt vọng và không còn bất kỳ phương án thay thế nào tốt hơn, Sun-shin đã được đưa trở lại quyền chỉ huy. Với một chiến thuật khôn khéo, Đô đốc Sun-shin đã lôi kéo quân Nhật đến eo biển Myeongnyang chật hẹp. Tại đây, lợi thế về quân số của Nhật Bản trở thành bất lợi, vì tàu gặp khó khăn trong việc điều động và di chuyển. Đầu trận chiến, thi thể của một vị tướng Nhật Bản được Sun-shin tìm thấy và ông đã trưng bày như một chiến lợi phẩm nhằm nâng cao tinh thần cho binh lính. Dòng chảy của nước trong lòng sông đã ngăn cản quân Nhật rút lui và lực lượng của Sun-shin đã biết cách tận dụng triệt để. Ông đã chiến thắng mà không mất thêm con tàu nào, trong khi quân Nhật mất 31 chiếc và 90 trong số còn lại bị hư hại. Đến năm 1598, Hàn Quốc đã đánh đuổi hoàn toàn quân xâm lược Nhật Bản.

2. Trận Cannae năm 216 trước Công nguyên

Lịch sử gọi Trận Cannae là “Ngày đen tối nhất của thành Rome”, vì quân đội La Mã trong trận chiến này đã gần như bị xóa sổ vì chiến thuật thiên tài của một vị tướng Châu Phi.
Lịch sử gọi Trận Cannae là “Ngày đen tối nhất của thành Rome”, vì quân đội La Mã trong trận chiến này đã gần như bị xóa sổ vì chiến thuật thiên tài của một vị tướng Châu Phi. (Wikipedia)

Đế chế La Mã trong quá khứ đã có một ảnh hưởng to lớn đến thế giới. Tuy nhiên Rome gần như chưa từng trở thành một thế lực bành trướng mặc dù vị thế của nó đủ sức để làm như vậy. Lịch sử gọi Trận Cannae là “Ngày đen tối nhất của thành Rome”, vì quân đội La Mã trong trận chiến này đã gần như bị xóa sổ vì chiến thuật thiên tài của một vị tướng Châu Phi, người đã thề với người cha rằng sẽ tiêu diệt Đế chế này.

Theo Biography, Hannibal Barca sinh năm 247 trước Công nguyên tại Hamilcar Barca, ông là một vị tướng của quốc gia Carthage (Tunisia ngày nay). Sau khi người Carthage bại trận trước Rome trong cuộc chiến đầu tiên giữa hai quốc gia (tổng cộng có 3 trận chiến lớn), nỗi hận thù đã khiến cha của Barca bắt con trai mình phải tuyên thệ hủy diệt thành Rome trong tương lai.

Năm 218 trước Công nguyên, cuộc chiến tranh thứ hai giữa Rome và Carthage nổ ra. Hannibal Barca đã tiến vào Ý bằng cách vượt qua dãy núi Alps. Trong hai năm sau đó, ông đã tiêu diệt nhiều quân đoàn La Mã đồng thời chiếm được một diện tích lãnh thổ rộng lớn, và thu phục không ít các binh lính có tư tưởng chống lại đế chế La Mã. Lãnh sự của Rome, Quintus Fabius Maximus, đã quyết định tránh một cuộc đụng độ trực tiếp với tướng Barca, thay vào đó, ông muốn dùng chiến thuật di chuyển khéo léo và đánh các trận nhỏ nhằm tiêu hao quân lực đối phương.

Theo Ancient, người La Mã ghét chiến thuật này và đã bầu các quan chấp chính Lucius Aemilius Paulus và Caius Terentius Varro lên thay thế. Họ muốn hai người này dẫn quân với số lượng đông gấp đôi để đánh chiếm Cannae và tiêu diệt hoàn toàn tướng Barca. Tờ Britannica cho biết Rome đã mang theo 8 vạn quân (80.000) để đối đầu với 5 vạn quân (50.000) của Barca. Quân đoàn La Mã giao tranh với quân chủ lực của tướng Barca, cố gắng áp đảo họ. Tuy vậy, quân chủ lực và kỵ binh dưới sự chỉ huy của tướng Barca được tổ chức tốt, đã bao vây và đánh bại đoàn quân La Mã khiến Rome chỉ còn 14.000 người sống sót trở về.

3. Trận Ilipa năm 206 trước Công nguyên

Khi quân đội Carthage tấn công vào trung tâm đội hình của người La Mã, họ phát hiện nhóm quân chủ lực của Rome đang nằm ở hai cánh.
Khi quân đội Carthage tấn công vào trung tâm đội hình của người La Mã, họ phát hiện nhóm quân chủ lực của Rome đang nằm ở hai cánh. (Wikipedia)

Nếu Trận Cannae đánh dấu sự kiện Đế chế La Mã gần như bị tiêu diệt hoàn toàn, thì Trận Ilipa lại đánh dấu cho sự khởi đầu của thời kỳ La Mã trở thành siêu cường duy nhất trên thế giới tại khu vực Địa Trung Hải.

Năm 206 trước Công nguyên, quân đoàn Carthage (không phải do tướng Barca chỉ huy) đã cố gắng đánh bại quân đội của La Mã, do tướng Cornelius Scipio chỉ huy. Người Carthage với số lượng binh lính dẫn theo đông hơn đã đụng độ người La Mã tại Ilipa. Theo tờ Erenow, trong vài ngày, quân đội hai bên đã giáp mặt nhau nhưng không có giao tranh lớn ngoài các xung đột nhỏ, vì mỗi bên đều không muốn trở thành người gây chiến.

Sau vài ngày giằng co, tướng Scipio của La Mã quyết định sử dụng chiến thuật mà tướng Barca đã sử dụng nhiều năm trước. Ông đảm bảo rằng quân đội của mình đã được cho ăn uống no nê trước khi trời sáng và cử kỵ binh của mình tấn công vào lúc bình minh, buộc người Carthage phải ra chiến trường mà chưa kịp ăn. Sau đó, ông chờ đợi, để cho cơn đói và sự mệt mỏi ập đến với người Carthage. Khi quân đội Carthage tấn công vào trung tâm đội hình của người La Mã, họ phát hiện nhóm quân chủ lực của Rome đang nằm ở hai cánh. Khi lực lượng trung tâm không thể bị phá vỡ, người La Mã với quân số ít hơn đã bao vây quân của Carthage. Cuộc chiến ác liệt diễn ra với chiến thắng cuối cùng thuộc về người La Mã. Tổng cộng, số thương vong của Rome chỉ 7.000 so với 44.000 của người Carthage. Trận chiến cũng đã tạo tiền đề cho Đế chế La Mã xâm lược và thôn tính thành công Carthage, theo The Art of Battle.

4. Trận Tsushima năm 1905

Embed from Getty Images
Hãy tưởng tượng đi một hành trình dài để cuối cùng nhận lấy sự thất bại nhục nhã. Theo Arts and Culture, đó là thực tế mà người Nga đã phải đối mặt vào năm 1905, khi hải quân Nga đi 18.000 hải lý để giao chiến với Nhật Bản. Đây còn được gọi là “Trận chiến ở eo biển Tsushima” hay “Trận hải chiến trên biển Nhật Bản”, trận chiến đích thực là một thất bại cay đắng đối với người Nga và cũng là ví dụ hoàn hảo để chứng minh cho sự khác biệt mà công nghệ có thể mang lại trong chiến tranh vào thế kỷ 20.

Theo History, đây là cuộc chiến nhằm tranh giành và phân chia quyền kiểm soát trên vùng đất Mãn Châu cùng Triều Tiên giữa hai đế quốc đầy tham vọng: Nga - Nhật. Vào tháng 2/1904, Nhật Bản đã tấn công bất ngờ vào hạm đội hải quân Nga tại cảng Arthur, Trung Quốc. Đây là trận mở màn của cuộc Chiến tranh Nga - Nhật. Nga đã đánh giá thấp sức mạnh quân sự của Nhật Bản, vốn đã lập nhiều chiến công trước quốc gia Châu Âu.

Theo Britannica, vào ngày 15/10/1905, sau một mùa hè bình yên, Hạm đội Baltic của Nga khởi hành từ Liepaja. Chưa đầy một tuần sau, các con tàu đã bắn nhầm vào một tàu đánh cá của Anh, Nga gửi lời xin lỗi Anh và bồi thường thích đáng.

Sau 7 tháng di chuyển, hạm đội Nga đã liên lạc được với Đô đốc Togo Heihachiro của Nhật Bản. Tờ Thought Co cho biết lúc này Nga tiến vào eo biển Tsushima với 11 thiết giáp hạm cùng 8 tuần dương hạm trong khi Nhật Bản sở hữu 4 thiết giáp hạm cùng 27 tuần dương hạm. Nga đã thụt lùi một cách đáng kể về công nghệ và mất ⅔ tổng số tàu trong vỏn vẹn 2 ngày, cuộc chiến tranh nhanh chóng kết thúc và tạo tiền đề cho cuộc cách mạng 1905 ở Nga.



BÀI CHỌN LỌC