Văn hóa truyền thống (P-4): Thiên - Nhân hợp nhất

Bình luận Trung Hòa • 11:30, 12/01/20

Từ góc độ dưỡng sinh mà nói, người xưa cho rằng Thiên thể vốn là một đại vũ trụ, thân thể con người là một tiểu vũ trụ. Đại vũ trụ và tiểu vũ trụ có mối quan hệ đối ứng. Nếu con người có thể hành xử thuận theo lẽ Trời, hợp nhất với Trời, với thiên nhiên thì sẽ mạnh khỏe trường thọ. Trái lại thì dễ sinh bệnh, đoản thọ, thậm chí đột tử...

Đại sư về Nho học và văn hóa truyền thống Tiền Mục vào những năm tuổi già đã có được triệt ngộ về quan niệm "Thiên - Nhân hợp nhất" trong văn hóa truyền thống. Ông nói: "Cống hiến vĩ đại nhất trong văn hóa truyền thống Á Đông là ở nghiên cứu về quan hệ giữa Thiên và Nhân (giữa con người với thiên nhiên)".

Từ xưa đến nay, 3 gia phái lớn trong văn hóa truyền thống Á Đông là Nho, Phật và Đạo đều nói về Thiên - Nhân hợp nhất. Thẻ tre Quách Điếm Sở Giản, năm 300 - TCN có viết: "Dịch dùng để biết Đạo Trời, Đạo người". Ý nghĩa là Chu Dịch là bộ sách giảng thuật về tư tưởng Thiên - Nhân hợp nhất. 

Phần Văn Ngôn trong Chu Dịch viết: "Phàm là bậc đại nhân, hợp đức với thiên địa, hợp quang với nhật nguyệt, hợp trật tự với tứ thời, hợp hung cát với quỷ Thần, tiên thiên không trái với Trời, hậu thiên hành theo thiên thời". Đây chính là luận thuật cụ thể về cảnh giới Thiên - Nhân hợp nhất.

Đạo Đức Kinh của Đạo gia viết: "Con người thuận theo đất, đất thuận theo trời, trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên". (Nguyên văn: "Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp Đạo, Đạo pháp tự nhiên").

Tương truyền thiền sư Hàn Sơn là hóa thân của Bồ Tát Văn Thù, sinh thời có bài thơ như sau:

"La liệt trời sao sáng đêm thâu,
Mỏm núi trăng côi rạng đất trời.
Viên mãn sáng ngời không mài giũa,
Lòng ta vằng vặc giữa trời treo".

Nguyên văn:

"Chúng tinh la liệt dạ minh thâm,
Nham điểm cô đăng nguyệt vị trầm,
Viên mãn quang hoa bất ma oánh,
Quải tại thanh thiên thị ngã tâm".

Đây cũng chính là nói về cảnh giới Thiên - Nhân hợp nhất. 

Xưa nay những lời giải thích về Thiên - Nhân hợp nhất rất nhiều. Vậy Thiên - Nhân hợp nhất rốt cuộc có nội hàm gì? Tại sao nói quan niệm Thiên - Nhân hợp nhất là quan niệm truyền thống khiến con người thọ ích cả cuộc đời? 

Tại sao nói quan niệm Thiên - Nhân hợp nhất là quan niệm truyền thống khiến con người thọ ích cả cuộc đời? 
Tại sao nói quan niệm Thiên - Nhân hợp nhất là quan niệm truyền thống khiến con người thọ ích cả cuộc đời? (Ảnh: Shutterstock)

Thiên - Nhân hợp nhất, siêu xuất phàm trần

Văn hóa truyền thống Á Đông có trung tâm là văn hóa truyền thống Trung Hoa. Từ xưa đến nay vùng đất Trung Hoa cũng được gọi là Thần Châu, ý nghĩa là Trung Hoa là bảo địa mà Thần đã lựa chọn để con người tu luyện thành Thần. Thế nên văn hóa truyền thống Trung Hoa cũng được gọi là văn hóa Thần truyền. Vì vậy vào thời cổ đại, văn hóa tu luyện vô cùng phát triển. Rất nhiều người thông qua tu Phật tu Đạo đã siêu thoát luân hồi sinh tử. Người tu Đạo tu thành Chân nhân, người tu Phật tu thành Phật, Bồ Tát, La Hán...

Do đó thời cổ đại có Kỳ Bá, Quảng Thành Tử, Thần Nông, Hoàng Đế, Y Doãn, Lão Tử... đều là người tu Đạo, cuối cùng đều đắc Đạo thành Chân nhân, tức là trở thành người siêu xuất khỏi trần thế. Trạng thái đó được Lão Tử gọi là "Huyền đồng", được Hoàng Đế gọi là "Đề huề thiên địa", được Trang Tử gọi là "Tề vật, đồng hóa với Đại Đạo, sống cùng với trời đất, hợp nhất với vạn vật". Ba cách nói Đề huề thiên địa, Huyền đồng, Tề vật là cùng một ý nghĩa, đó là chỉ cảnh giới tối cao của tu luyện: Phản bổn quy chân, Thiên - Nhân hợp nhất.

Hoàng Đế được người Hoa coi là thủy tổ. Sau khi chiến thắng Xi Vưu trở thành chủ của thiên hạ, Hoàng Đế bắt đầu đặt ra bá quan, đặt định điển chương (như thể chế ngày nay), lựa chọn bổ nhiệm người hiền năng, phong thiện tế Trời Đất, dùng đức giáo hóa thiên hạ. Ông còn lệnh cho các thần dân làm nhà, trồng ngũ cốc, may y phục, làm xe làm thuyền. Thời đại Hoàng Đế, văn hóa, y học, toán số, lịch pháp, nhạc khí, đồ gốm, nghề trồng dâu nuôi tằm đều liên tiếp được phát minh và xuất hiện. Vì vậy người đời sau coi nền văn minh Trung Hoa có nền móng từ thời đại Hoàng Đế.

Chân dung Hoàng Đế - Vị vua huyền thoại của Trung Hoa cổ đại.
Chân dung Hoàng Đế - Vị vua huyền thoại của Trung Hoa cổ đại. (Ảnh: Wikipedia)

Trong lịch sử có truyền thuyết về Hoàng Đế cầu Đạo, kể lại như sau:

Quảng Thành Tử là một vị Thần Tiên, sống trong một động đá trên núi Không Động phía Tây nam Lâm Nhữ Hà Nam. Sau khi Hoàng Đế nghe nói liền đến bái kiến. Cuối cùng Quảng Thành Tử đã cảm động bởi sự chân thành của Hoàng Đế nên đã đem bí quyết tu luyện truyền cho ông, yêu cầu ông "chú trọng tu dưỡng nội tâm, bài trừ can nhiễu bên ngoài", đồng thời nói "Đạo của tôi sẽ dẫn ông đến cửa vô cùng, ngao du ở thảo nguyên vô cực, sáng cùng nhật nguyệt, trường tồn cùng trời đất".

Kể từ đó Hoàng Đế tu tâm trọng đức, cả nước an định, thiên hạ thái bình. Sử tịch có viết rằng, Hoàng Đế tại vị 100 năm, quốc gia không có trộm cướp đánh nhau, mọi người khiêm nhường hòa mục, mưa hòa gió thuận, thậm chí hổ báo cũng không làm hại người, chim thú sâu bọ cũng chịu ảnh hưởng giáo hóa của ông. Đó là hình mẫu thời thịnh thế "Đạo thi hành thiên hạ, Đức ân trạch tám phương".

Tương truyền năm 2598 TCN, Hoàng Đế đúc một cái đỉnh lớn ở chân núi Kiều Sơn. Đúng thời khắc đúc xong, trời bỗng nhiên mở ra, một con rồng vàng giáng xuống nghênh đón ông. Hoàng Đế và các cận thần trên 70 người cùng cưỡi rồng vàng bạch nhật thăng thiên, viên mãn công thành. Lúc này muôn dân bách tính đã tận mắt nhìn thấy cảnh tượng thần thánh hoành tráng này, mọi người đều tin Thần thực sự tồn tại, càng thêm tín Thần kính Thần, sùng Đạo chuộng Đức.

Hoàng Đế cuối cùng viên mãn phi thăng đã gợi mở cho người đời sau rằng, con người có thể thông qua tu luyện trở về Trời. Trời ở đây tức là Thần. Người xưa nói: "Người đang làm Trời đang nhìn", "Ông Trời không thân với ai, chỉ trợ giúp người có đức", "Mệnh Trời không thể trái", "Mệnh Trời sáng tỏ", "Đức sánh với Trời", "Đắc tội với Trời thì không có chỗ nào cầu nguyện được". Trời ở đây cũng chính là chỉ Thần. Con đường duy nhất để con người liên thông với Thần, ấy chính là tu luyện.

Đúng thời khắc đúc xong, trời bỗng nhiên mở ra, một con rồng vàng giáng xuống nghênh đón ông. Hoàng Đế và các cận thần trên 70 người cùng cưỡi rồng vàng bạch nhật thăng thiên, viên mãn công thành.
Đúng thời khắc đúc xong, trời bỗng nhiên mở ra, một con rồng vàng giáng xuống nghênh đón ông. Hoàng Đế và các cận thần trên 70 người cùng cưỡi rồng vàng bạch nhật thăng thiên, viên mãn công thành. (Ảnh: Shutterstock)

Thiên - Nhân hợp nhất, thiên hạ thịnh trị

Từ góc độ trị sửa quốc gia chính trị mà nói, người xưa cho rằng thiên tượng và việc thế nhân có đối ứng với nhau. Người cầm quyền chỉ có thuận theo sự biến hóa của thiên tượng, hợp nhất với thiên tượng thì mới có để đắc được 'thiên thời, địa lợi, nhân hòa', mọi nghề đều hưng thịnh, quốc thái dân an. Nhược bằng trái lại thì thù trong giặc ngoài, bốn bề là địch, thiên tai nhân họa không ngừng.

Đại Nho đời Hán Vũ Đế là Đổng Trọng Thư cho rằng: "Trời là vua của trăm Thần, là bậc chí tôn của các vua". Trời có thể chi phối chúa tể tối cao chi phối hết thảy. Quân chủ là Thiên tử (con của Trời), đại diện Thượng Thiên trị sửa quốc gia, quyền vua thần thánh bất khả xâm phạm. Nhưng quân chủ cũng không thể không có ước thúc, bởi vì Trời và con người cảm ứng lẫn nhau. Khi Thiên tử thi hành vương đạo, thực thi thiện chính thì tự nhiên sẽ mưa thuận gió hòa, bốn mùa rõ rệt, hết thảy đều biến hóa thuận lợi thông suốt. "Khi quốc gia sắp bại hoại vô Đạo thì Trời trước tiên sẽ cho tai họa để khiển trách, không biết tự phản tỉnh thì lại xuất hiện những hiện tượng quái dị để cảnh cáo, nếu vẫn không biết thay đổi thì suy bại sẽ đến. Vua nhân ái lấy những việc này để xem lòng Trời thì ngăn được họa loạn". Đây chính là thuyết "Thiên nhân cảm ứng" của Đổng Trọng Thư dẫn xuất từ thuyết Thiên - Nhân hợp nhất.

Tư Mã Thiên viết Sử Ký cũng là muốn "Đi đến tận cùng giữa Trời với người, thông lẽ biến đổi cổ kim, thành thuyết của một gia phái". Trong phần Nhạc Thư sách Sử Ký ông viết: "Trời và con người tương thông, giống như quan hệ giữa hình với bóng và khí. Người làm việc tốt thì Trời báo đáp bằng phúc, người làm việc xấu thì Trời báo đáp bằng họa. Giống như trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, là đạo lý rất tự nhiên. Vì vậy nói suy Đạo Trời để biết rõ việc con người. Bậc quân vương nên hành động giống Trời. Tâm chí thành của quân vương có thể cảm động Trời, khiến âm dương biến đổi. Nếu bậc quân vương trái với âm dương, trái với lòng Trời thì sẽ thiên tai nhân họa, hiện tượng quái dị xảy ra. Đó là Trời cảnh cáo đối với quân vương vậy".

Phần Thiên Quan Thư sách Sử Ký miêu tả tường tận quan hệ đối ứng giữa thiên tượng và sự việc, con người. Từ đó có thể thấy quốc gia thịnh suy, quốc quân họa phúc, quan tướng hiền ngu, chiến tranh thắng bại... đều là Thượng Thiên đã an bài trước cả rồi. Vì vậy có thể từ các biến động thiên tượng tương ứng mà nhìn ra được ý Trời, để xét họa phúc cát hung. Những tinh tượng như nhật thực, nguyệt thực, sao chổi... báo trước thiên tai, điềm lành, hoặc dùng sai người thì chính sự hỏng, hoặc chính sự thông đạt thì người dân hòa thuận. Tư Mã Thiên đã liệt kê ra lượng lớn những sự thực lịch sử để minh chứng, không có việc gì là không có thiên tượng xuất hiện trước, sau đó ở nhân gian ứng nghiệm sau.

Những tinh tượng như nhật thực, nguyệt thực, sao chổi... báo trước thiên tai, điềm lành. Tư Mã Thiên đã liệt kê ra lượng lớn những sự thực lịch sử để minh chứng, không có việc gì là không có thiên tượng xuất hiện trước, sau đó ở nhân gian ứng nghiệm sau. (Ảnh: Shutterstock)
Những tinh tượng như nhật thực, nguyệt thực, sao chổi... báo trước thiên tai, điềm lành. Không có việc gì là không có thiên tượng xuất hiện trước, sau đó ở nhân gian ứng nghiệm sau. (Ảnh: Shutterstock)

Vì vậy những minh quân thời cổ đại đều rất coi trọng kính Trời tế Trời, thường xuyên kiểm điểm lời nói hành vi của bản thân xem có phù hợp với lòng Trời, ý Trời hay không. Mỗi khi xuất hiện thiên tai nhân họa và trạng thái hỗn loạn, các quân vương thường tự kiểm điểm trách tội mình, thậm chí xuống chiếu "Tội kỷ chiếu" (chiếu trách tội mình). Xuống chiếu "tội kỷ chiếu' nhiều nhất là Đường Thái Tông, tổng cộng 28 lần. Năm 628 hạn hán và nạn châu chấu xảy ra, Đường Thái Tông xuống chiếu viết: "Nếu để mùa màng bội thu, thiên hạ yên ổn, giáng tai họa vào thân trẫm để bảo tồn vạn quốc thì đó là sở nguyện của trẫm, hoàn toàn cam lòng". Thái Tông vì để người dân có cơm ăn, nguyện Thượng Thiên giáng hết tai nạn vào thân ông. Trách tội mình vì người dân như thế này, thảo nào ông được Trời Đất Thần linh bảo hộ, khai sáng ra thời kỳ thịnh thế Trinh Quán Chi Trị.

Thiên - Nhân hợp nhất, ắt được an khang

Từ góc độ dưỡng sinh mà nói, người xưa cho rằng Thiên thể vốn là một đại vũ trụ, thân thể con người là một tiểu vũ trụ. Đại vũ trụ và tiểu vũ trụ có mối quan hệ đối ứng. Nếu con người có thể hành xử thuận theo lẽ Trời, hợp nhất với Trời (với thiên nhiên) thì sẽ mạnh khỏe trường thọ. Trái lại thì dễ sinh bệnh, đoản thọ, thậm chí đột tử.

Đông y xưa cho rằng, trời có âm dương, con người có âm dương, trời có ngũ hành, con người có ngũ tạng, trời có 12 tháng, con người có 12 kinh lạc, trời có 1 năm 360 ngày, thân thể con người có 360 huyệt. Con người và thiên nhiên tương thông, thế nên con người phải hài hòa với lẽ Trời, "thuận theo âm dương, hòa với thuật số, ăn uống có tiết chế, sinh hoạt có quy luật, không vọng tưởng không làm quá sức, cho nên hình và thần đều đầy đủ, sống trọn tuổi Trời, qua trăm tuổi rồi đi".

Con người và thiên nhiên tương thông, thế nên con người phải hài hòa với lẽ Trời, "thuận theo âm dương, hòa với thuật số, ăn uống có tiết chế, sinh hoạt có quy luật, không vọng tưởng không làm quá sức, cho nên hình và thần đều đầy đủ, sống trọn tuổi Trời, qua trăm tuổi rồi đi".
Con người và thiên nhiên tương thông, thế nên con người phải hài hòa với lẽ Trời, "thuận theo âm dương, ăn uống có tiết chế, sinh hoạt có quy luật, không làm quá sức, nên hình và thần đều đầy đủ, sống trọn tuổi Trời, qua trăm tuổi rồi đi". (Ảnh: Shutterstock)

Con người cần phải căn cứ sự thay đổi âm dương theo mùa (xuân hạ là dương, thu đông là âm), theo chu kỳ biến đổi ngày đêm (ngày là dương, đêm là âm), sự biến đổi trên dưới, trong ngoài, trước sau của âm dương, cho đến sự biến đổi tính chất âm dương của vật như hàn, nhiệt, can, thấp... từ đó điều chỉnh thân tâm, ăn mặc, đi ở đều ăn khớp với quy luật thay đổi âm dương và tính chất vật, thì tinh, khí, thần mới đầy đủ, hình thần đều đầy đủ, mới có thể sống trọn tuổi Trời, sống trăm tuổi mới ra đi.

Trái lại, con người nếu không sống theo lẽ Trời, mà "lấy rượu thay nước, lấy vọng tưởng làm lẽ thường, sau rượu nhập phòng, ham dục vắt kiệt tinh khí, hao tán hết chân khí, không biết giữ đầy, không biết kiểm soát thần khí, chỉ muốn khoan khoái trong lòng, tìm lạc thú trái lẽ Trời, sống không tiết chế, cho nên mới 50 mà đã suy rồi".

Nếu con người coi rượu làm đồ uống thường ngày, nói lời giả dối, nói khoác lác bốc đồng, nói lời sáo rỗng, mồm mép liến thoắng, thao thao bất tuyệt, nói lời sằng bậy; sau khi uống rượu nhập phòng hành lạc, buông thả dục vọng quá độ, tinh, khí, thần sẽ hao tổn kiệt quệ; không biết kết hợp làm việc với nghỉ ngơi, chỉ ham hố khoái lạc nhất thời, sống không có tiết chế, thì chỉ có thể sống được nửa tuổi Trời thì đã suy nhược già nua rồi.

Sách Hoàng Đế Nội Kinh viết: "Do đó người trí dưỡng sinh ắt sẽ thuận theo 4 mùa mà thích nghi với nóng lạnh, hòa hỷ nộ mà sống yên vui, tiết chế âm dương điều hòa cương nhu, như thế thì tà tích sẽ không xâm phạm được, trường sinh trường thọ". Đây chính là danh ngôn chí lý về dưỡng sinh vậy.

Trung Hòa
Theo Vương Hữu Quần - epochtimes.com.