Kỳ 3 - Các nhà khoa học "bất lực" trước chủng virus "bất trị" Corona và các bệnh nan y?

Bình luận Minh Thanh • 14:11, 05/03/20

Các nhà khoa học chỉ ra rằng, 90 – 95% nguyên nhân gây ra các bệnh nan y, đặc biệt là bệnh ung thư là do các yếu tố môi trường như ô nhiễm môi trường và thực phẩm độc hại, chỉ có 5 – 10% là do di truyền. Đối mặt với các căn bệnh nan y hay dịch bệnh COVID-19 đang hoành hành, với chúng ta - một liều vắc-xin, một toa thuốc hay một phác đồ điều trị hữu hiệu để “tận trị” các căn bệnh quái ác hiện vẫn còn đang ở phía trước...

Cơ thể của bạn là một "cộng đồng" của hàng nghìn tỷ tế bào sống. Khi các tế bào của bạn khỏe mạnh thì dĩ nhiên cơ thể bạn sẽ khỏe mạnh, và ngược lại.

Khi virus Corona xâm nhập tế bào: Hai lá phổi tan nát

Trong bối cảnh dịch bệnh viêm đường hô hấp do chủng virus Corona có tên chính thức là COVID-19 (nCoV) đang lây lan khó kiểm soát, các nhà khoa học trên thế giới đang gấp rút tìm mọi cách chống lại nó. 

Thực ra, virus Corona không hề xa lạ với con người và là một trong những chủng virus cực kỳ “cứng đầu” và khó lường. Sở dĩ nó có tên là Corona vì qua kính hiển vi, virus này có các gai glycoprotein chĩa ra giống như chiếc vương miện (tiếng Latin Corona có nghĩa là Vương miện). 

Các nhà khoa học đã tìm ra được 7 chủng virus Corona có thể lây nhiễm sang người. Tất cả đều gây ra các bệnh liên quan tới hô hấp, trong đó 4 chủng chỉ gây các bệnh cảm lạnh thông thường, 3 chủng còn lại đã từng và đang gây ra dịch bệnh hô hấp nguy hiểm nhất ở người, đó chính là: SARS (2003), MERS (2012) và COVID-19 hiện nay.

Sở dĩ nó có tên là Corona vì qua kính hiển vi, virus này có các gai glycoprotein chĩa ra giống như chiếc vương miện (tiếng Latin Corona có nghĩa là Vương miện). 
Sở dĩ nó có tên là Corona vì qua kính hiển vi, virus này có các gai glycoprotein chĩa ra giống như chiếc vương miện (tiếng Latin Corona có nghĩa là Vương miện). (Ảnh: Shutterstock)

Corona là một dạng virus chứa trong lớp vỏ gai một đoạn mã di truyền gọi là Axit ribonucleic (RNA). Virus cần bám vào tế bào cụ thể (trong trường hợp này là tế bào hô hấp), giải phóng RNA để biến tế bào cơ thể người trở thành cỗ máy sản sinh thêm virus. Cuối cùng, virus Corona sau khi nhân bản xong được giải phóng khỏi tế bào và thường cũng phá hủy luôn tế bào. 

Theo Tiến sĩ, phó Giáo sư Matthew B.Frieman, một chuyên gia về Coronavirus của ĐH Maryland (Mỹ) cho biết, COVID-19 cũng tiến triển như SARS. Giai đoạn 1, virus tấn công dồn dập tế bào phổi, chủ yếu là lớp tế bào cilia bảo vệ tế bào niêm dịch. Mất đi lớp bảo vệ đó, đường hô hấp sẽ bị chất bẩn, dịch lỏng và virus tràn ngập. 

Đây cũng là lúc giai đoạn 2 bắt đầu. Trước sự xâm nhập của virus, cơ thể phản ứng bằng cách tăng cường tế bào miễn dịch đến phổi để khắc phục những tổn thương. Nếu hoạt động đúng, quá trình viêm này được kiểm soát và chỉ giới hạn ở bộ phận nhiễm virus. Nhưng đôi khi tế bào miễn dịch bị kích thích quá mức, chúng sẽ “triệt hạ” tất cả không phân biệt virus hay mô khỏe mạnh.

Giai đoạn 3 là tổn thương phổi tiếp tục lan rộng và có thể dẫn đến suy hô hấp. Nếu bệnh nhân may mắn không chết, phổi của họ cũng bị tổn thương vĩnh viễn với những lỗ thủng nhìn như "tổ ong". Đó là đặc điểm của SARS và COVID-19 cũng tương tự như vậy. 

Giai đoạn 3 là tổn thương phổi tiếp tục lan rộng và có thể dẫn đến suy hô hấp. Nếu bệnh nhân may mắn không chết, phổi của họ cũng bị tổn thương vĩnh viễn với những lỗ thủng nhìn như "tổ ong".
Giai đoạn 3 là tổn thương phổi tiếp tục lan rộng và có thể dẫn đến suy hô hấp. Nếu bệnh nhân may mắn không chết, phổi của họ cũng bị tổn thương vĩnh viễn với những lỗ thủng nhìn như "tổ ong". (Ảnh: Dân trí)

→ Cơ chế sản xuất thuốc kháng virus hiện nay là tìm ra các phân tử nhỏ ngăn virus nhân lên bên trong các tế bào của con người. Thuốc kháng virus đem theo các phân tử này can thiệp vào quá trình xâm nhập vào tế bào và nhân bản của virus. Nhưng điều chế thuốc kháng virus hiệu quả hết sức tốn kém và cần có thời gian. 

Số người tử vong thực tế do virus Corona chủng mới đã vượt xa đại dịch SARS (2003) và hiện các phòng thí nghiệm trên thế giới đang gấp rút tìm kiếm phương pháp điều trị và vắc-xin chống lại chủng virus mới này. Tuy nhiên "Phát triển được loại vắc-xin phòng ngừa hoặc chấm dứt một cuộc khủng hoảng sức khỏe cộng đồng khó khăn hơn ta nghĩ. Việc này thường tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc”, ông Brad Loncar, một nhà đầu tư công nghệ sinh học và Giám đốc điều hành của Loncar Investments cho biết. 

Virus Corona biến thể cấp tốc khiến các nhà nghiên cứu xoay xở không kịp khi họ nhận ra rằng, vật liệu di truyền của virus là  Axit ribonucleic (RNA). RNA tồn tại trong một chuỗi, không giống như DNA là chuỗi kép. Chỉ có một chuỗi duy nhất giúp RNA dễ dàng chia tách và phối lại vì chỉ cần một kết nối bị phá vỡ. Điều này có nghĩa là virus có thể đột biến nhanh chóng, khiến cho bất kỳ phương pháp điều trị hoặc vắc-xin nào ra đời sẽ sớm bị lỗi thời.

Ngay cả khi bạn không xem xét tỉ lệ đột biến của virus, việc phát triển vắc-xin nói chung mất khá nhiều thời gian, có khi kéo dài nhiều năm. Khung thời gian ngắn nhất để phát triển vắc-xin cũng phải mất khoảng 1 năm, bởi vắc-xin sẽ phải trải qua 6 giai đoạn, trong đó 3 giai đoạn là thử nghiệm lâm sàng (theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC). 

Có điều, vào thời điểm tìm ra loại vắc-xin và được đánh giá là an toàn để sử dụng thì có thể đúng lúc ấy dịch bệnh lại kết thúc hoặc được kiểm soát dần dần trước khi vắc-xin được tạo ra. Chính vì vậy sẽ dẫn đến việc nghiên cứu vắc-xin có thể bị đình trệ, giống như vắc-xin SARS cho đến nay vẫn chưa được cấp phép.  

Có điều, vào thời điểm tìm ra loại vắc-xin và được đánh giá là an toàn để sử dụng thì có thể đúng lúc ấy dịch bệnh lại kết thúc hoặc được kiểm soát dần dần trước khi vắc-xin được tạo ra.
Có điều, vào thời điểm tìm ra loại vắc-xin và được đánh giá là an toàn để sử dụng thì có thể đúng lúc ấy dịch bệnh lại kết thúc hoặc được kiểm soát dần dần trước khi vắc-xin được tạo ra. (Ảnh: Shutterstock)

Có một nguyên lý là, vắc-xin là chế phẩm sinh học có tính kháng nguyên. Khi vắc-xin được đưa vào cơ thể, hệ miễn dịch sẽ nhận diện vắc-xin là một vật thể lạ nên ghi nhớ chúng. Khi một tác nhân gây bệnh thực thụ xâm nhập, hệ miễn dịch sẽ nhận diện và tạo kháng thể để chống lại tác nhân đó. Vì vậy, vắc-xin chỉ có hiệu nghiệm trước khi cơ thể bị lây nhiễm. 

Trong khi đó, có rất ít phương pháp điều trị bằng thuốc kháng virus có sẵn. Hiện chuyên gia các nước đang nghiên cứu thử nghiệm ba phương thức điều trị bằng thuốc kháng virus hiện có trong điều trị HIV, MERS và Ebola để điều trị bệnh nhân nhiễm virus corona.  

WHO đang chuẩn bị thử nghiệm lâm sàng quốc tế để thẩm định hiệu quả điều trị của ba phương thức nêu trên. Trong khi chờ kết quả thử nghiệm, các bác sĩ ở Pháp đã sử dụng các loại thuốc nêu trên để điều trị khẩn cấp cho bệnh nhân nhiễm virus corona, đặc biệt tại bệnh viện Bichat ở Paris.

Không có đủ tài chính để phát triển vắc-xin là một thực tế đáng lo ngại đang diễn ra. Hầu hết các trung tâm nghiên cứu y tế thường có rất ít động lực để nghiên cứu vắc-xin các bệnh do virus cúm vì nguồn lực có hạn so với ngân sách dồi dào của các hãng dược phẩm lớn. 

Tuy nhiên, các hãng dược lớn này thường dồn ngân sách để phát triển các loại thuốc mang lại lợi nhuận lớn, như thuốc giảm đau chẳng hạn. Lý do là nhiều hãng dược sau khi đầu tư nghiên cứu vắc-xin để cung cấp cho các cuộc khủng hoảng sức khỏe cộng đồng và ra được thương phẩm thì dịch bệnh lại kết thúc. 

Hầu hết các trung tâm nghiên cứu y tế thường có rất ít động lực để nghiên cứu vắc-xin các bệnh do virus cúm vì nguồn lực có hạn so với ngân sách dồi dào của các hãng dược phẩm lớn.
Hầu hết các trung tâm nghiên cứu y tế thường có rất ít động lực để nghiên cứu vắc-xin các bệnh do virus cúm vì nguồn lực có hạn so với ngân sách dồi dào của các hãng dược phẩm lớn. (Ảnh: Shutterstock)

Như vậy, các hãng dược sẽ phải gánh chịu khoản đầu tư khổng lồ bởi khi vắc-xin được cấp phép thì nhu cầu thị trường đã không cần nữa. Cụ thể là một số loại thuốc và vắc-xin phát triển nhanh chóng, thử nghiệm trong đợt dịch bệnh Hội chứng hô hấp cấp (SARS) năm 2003 đến nay vẫn chưa được cấp phép.

Ngay cả khi việc phát triển vắc-xin được đẩy nhanh nghiên cứu trong một trận dịch, điều đó cũng chưa thể đảm bảo vắc-xin sẽ được sản xuất hàng loạt. Ví dụ, một nhóm các nhà nghiên cứu bắt tay với các công ty công nghệ để nghiên cứu và sản xuất vắc-xin cho virus corona qua đơn “đặt hàng” của cơ quan chính phủ. Họ cần phải có một khoản ngân sách đủ lớn để có thể sản xuất hàng loạt vắc-xin. Tuy nhiên khi dịch bệnh kết thúc trước khi vắc-xin được tạo ra, các chính phủ sẽ có khả năng dừng các khoản tiền dành cho việc đối phó với khủng hoảng. Đương nhiên, điều đó đồng nghĩa với việc sản xuất vắc-xin quy mô lớn sẽ bị đình chỉ. 

Những nỗ lực tìm ra phương pháp chữa trị và vắc-xin cho COVID-19 vẫn là một chặng đường dài trước mắt. Những bệnh nhân đang phải chịu đựng giữa tâm dịch tại Trung Quốc sẵn sàng chấp nhận bất kỳ rủi ro nào, vậy nên đã có những thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành ở người tại Vũ Hán , nhưng những loại thuốc này vẫn đang trong quá trình thử nghiệm.

Hiện một số chuyên gia đang đề nghị tạo ra một quỹ toàn cầu để phát triển vắc-xin - vốn đang thiếu hụt nguồn tài trợ cho nghiên cứu vắc xin Ebola và giờ là virus Corona chủng mới. Hiện bệnh lao và sốt rét vẫn chưa có vắc-xin dù có nhiều tiền tài trợ. “Tổng hợp lại những điều này, có thể chúng ta sẽ không bao giờ có vắc-xin hay thuốc điều trị virus Corona chủng mới”, tiến sĩ Chia-Yi Hou, chuyên gia về bệnh truyền nhiễm ở Mỹ cho biết. 

Thực tế hơn, chúng ta khó có thể có vắc-xin hoặc thuốc điều trị COVID-19 ngay lập tức được, và một thực tế nữa là khó có thể sản xuất vắc-xin trên quy mô lớn nếu không có các nhà hảo tâm. Như vậy, việc của chúng ta bây giờ vẫn là chờ đợi… 

“Tổng hợp lại những điều này, có thể chúng ta sẽ không bao giờ có vắc-xin hay thuốc điều trị virus Corona chủng mới”, tiến sĩ Chia-Yi Hou, chuyên gia về bệnh truyền nhiễm ở Mỹ cho biết. 
“Tổng hợp lại những điều này, có thể chúng ta sẽ không bao giờ có vắc-xin hay thuốc điều trị virus Corona chủng mới”, tiến sĩ Chia-Yi Hou, chuyên gia về bệnh truyền nhiễm ở Mỹ cho biết. (Ảnh: Shutterstock)

Khi tế bào không phân tách đúng “lộ trình”: Ung thư xuất hiện

Theo Viện Ung thư Quốc gia (National Cancer Instituse), ung thư là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới. Ước tính có khoảng 9,6 triệu ca tử vong trong năm 2018. Số trường hợp ung thư mới mỗi năm dự kiến ​​sẽ tăng lên 23,6 triệu người vào năm 2030. 

Theo WHO, Việt Nam nằm trong top 2 bản đồ ung thư thế giới (50 nước cao nhất đứng top 1). Theo số liệu của Tổ chức Ung thư toàn cầu (GLOBOCAL), mỗi năm Việt Nam có khoảng 130.000 ca mắc mới và 94.000 người chết vì ung thư. Như vậy, trung bình mỗi ngày có khoảng gần 300 người tử vong vì ung thư. 

Ung thư là bệnh ác tính của tế bào. Bình thường, các tế bào phát triển, phân chia và chết đi theo một chu trình định sẵn. Nhưng các tế bào ung thư không phân chia theo “lộ trình” định sẵn ấy. Chúng không hoạt động giống như các tế bào bình thường. Ví như chúng không biết khi nào nên ngừng phân chia và khi nào tế bào sẽ chết. 

Thay vì chết đi, tế bào ung thư vẫn tiếp tục phát triển đến mức vượt khỏi tầm kiểm soát, hình thành nên các tế bào bất thường. Tế bào thừa tạo nên thể khối (tức khối u) và xâm lấn các mô lân cận. Ngược lại với các tế bào bình thường không thể và không bao giờ dịch chuyển khỏi cơ quan của mình, các tế bào ung thư có thể tách ra, di chuyển qua các mạch máu hoặc hệ bạch huyết và bắt đầu phát triển ở một nơi khác trong cơ thể. Quá trình này được gọi là di căn. 

→ Nếu triệt tiêu các khả năng đó của tế bào ung thư, chúng ta có thể điều trị được bệnh ung thư. 

Có nhiều cách điều trị ung thư khác nhau như phẫu thuật, hóa trị hay xạ trị. Phẫu thuật là một trong những phương pháp điều trị quan trọng nhất với đa số bệnh ung thư, nhưng nó cũng có thể xảy ra biến chứng đe dọa đến tính mạng bệnh nhân hoặc làm mất chức năng sinh lý một số bộ phận cơ thể. 

Nếu những tổn thương ác tính đã vượt qua giai đoạn khu trú thì vai trò của phẫu thuật không còn phù hợp. Khi ấy Xạ trị và Hóa trị là những phương pháp được sử dụng nhiều để tiêu diệt tế bào ung thư cũng như ngăn chặn sự di căn và tái phát lại khối u. Tuy vậy chúng cũng gây ra nhiều tác dụng phụ đối với người bệnh. 

Thay vì chết đi, tế bào ung thư vẫn tiếp tục phát triển đến mức vượt khỏi tầm kiểm soát, hình thành nên các tế bào bất thường. Tế bào thừa tạo nên thể khối (tức khối u) và xâm lấn các mô lân cận.
Thay vì chết đi, tế bào ung thư vẫn tiếp tục phát triển đến mức vượt khỏi tầm kiểm soát, hình thành nên các tế bào bất thường. Tế bào thừa tạo nên thể khối (tức khối u) và xâm lấn các mô lân cận. (Ảnh: Shutterstock)

Tuy nhiên cách đây hơn nửa thế kỷ, các nhà khoa học đã phát hiện ra một phương thức có thể “đối phó” với căn bệnh này: Cấy ghép tế bào gốc.

Tế bào gốc là gì? Cơ thể con người có rất nhiều loại tế bào cần thiết cho sức khoẻ hằng ngày. Những tế bào này giúp cho cơ thể hoạt động bình thường. Chức năng đặc biệt của tế bào gốc là tạo ra toàn bộ những loại tế bào khác trong cơ thể. Tế bào gốc là “nhà cung cấp” của tế bào mới. Khi tế bào gốc phân chia, nó có thể làm ra thêm tế bào gốc mới, hoặc làm ra những loại tế bào khác. 

“Phương thuốc” hữu hiệu? Tế bào gốc có một khả năng vô song, đó là chúng có thể phát triển thành nhiều loại tế bào khác trong cơ thể. Về mặt lý thuyết, chúng có thể phân chia không hạn định để thay thế các tế bào khác, và đồng thời đảm bảo số lượng các loại tế bào trong cơ thể, miễn là con người hay con vật còn sống. 

Tế bào ung thư cũng được biết đến với nhiều đặc tính của tế bào chưa trưởng thành. Một phần trong quá trình biến đổi thành ung thư, chúng xuất hiện các cơ chế tự nhiên để ngăn cản sự phân chia bình thường của tế bào, và thay vào đó là sự tăng sinh nhanh chóng bất thường. 

Khi chúng ta bị thương hoặc bị bệnh, tế bào trong cơ thể của chúng ta cũng sẽ bị thương hoặc chết. Khi ấy tế bào gốc bắt đầu hoạt động. Công việc của tế bào gốc là có nhiệm vụ “sửa chữa” những tế bào bị thương và thay tế bào mới vào chỗ những tế bào chết. Đây là cách mà tế bào gốc giữ cơ thể khỏe mạnh. 

Tuy nhiên việc cấy ghép tế bào gốc là một việc mới và khó đối với trình độ khoa học của con người hiện nay. Cấy ghép tế bào gốc phải trải qua một quá trình tuyển chọn (tìm kiếm tế bào gốc phù hợp với cơ thể được ghép); quá trình biệt hoá thành tế bào chức năng trong phòng thí nghiệm; quá trình chống đào thải (chống lại việc bị các tế bào bạch huyết tấn công tiêu diệt)... 

Ngoài ra, nó còn phải đảm bảo một yêu cầu: Đó là nó phải kết hợp một cách hoà hợp với các tế bào tự nhiên trong bộ phận cơ thể được cấy ghép. Với quá nhiều yếu tố phức tạp như vậy, việc ứng dụng tế bào gốc trong điều trị các chứng bệnh vẫn mới chỉ ở bước khởi đầu. 

Chờ đợi...

Dù nền y học của nhân loại đã vô cùng phát triển, nhưng nhiều năm qua chúng ta vẫn đầu hàng trước căn bệnh nan y - Ung thư - một khi nó phát tác dưới dạng di căn. 

Cũng vậy, dù chúng ta đã phát minh ra thuốc kháng sinh và các loại vắc-xin để phòng ngừa, điều trị nhiều chứng bệnh do vi khuẩn, virus gây nên, chúng ta vẫn phải đối mặt với nhiều dịch bệnh truyền nhiễm đáng sợ, đã cướp đi sinh mạng của rất nhiều người như dịch cúm châu Á (1957), HIV (1990), SARS (2003), MERS (2012), Ebola (2013), Zika (2015)... 

Để chống lại tác hại của những vi khuẩn kháng thuốc, chúng ta tiếp tục phát triển những loại thuốc kháng sinh mới. Điều này lại dẫn đến khả năng vi khuẩn biến thể lại trở nên nhờn thuốc đối với một số loại thuốc kháng sinh mới. Kết quả là cuộc chiến giữa con người và vi khuẩn lại tiếp tục diễn ra và có thể là không có hồi kết. 

Cũng vậy, trong ba tháng qua, chúng ta một lần nữa lại phải đối mặt với một dịch bệnh khủng khiếp khác mang tên COVID-19. Có điều trong khi chờ đợi các nhà khoa học tìm ra loại vắc-xin và thuốc đặc trị virus corona thì hiển nhiên chúng không hề chờ đợi chúng ta. Chủng virus mới này tiếp tục đột biến nhanh chóng....

Minh Thanh

Xem thêm: Kỳ 2 & Kỳ 4