Trung chính bình hòa là giá trị quan trác việt

Bình luận Trung Hòa • 15:00, 13/07/20

Quan niệm trung chính bình hòa xuyên suốt đủ các phương diện, từ tu tâm dưỡng tính cá nhân đến y học, âm nhạc cho đến kiến trúc và trị quốc bình thiên hạ.

Thời thượng cổ khi vua Nghiêu truyền ngôi cho vua Thuấn, vua Nghiêu căn dặn bốn chữ "Duẫn chấp quyết trung", nghĩa là: "Giữ Đạo trung chính". Vua Nghiêu yêu cầu vua Thuấn đồng ý rằng, nhất định phải chiểu theo Trung Đạo trị quốc để mà quản lý triều chính. Thái quá cũng không được, chưa đủ mức độ cũng không được, phải dung hòa thích hợp, vừa vặn đến mức tốt đẹp. 

Tư tưởng "Trung chính bình hòa" của người xưa có khởi nguồn từ đây. Sau này vua Thuấn lại đem 4 chữ này truyền lại cho vua Vũ, vua Vũ truyền lại cho vua Thang, vua Thang truyền lại cho Văn Vương, Vũ Vương, Chu Công, rồi tiếp đó Văn Vương, Vũ Vương, Chu Công truyền lại cho Khổng Tử, Khổng Tử truyền lại cho Mạnh Tử,v.v... cứ như thế truyền thừa đến thời cận đại trong suốt mấy nghìn năm nay, đã sáng tạo nên nền văn hóa Á Đông rực rỡ.

Nhưng ở Trung Quốc từ năm 1949 khi Đảng Cộng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) lật đổ Trung Hoa Dân Quốc thì truyền thống lịch sử vĩ đại "Duẫn chấp quyết trung" đã bị tư tưởng cực đoan cực tả làm cho đứt đoạn. ĐCSTQ lúc thì cực tả lúc thì cực hữu, nhưng nhiều nhất vẫn là cực tả. Toàn bộ quá trình lịch sử của nhân loại đã bị tư tưởng cực tả đơn giản hóa thành "lịch sử của đấu tranh giai cấp". ĐCSTQ: "Đấu với Trời, đấu với Đất, đấu với người, hạnh phúc vô cùng" (Mao Trạch Đông), đã liên tục 'đấu' 70 năm. Kết quả là quan niệm, lời nói, hành vi thích đấu đá dường như đã ảnh hưởng đến mọi cá nhân ở Trung Quốc. Có khi chỉ một lời nói bất hòa mà 2 người đấu đá với nhau. Có người nóng nảy, động cái là nhảy dựng lên, đã gây ra bao thảm kịch thế gian.

Embed from Getty Images

Cuộc đại cách mạng văn hóa do Mao Trạch Đông khởi xướng đã phá hủy đi nền văn minh Trung Hoa, phá vỡ trạng thái bình hòa vốn có của người thời cận đại, đẩy trạng thái cảm xúc của con người đi tới cực đoan, tranh đấu.

Thế nên, trở về với văn hóa truyền thống Á Đông tốt đẹp là nhiệm vụ lịch sử của chúng ta hiện nay. Quan niệm "Trung chính bình hòa" là một trong những tài sản tinh thần quý giá nhất của những dân tộc Á Đông, cần phải được kế thừa và phát huy.

Trung chính bình hòa làm người

Quan niệm "Trung chính bình hòa" trong học thuyết Nho gia tập trung thể hiện ở "Đạo trung dung". Đạo trung dung là cảnh giới tối cao mà Nho gia truy cầu.

Phần Dung Dã trong Luận Ngữ có viết: "Trung dung chính là đức, là cảnh giới tối cao vậy" (nguyên văn: "Trung dung chi vi đức dã, kỳ chí hĩ hồ"). 

Chu Hy, bậc đại Nho đời Tống có giải thích rằng: "Không thiên lệch là trung, không thay đổi là dung", và "Trung là không thiên lệch, là tên gọi của không thái quá, không thiếu hụt. Dung là bình thường".

Đạo trung dung không phải là ba phải; không phải là bạn tốt, tôi tốt, mọi người đều tốt; không phải là vô nguyên tắc.

Không thiên lệch chính là trung Đạo, chính Đạo, chính là công bằng khách quan, là không có bất kỳ tư tâm nào. Sách Trung Dung viết: "Hỷ nộ ai lạc chưa phát tác gọi là trung, phát ra mà đều có thể tiết chế dung hòa gọi là hòa. Trung là cội nguồn của thiên hạ, hòa là đạt Đạo của thiên hạ". 

Ý nghĩa là, nội tâm con người không phát ra hỷ nộ ai lạc, tâm tĩnh lặng như nước thì có thể nhìn rõ bản chất của sự vật, đưa ra phán đoán chính xác. Đó gọi là "trung chính". Khi hỷ nộ ai lạc phát tác mà có thể điều tiết tốt, không thái quá, cũng không thiếu mức độ, nhận thức và phán đoán đối với sự vật cũng sát gần với bản chất. Đó chính là "bình hòa".

Khi cái tâm ở trạng thái trung chính bình hòa thì đối nhân xử thế đều nắm chắc được mức độ, vừa vặn, thích hợp, thích đáng.

Embed from Getty Images

Khi hỷ nộ ai lạc phát tác mà có thể điều tiết tốt, không thái quá, cũng không thiếu mức độ, nhận thức và phán đoán đối với sự vật cũng sát gần với bản chất. Đó chính là "bình hòa".

Trái lại, khi con người ở trạng thái đại hỷ, đại bi, đại nộ, đại lạc thì không thể lý trí được. Tâm trạng con người càng cực đoan thì tư tưởng và hành vi cũng sẽ càng cực đoan hơn. 

Làm thế nào để tâm trạng tiết chế dung hòa, không chạy sang cực đoan? Kinh nghiệm của Khổng Tử là: "Suy xét về hai thái cực là hiểu rõ" (nguyên văn: "Khấu kỳ lưỡng đoan nhi kiệt yên"). 

“Suy xét về hai thái cực là hiểu rõ” nghĩa là sao? Khổng Tử lại nói: "Nắm bắt hai thái cực, áp dụng cái dung hòa ở giữa đối với người dân, đó có lẽ là điều đã tạo nên người vĩ đại như vua Thuấn". (Nguyên văn: "Chấp kỳ lưỡng đoan, dụng kỳ trung ư dân, kỳ tư dĩ vi Thuấn hồ?").

Về tác dụng của trung dung, sách Trung Dung đã dùng một chữ để biểu đạt, đó chính là "Hòa". Khi cái tâm an hòa, bình hòa nảy sinh thì những tâm trạng không tốt đều tiêu tan vô hình vô bóng, tư tưởng con người có thể quy chính lại.

Trung tâm của Đạo trung dung là giáo dục mọi người tự giác tự tu dưỡng, tự giám sát, tự giáo dục, tự hoàn thiện bản thân, bồi dưỡng bản thân thành người "trung chính bình hòa", hài hòa với chính mình, hài hòa với người khác, hài hòa với xã hội và hài hòa với trời đất, cuối cùng đạt đến cảnh giới lý tưởng chí Thiện chí Thánh. Chỉ có như thế mới có thể tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ được.

Trung chính bình hòa trong y học

Y học truyền thống lâu đời, hiện nay được gọi là Đông y (hoặc Trung y). Kinh điển y học sớm nhất là Hoàng Đế Nội Kinh, trong đó có viết: "Thầy thuốc bậc cao là trị sửa quốc gia, thầy thuốc bậc trung là trị sửa con người, thầy thuốc bậc thấp là trị chữa bệnh" (Thượng y trị quốc, trung y trị nhân, hạ y trị bệnh).

Tại sao nói "trung y trị nhân"? Bởi vì con người không tốt rồi mới sinh ra bệnh. Điều chỉnh con người tốt lên rồi thì sẽ tự nhiên không sinh bệnh. Do đó Đông y nhắm vào con người chứ không nhắm vào bệnh. Chỉ có thầy thuốc bậc thấp mới trị bệnh. Đông y (Trung y) chính là y học của Trung Đạo, chính là nền y học kế thừa tư tưởng "trung chính bình hòa" trong văn hóa truyền thống mà sinh ra.

nguồn gốc chữ "trung y"
"Thầy thuốc bậc cao là trị sửa quốc gia, thầy thuốc bậc trung là trị sửa con người, thầy thuốc bậc thấp là trị chữa bệnh" (Ảnh: Pixabay).

Hoàng Đế Nội Kinh định nghĩa khỏe mạnh như thế nào? Rất đơn giản: "Người bình thường không có bệnh". (Nguyên văn: "bình nhân giả bất bệnh dã"). 

Người bình thường là gì? Vương Băng, y học gia đời Đường giải thích rằng, người không thái quá thì gọi là người bình thường, tức là người sống theo Trung Đạo, chính Đạo thì gọi là người bình thường. Nói cách khác, người trung chính bình hòa chính là 'người bình thường' - người khỏe mạnh.

Làm thế nào để đạt được trung chính bình hòa? Đại y học gia đời Đường là Tôn Tư Mạc viết trong sách Thiên Kim Yếu Phương rằng: "Đạo đức không đủ thì dẫu có uống thuốc Tiên, kim đan ngọc dịch cũng không thể trường thọ. Đạo đức ngày một vẹn toàn thì dẫu không cầu thọ thì thọ cũng kéo dài, không cầu phúc thì phúc cũng tự đến. Đó chính là đạo dưỡng sinh vậy". Tôn Đạo sùng đức, tích thiện tích đức thì mới có thể có thân tâm mạnh khỏe, phúc thọ song toàn.

Biểu hiện của bệnh là gì?  Đó là thái quá, hoặc chưa đủ mức. Bất kể là bệnh trên thân thể hay bệnh trong tâm, không bệnh nào không như vậy. 

Lão Tử nói: "Đạo Trời là tổn hao chỗ dư và bù đắp chỗ thiếu" (Thiên chi Đạo, tổn hữu dư nhi bổ bất túc). Chỗ dư tức là thái quá, chỗ thiếu tức là chưa đủ mức. Chiểu theo Đạo Trời thì thái quá sẽ bị tổn hao, chưa đủ mức thì sẽ được bù đắp. Sự tổn hao và bù đắp này chính là thông qua các phương pháp để khôi phục đến một trạng thái tốt đẹp, tức là trạng thái trung chính bình hòa. Chữa trị của Đông y chính là như thế này:

Thứ nhất là điều thân. Sách Hoàng Đế Nội Kinh viết, thực thì tả mà hư thì bổ, không hỏi đến bệnh, chỉ cần cân bằng.

Thứ hai là điều tâm. Tâm bình thì khí hòa, điềm đạm hư vô thì có thể khiến chân khí theo về, chính khí tồn chứa trong thân thể, tà không thể xâm phạm được. Tinh thần giữ ở bên trong thân thể thì bệnh sao có thể xâm nhập vào được? Khi một người mà ngũ tạng, thất tình, khí huyết, âm dương điều hòa thì bách bệnh không thể sinh ra được.

Trung chính bình hòa trong âm nhạc

Cổ cầm là một nhạc cụ bộ dây sớm nhất, tương truyền do vua Phục Hy sáng tạo ra. Cổ cầm đứng đầu trong Tứ Nghệ "Cầm, Kỳ, Thư, Họa" trong văn hóa truyền thống phương Đông. Từ cổ xưa, chỗ ngồi của người quân tử thì bên trái luôn có đàn, bên phải ắt có sách. Cổ cầm có nội hàm văn hóa phong phú và sâu sắc, là báu vật của những văn nhân nhã sĩ hàng trăm hàng ngàn năm nay. Tinh túy của cổ cầm cũng chính là ở 'trung chính bình hòa'.

Kê Khang, một trong Trúc Lâm Thất Hiền đời Ngụy Tấn có nói: "Cổ cầm cảm ứng trời đất bởi đạt đến tận cùng của sự hài hòa". Người chơi cổ cầm an tọa tĩnh lặng, tâm không tạp niệm, thân không dính mắc ngoại vật, tâm không chứa thời gian. Khi đó chỉ có đàn, chỉ có người, chỉ có trời đất, chứa đựng tinh thần Thiên - Địa - Nhân hợp nhất. Thời cổ đại, bất kể là cầm hay trà thì đều ở trong tĩnh mà thấy được tự ngã, nuôi dưỡng tâm tính trung chính bình hòa.

Phần Nhạc Ký sách Lễ Ký có viết: "Nhạc là sự hài hòa của trời đất".

Sách Luận Ngữ viết: "Vui mà không phóng túng, buồn mà không bi thương". 

Quý Trát - đại phu nước Ngô thời Xuân Thu cho rằng, âm nhạc nên đạt đến "ngũ âm hài hòa, bát phong bình hòa, tiết tấu có mức độ, gìn giữ có trật tự". (Nguyên văn: "ngũ thanh hòa, bát phong bình, tiết hữu độ, thủ hữu tự").

Yến Anh, tể tướng nước Tề chủ trương nhạc khúc "trong đục, lớn nhỏ, dài ngắn, gấp chậm, vui buồn, cương nhu, cao thấp, xuất nhập, thưa dày đều phải phối hợp hài hòa lẫn nhau".

Kê Khang cho rằng mấu chốt của nhã nhạc và âm thanh phóng túng phân biệt ở chỗ trong nhã nhạc có tồn tại tinh thần bình hòa.

Các khúc nhạc cổ điển lưu truyền rộng rãi như Cao Sơn Lưu Thủy, Bình Sa Lạc NhạnU Lộ Vong Cơ... đều có đặc trưng bình hòa và điềm đạm.

Cổ cầm
Cổ cầm đứng đầu trong Tứ Nghệ "Cầm, Kỳ, Thư, Họa" trong văn hóa truyền thống phương Đông. (Ảnh: Epochtimes)

Các nhạc khúc truyền thống cổ điển, đại bộ phận là bộ khúc đơn thanh, không phải sự phối hợp giữa phần giai điệu chính, giai điệu phụ và hòa thanh. Thường là giai điệu đơn nhất triển khai ra, có tuần hoàn và lặp lại. Về âm điệu và giai điệu thường không có sự đối lập và trái ngược quá lớn của cao thấp, nhanh chậm, yếu mạnh, nhạc khúc từ đầu đến cuối luôn giữ phong cách ngâm tụng bình hòa ổn định, hướng nội, hàm súc và tươi mới như khúc Bình Hồ Thu Nguyệt, Dương Quan Tam Điệp

Ở khía cạnh kết cấu âm luật là hệ thống ngũ âm (cung, thương, giốc, chủy, vũ) không có bán âm tổ hợp thành khúc điệu. Nghe các khúc nhạc cổ, cảm thụ cơ bản là yên tĩnh, an hòa, nhẹ nhàng, thoải mái, giàu tình thơ ý họa.

Văn hóa lễ nhạc Nho gia cho rằng, âm nhạc trung chính bình hòa, mềm mại đôn hậu có thể tu dưỡng, điều hòa tính tình con người, khiến khí huyết bình hòa, tinh thần giữ được trạng thái hài hòa vui vẻ, từ đó đạt được sự an hòa và ổn định của quan hệ gia đình và quan hệ giao tiếp xã hội. 

Thế nên Nho gia nói: "Nhạc thịnh hành thì chí thanh khiết, lễ tu sửa thì hành sự thành công, tai mắt thông minh, khí huyết bình hòa, thay đổi phong tục tốt đẹp, thiên hạ đều yên bình, đó là nhạc khiến Mỹ và Thiện hài hòa, cuối cùng đạt đến cảnh giới cao nhất là 'Thiên - Nhân hợp nhất'" (con người hòa hợp thành nhất thể với thiên nhiên, với Trời Đất). 

Văn hóa Nho gia lấy âm nhạc làm nơi nghỉ ngơi yên vui của tinh thần, coi Nhạc là cảnh giới hoàn thành nhân cách, cũng chính là điều Khổng Tử nói: "Con người tu dưỡng thì bắt đầu ở học Kinh Thi, lập thân bởi học lễ, và hoàn thành, thành tựu bởi học nhạc". (Nguyên văn: "Hưng ư thi, lập ư lễ, thành ư nhạc").

Trung chính bình hòa trời đất rộng

Lão Tử nói: "Trị sửa quản lý quốc gia lớn như rán con cá nhỏ". (Nguyên văn: "Trị đại quốc nhược phanh tiểu tiên"). 

Quan niệm trung chính bình hòa xuyên suốt đủ các phương diện, từ tu tâm dưỡng tính cá nhân đến y học, âm nhạc cho đến kiến trúc và trị quốc bình thiên hạ.

trời đất
Trung chính bình hòa trời đất rộng. (Ảnh minh hoạ)

Mặt trăng quay quanh trái đất theo một quỹ đạo cố định. Trái đất quay quanh mặt trời theo quỹ đạo cố định. Mặt trời vận chuyển trong hệ Ngân Hà, cũng có một quỹ đạo cố định. Vạn sự vạn vật trong vũ trụ đều vận hành trật tự theo quy luật khách quan. Con người cũng vậy, làm được trung chính bình hòa thì chính là đang vận hành trên quỹ đạo, chính là đi trên con đường lớn quang minh. Lệch, xa rời trung chính bình hòa thì có thể là lệch khỏi quỹ đạo, cuối cùng thân tâm đều bị hủy diệt, hình thần toàn diệt.

Trung chính bình hòa là giá trị quan trác việt, hướng dẫn con người thuận ứng với lẽ Trời, lòng người. Đào Uyên Minh đời Đông Tấn từ quan về nhà, không những không ủ dột thối chí mà trái lại ông còn:

Giậu đông hái đóa cúc chơi, 

Nam Sơn núi biếc thảnh thơi ngắm nhìn...

Tại sao ông có thể làm được như vậy? Bởi vì ông đạt được tâm trung chính, khí bình hòa. 

Triều Bắc Tống có 2 tể tướng là Vương An Thạch và Tư Mã Quang, chính kiến trái ngược nhau nhưng lại có thể làm được "người quân tử hài hòa hòa hợp với mọi người nhưng vẫn giữ quan điểm riêng" (quân tử hòa nhi bất đồng), bởi vì họ đều được hun đúc trong văn hóa truyền thống trung chính bình hòa.

Gia tộc Phạm Trọng Yêm 800 năm không sa sút cũng bởi vì ông đã lấy trung chính bình hòa để quản lý gia đình, để truyền gia. 

Phạm Trọng Yêm
Phạm Trọng Yêm. (Ảnh: Wikipedia)

Người có thể làm được trung chính bình hòa, nếu kinh doanh lập nghiệp có thể hòa khí cát tường, hòa khí sinh tài; nếu quản lý một địa phương thì có thể khiến lễ nhạc hài hòa, trật tự rành mạch; nếu quản lý quốc gia thì có thể đắc thiên thời, được địa lợi, tụ hợp nhân hòa; nếu giao lưu quốc tế thì có thể bốn biển là nhà, vạn bang cùng vui vẻ, thiên hạ quy tâm.

Trở về với trung chính bình hòa là luôn giữ được tâm thái từ bi, an hòa, giống như nước "lợi ích cho vạn vật mà không tranh", cuối cùng thành tựu tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.

Trung Hòa
Theo Vương Hữu Quần - epochtimes.com



BÀI CHỌN LỌC